1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận án Lê Văn Hưng

201 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Bền Vững Vùng Tây Nguyên Hiện Nay - Thực Trạng Và Giải Pháp
Tác giả Lê Văn Hưng
Người hướng dẫn GS, TS Nguyễn Đăng Thành, TS Đoàn Trường Thụ
Trường học Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chính Trị Học
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 201
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực tế phát triển của đất nước, một vấn đề được quan tâm là sự nhận thức sâu sắc hơn về khả năng, điều kiện đảm bảo phát triển, phát triển bền vững ở Việt Nam, làm sao để có thể kết

Trang 1

LÊ VĂN HƯNG

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG TÂY NGUYÊN HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

LÊ VĂN HƯNG

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG TÂY NGUYÊN HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH TRỊ HỌC

Mã số: 62 31 02 01

Người hướng dẫn khoa học: 1 GS, TS NGUYỄN ĐĂNG THÀNH

2 TS ĐOÀN TRƯỜNG THỤ

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, trích dẫn trong luận án bảo đảm độ tin cậy, chính xác, trung thực và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả luận án

Lê Văn Hưng

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

1.2 Những vấn đề đặt ra hiện nay cần tiếp tục nghiên cứu 20

Chương 2: PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ

2.1 Phát triển bền vững - Khái niệm, nội hàm, tiêu chí 23 2.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về phát triển bền vững 31 2.3 Vai trò của Nhà nước và vai trò của thể chế với phát triển bền vững 36 2.4 Kinh nghiệm giải quyết vấn đề phát triển bền vững ở một số nước và

Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG TÂY

NGUYÊN TRONG NHỮNG NĂM QUA VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT

3.1 Khái quát về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội vùng Tây Nguyên 52 3.2 Thực trạng phát triển bền vững vùng Tây Nguyên trong những năm qua 56 3.3 Đánh giá chung về phát triển bền vững vùng Tây Nguyên thời gian qua 81 3.4 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế; những vấn đề đặt ra

cần thực hiện nhằm phát triển bền vững vùng Tây Nguyên trong

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC

GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 5

AN-QP : An ninh - quốc phòng BĐKH : Biến đổi khí hậu CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa DTTS : Dân tộc thiểu số

GDP : Tổng sản phẩm quốc nội GNP : Tổng sản phẩm quốc dân HTCT : Hệ thống chính trị KT-XH : Kinh tế - xã hội LHQ : Liên hiệp quốc PTBV : Phát triển bền vững

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển luôn là vấn đề lớn đối với các quốc gia, dân tộc và ở mọi thời đại

Từ thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI chúng ta đã chứng kiến sự thành công và cả sự thất bại từ phạm vi quốc gia đến phạm vi toàn cầu trong việc tìm lời giải cho sự phát triển của quốc gia, dân tộc Trong quá trình phát triển, con người cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên mà bản chất của nó là sự "đồng tiến hóa" hay chính là phát triển bền vững (PTBV)

Ở Việt Nam, hơn 30 năm qua, thực hiện đường lối Đổi mới do Đảng, Nhà nước ta khởi xướng, lãnh đạo, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường Cùng với xu thế chung của thế giới, vấn đề phát triển, PTBV được đặt ra ngay từ khi bắt đầu công cuộc Đổi mới Từ thực tế phát triển của đất nước, một vấn đề được quan tâm là sự nhận thức sâu sắc hơn về khả năng, điều kiện đảm bảo phát triển, phát triển bền vững ở Việt Nam, làm sao để có thể kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển, đặc biệt là vùng Tây Nguyên với vị trí địa lý và xã hội vô cùng quan trọng đối với an ninh quốc gia Sự kết hợp hài hòa đó là yêu cầu khách quan từ thực tiễn song, không có nghĩa là sự thống nhất đó tự nó sẽ diễn ra,

mà rất cần đến vai trò của chủ thể, mà trước hết là vai trò của Nhà nước trong việc tạo ra sự phát triển bền vững

Nhận thức được tầm qua trọng của phát triển bền vững, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã sớm đưa ra các quan điểm định hướng về sự phát triển bền vững cho đất nước Ngay từ trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta nhấn mạnh: "Tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền vững đi đôi với giải quyết các vấn đề bức xúc về xã hội" [54, tr.168] Quá trình nhận thức của Đảng về tầm quan trong của PTBV được phát triển theo từng giai đoạn phát triển của đất nước và ngày càng rõ hơn qua các kỳ Đại hội Tại Đại hội XII, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục đề cập ở mức độ cao hơn, nhiều hơn về PTBV Không chỉ thể hiện trong mục tiêu, PTBV còn là yêu cầu phải đảm bảo ngay trong từng bước đi, cách thức tạo dựng, thúc đẩy sự phát triển Đến năm 2020, Văn kiện Đại hội XII xác định phương hướng "Bảo đảm phát triển nhanh, bền vững trên cơ sở ổn định kinh tế vĩ

mô và không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh;

Trang 7

gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường" [62, tr.270] Phát triển hài hoà giữa chiều rộng và chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu; phát triển kinh tế tri thức, kinh tế xanh Đây là quan điểm chỉ đạo để các

cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa phương cụ thể hóa trong quá trình lãnh đạo, quản lý phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của từng ngành, từng địa phương Tây Nguyên - khu vực được xác định là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng

về kinh tế - xã hội, chính trị, quân sự của cả nước - gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Lâm Đồng, Đăk Nông; có diện tích 54.474km2 (bằng 16,8% diện tích cả nước, trải dài từ vĩ độ 11 đến vĩ độ 15 (vĩ độ Bắc) Dân số hơn 5,5 triệu người (chiếm hơn 6,1% dân số cả nước); có 47 thành phần dân tộc anh em (trong đó đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) tại chỗ có 1,5 triệu người)

Trên cơ sở đánh giá đúng vị trị chiến lược đặc biệt quan trọng của Tây Nguyên, từ sau ngày đất nước thống nhất đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã tập trung nhiều công sức và trí tuệ, phương tiện vật chất và có nhiều chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh ở đây [30] Điều này bước đầu đã làm thay đổi bộ mặt của Tây Nguyên trên các phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, giáo dục, y tế và đời sống của đồng bào các dân tộc, an ninh quốc phòng được đảm bảo

Tuy nhiên, trên bình diện chung, quá trình thực hiện các chính sách (kinh tế, văn hoá, dân tộc, tôn giáo, xã hội, tư tưởng, quốc phòng an ninh ) của Đảng, Nhà

nước ở các tỉnh Tây Nguyên vẫn bộc lộ nhiều khuyết điểm, tồn tại cần khắc phục,

thể hiện một cách rõ nét ở các phương diện: Kinh tế (vấn đề đời sống, đất đai, công

ăn việc làm, thu nhập ); chính trị - xã hội (vấn đề hệ thống chính trị cơ sở, vấn đề cán bộ, dân tộc, tôn giáo, quản lý trật tự ở nông thôn, ý thức pháp luật, tư tưởng, phân hoá giàu nghèo ); văn hoá - xã hội (vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống các dân tộc, giáo dục, y tế, nguồn nhân lực ); môi trường (vấn đề bảo vệ rừng, nguồn nước, tài nguyên ); quốc phòng - an ninh (vấn đề diễn biến hoà bình, biên giới, thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân ):

Tiềm lực, trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn ở mức thấp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội yếu kém và chưa đồng bộ; chất lượng nguồn nhân lực thấp Phát triển kinh tế chưa gắn với việc giải quyết tốt các vấn đề xã hội và củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc; chênh lệch giàu nghèo giữa

Trang 8

đô thị và nông thôn, giữa đồng bào Kinh với đồng bào DTTS ngày càng tăng, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS Quốc phòng, an ninh còn tiềm ẩn nhiều yếu tố mất ổn định, chưa giải quyết được căn bản về tư tưởng ly khai tự trị, tâm lý dân tộc hẹp hòi

ở một bộ phận đồng bào, nên còn điều kiện để cơ sở ngầm FULRO tồn tại và hoạt động Tình hình an ninh nông thôn, tranh chấp, khiếu kiện về đất đai, mâu thuẫn trong nhân dân còn phức tạp; nhiều vấn đề chưa được giải quyết tốt đã tác động đến quan hệ dân tộc, có nơi còn xảy ra xung đột, mâu thuẫn Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động bên ngoài vẫn tiếp tục lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để kích động chống phá chính quyền; chỉ đạo phục hồi tổ chức, phát triển lực lượng nhằm thành lập "Nhà nước Đề-Ga", gần đây hoạt động phát triển của tà đạo "Hà Mòn" ở Gia Lai, Kon Tum là rất đáng chú ý, nếu ta không giải quyết sớm

sẽ rất phức tạp về an ninh, trật tự [4, tr.6-11]

Vì vậy, để phát triển vùng Tây Nguyên toàn diện, bền vững, tại Kết luận số 12/KL-TW, ngày 24-10-2011 của Bộ Chính trị khóa XI về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 10/NQ-TW của Bộ Chính trị khóa IX, phát triển vùng Tây Nguyên thời kỳ 2011-2020 đã xác định:

Mục tiêu trong thời gian tới là xây dựng Tây Nguyên thành vùng kinh tế trọng điểm, có lực lượng sản xuất phát triển ở mức trung bình của cả nước, có tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế vững chắc Nâng cao đời sống văn hóa, trình độ dân trí của đồng bào các dân tộc; bảo đảm an sinh xã hội; sớm đưa nông thôn Tây Nguyên thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu để phát triển bền vững Tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; ngăn chặn, chủ động kịp thời làm thất bại âm mưu phục hồi tổ chức, phát triển lực lượng FULRO, "Tin lành Đề-Ga" và thành lập "Nhà nước Đề-Ga" [4, tr.6-11] Nhằm đánh giá một cách khách quan về thực trạng PTBV vùng Tây Nguyên thời gian qua, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp có căn cứ khoa học cho việc phát triển

Tây Nguyên theo hướng bền vững, tôi chọn đề tài "Phát triển bền vững vùng Tây

Nguyên hiện nay - Thực trạng và giải pháp" làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành

Chính trị học là có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn

Trang 9

2 Giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu

Với đề tài được lựa chọn, tác giả luận án xác định câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu như sau:

2.1 Giả thuyết nghiên cứu

Thứ nhất, phát triển bền vững là một quá trình phát triển toàn diện cả kinh

tế, văn hóa, xã hội, môi trường và vì sự phát triển của con người, đồng thời

không làm ảnh hưởng đến thế hệ tương lai Thứ hai, ngoài các tiêu chí có tính

chất trụ cột của PTBV như kinh tế, xã hội, môi trường; để vùng Tây Nguyên PTBV cần tính đến các yếu tố có tính "đặc thù" như vấn đề văn hóa, ổn định chính trị, an ninh - quốc phòng (AN-QP), dân tộc tôn giáo và cả yếu tố có tính

thể chế Thứ ba, với vị trí địa chính trị quan trọng và điều kiện tự nhiên, văn hóa

- xã hội có tính đặc thù, Nhà nước cần có những chính sách đặc biệt, những giải pháp hữu hiệu (những chính sách ưu tiên nổi trội, linh hoạt, sáng tạo hơn so với các địa phương khác trên cả nước) để đảm bảo vùng Tây Nguyên PTBV và đảm bảo lợi ích chung của đất nước

2.2 Câu hỏi nghiên cứu

- Cơ sở lý luận về phát triển bền vững, phát triển bền vững vùng, liên kết vùng, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về phát triển bền vững vùng Tây Nguyên trong thời gian qua?

Để trả lời câu hỏi này, luận án thiết kế khung lý thuyết chung về PTBV, nội dung của PTBV, lý thuyết về liên kết vùng, liên kết nội vùng và việc vận dụng vào điều kiện thực tiễn của nước ta, đặc biệt là điều kiện đặc thù của vùng Tây Nguyên Luận án cho rằng không có mô hình PTBV mang tính khuôn mẫu cho các quốc gia; mà tùy thuộc vào bối cảnh, tình hình thực tế, lựa chọn chính trị của chính phủ cầm quyền mà

có những điều chỉnh, quyết sách thích hợp Xu hướng chung của các nước trên thế giới

là Nhà nước, bằng quyền lực chính trị của mình điều chỉnh các chính sách quốc gia một cách phù hợp, tập trung nguồn lực ưu tiên cho những vùng nhạy cảm, trọng điểm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia như vùng Tây Nguyên, vùng Tây Bắc, vùng Tây Nam bộ, ban hành các cơ chế đặc thù để PTBV

- Vùng Tây Nguyên trong thời gian qua đã phát triển bền vững như thế nào? Những kết quả đạt được, hạn chế, bất cập? Vai trò của Nhà nước về những thành tựu và hạn chế? Nguyên nhân ?

Trang 10

Làm rõ câu hỏi này, luận án dựa vào kết quả điều tra, thống kê, phân tích, đánh giá về tình hình kinh tế, xã hội, môi trường, an ninh quốc phòng vùng Tây Nguyên trong thời gian qua; luận án phân tích, đánh giá về vai trò của Nhà nước trong việc ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù đối với vùng Tây Nguyên; những thành tựu, hạn chế trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Luận án cũng xác định việc nghiên cứu một cách cơ bản, tổng thể, toàn diện thực trạng liên kết nội vùng Tây Nguyên (trên các lĩnh vực quy hoạch tổng thể, xây dựng kết cấu hạ tầng KT-XH (đặc biệt là hạ tầng giao thông); trên lĩnh vực kinh tế (nông, lâm nghiệp; trên lĩnh vực du lịch; trên lĩnh vực xúc tiến đầu tư và liên kết giữa các doanh nghiệp; trên lĩnh vực ứng dụng khoa học công nghệ….); trên lĩnh vực chính trị (hệ thống chính trị, dân tộc, tôn giáo; an ninh quốc phòng và thể chế chính trị…) để định hướng, đề ra các giải pháp liên kết nội vùng Tây Nguyên là rất cần thiết

- Với vị trí trọng yếu của Tây Nguyên về địa chính trị, tự nhiên, xã hội, an ninh - quốc phòng, những yếu tố nào tác động đến phát triển bền vững vùng Tây Nguyên và giải pháp nào được đề ra để đảm bảo vùng Tây Nguyên phát triển bền vững trong thời gian tới ?

Thông qua việc phân tích, đánh giá tình hình các mặt về kinh tế, văn hóa - xã hội, tài nguyên, môi trường, an ninh quốc phòng và liên kết vùng, liên kết nội vùng Tây Nguyên cùng với sự tác động của tình hình thế giới, sự biến đổi khí hậu… để

dự báo những thuận lợi, khó khăn và đề xuất các giải pháp có tính đặc thù để từng bước đưa Tây Nguyên PTBV, trở thành vùng động lực phát triển kinh tế của cả nước trong thời gian tới

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu tổng quan về tình hình nghiên cứu của các học giả, tác giả trong

và ngoài nước về những vấn đề liên quan đến đề tài luận án

- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của phát triển bền vững và vai trò của nhà nước, thể chế với phát triển bền vững

Trang 11

- Tiến hành khảo sát, điều tra, thu thập số liệu để phân tích, đánh giá thực trạng phát triển KT-XH vùng Tây Nguyên từ năm 2002 đến nay (trên các lĩnh vực: quy hoạch tổng thể, xây dựng kết cấu hạ tầng KT-XH (đặc biệt là hạ tầng giao thông); phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, quản lí sử dụng tài nguyên và môi trường, AN-QP, dân tộc tôn giáo và thể chế, liên kết vùng ở Tây Nguyên Đánh giá kết quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân

- Đề xuất quan điểm, giải pháp phát triển bền vững vùng Tây Nguyên trong thời gian tới nhằm từng bước đưa Tây Nguyên trở thành vùng động lực phát triển kinh tế của cả nước

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn về

sự PTBV vùng Tây Nguyên Góc độ tiếp cận và giải quyết các nội dung nghiên cứu của luận án là dưới góc độ Chính trị học và các khoa học liên ngành Chính sách công, Chính trị học phát triển (chủ yếu là trên phương diện tổ chức thực hiện chính sách)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: 5 tỉnh Tây Nguyên

- Về thời gian: Luận án nghiên cứu thực trạng phát triển KT-XH vùng Tây

Nguyên (từ năm 2002 đến nay) và đề xuất giải pháp nhằm phát triển bền vững vùng Tây Nguyên trong thời gian tới

- Về nội dung khoa học: Luận án tập trung nghiên cứu các nội dung trụ cột

có tính phổ biến của phát triển bền vững (như kinh tế, văn hóa - xã hội, môi trường)

và các nội dung có tính đặc thù (như hệ thống chính trị, an ninh - quốc phòng, dân tộc, tôn giáo và vấn đề thể chế, liên kết vùng)

5 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về phát triển bền vững Đồng thời, vận dụng lý thuyết về khoa học Chính trị học, kế thừa các nghiên cứu của ngành khoa học triết học, kinh tế và các

dữ liệu thu thập phản ảnh thực tiễn vấn đề cần nghiên cứu tại địa phương

Trang 12

5.2 Nguồn tư liệu

- Tư liệu thứ cấp: Các tài liệu, các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo

đã công bố của các nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài liên quan đến đề tài luận án

- Tư liệu cấp ba: Các Văn kiện Đại hội Đảng và các Nghị quyết của Ban

Chấp hành Trung ương; các văn bản pháp quy của Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, các ngành; các Báo cáo tổng kết của Ban Chỉ đạo Tây Nguyên và các tỉnh Tây Nguyên có liên quan đến luận án

5.3 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

- Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết: Phương pháp này tác

giả chủ yếu sử dụng tập trung ở Chương 1 để trình bay tổng quan về tình hình nghiên cứu của các học giả, tác giả trong và ngoài nước về những vấn đề liên quan đến đề tài luận án về phát triển bền vững, phát triển bền vững ở nước ta và phát triển bền vững ở Tây Nguyên theo thời gian, không gian Nguồn tư liệu để phân loại

và hệ thống hóa là các công trình nghiên cứu (sách chuyên khảo, giáo trình, bài viết trên các tạp chí, luận án ) đã công bố của các nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài liên quan đến đề tài luận án; Các Văn kiện Đại hội Đảng và các Nghị quyết chuyên đề của Ban Chấp hành Trung ương; các văn bản pháp quy của Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, các ngành; các Báo cáo tổng kết của Ban Chỉ đạo Tây Nguyên

và các tỉnh Tây Nguyên có liên quan đến luận án

- Phương pháp tổng hợp, phân tích và thống kê: Phương pháp này được tác

giả sử dụng nhiều ở hầu hết tại các chương của luận án, nhằm tổng hợp thông tin từ các số liệu thứ cấp, sơ cấp từ các nguồn đáng tin cậy và phân tích, đánh giá thực trạng phát triển KT-XH vùng Tây Nguyên từ năm 2002 đến nay (trên giác độ phát triển bền vững)

- Phương pháp phỏng vấn, chuyên gia: Tác giả đã trực tiếp trao đổi, tham

khảo ý kiến của các lãnh đạo ở Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, Cục An ninh Tây Nguyên, lãnh đạo các tỉnh Tây Nguyên; quý thầy cô giáo, các cán bộ khoa học ở Học viện Chính trị khu vực III, Đại học Tây Nguyên, Viện nghiên cứu KT-XH vùng Tây Nguyên…

Trang 13

-Phương pháp xử lý thông tin, số liệu: Các thông tin, số liệu thu thập được sẽ

sử dụng phần mềm EXCEL để xử lý nhằm đáp ứng thông tin cần thiết cho nhu cầu nghiên cứu của luận án

6 Những đóng góp về mặt khoa học của luận án

- Luận án trình bày khái niệm, căn cứ đánh giá PTBV vùng Tây Nguyên từ cách tiếp cận của Chính trị học dựa trên hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trước đó, các quan niệm khác nhau về PTBV

- Từ khung lý thuyết về PTBV vùng Tây Nguyên, luận án khảo sát, phân tích và đưa ra những nhận xét về thực trạng PTBV ở Tây Nguyên hiện nay Luận án đánh giá PTBV vùng Tây Nguyên trên 4 trụ cột chính là: kinh tế, xã hội, môi trường và AN-QP (bổ sung thêm trụ cột thứ 4 là AN-QP đối với vùng Tây Nguyên)

- Luận án đánh giá vai trò của yếu tố thể chế đối với PTBV vùng Tây Nguyên trên các phương diện kinh tế, xã hội, môi trường và AN-QP

- Luận án chỉ ra những hạn chế trong PTBV vùng Tây Nguyên thời gian qua

và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hơn nữa vai trò Nhà nước để đảm bảo PTBV vùng Tây Nguyên trong thời gian tới

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Về lý luận, luận án hệ thống hóa một số công trình nghiên cứu trong, ngoài

nước về PTBV và đưa ra các quan niệm về PTBV ở nước ta; nội dung và kết quả của luận án góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về PTBV nói chung, PTBV vùng Tây Nguyên nói riêng

Về thực tiễn, những kết luận của luận án được nghiên cứu trên cơ sở lý luận

khoa học, cách tiếp cận rõ ràng Luận án phân tích, đánh giá thực trạng PTBV vùng Tây Nguyên trong thời gian qua, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa vai trò Nhà nước đối với PTBV vùng Tây Nguyên trong thời gian tới Trong 3 trụ cột của PTBV vùng (kinh tế, xã hội, môi trường), với đặc thù vùng Tây Nguyên

về địa chính trị, luận án đã đề xuất trụ cột thứ 4 cần quan tâm đến là AN-QP trong PTBV vùng Tây Nguyên Để PTBV vùng Tây Nguyên, luận án tập trung phân tích, đánh giá và đưa ra các giải pháp xuyên suốt 4 trụ cột này

- Kết quả của đề tài sẽ được chuyển giao cho các địa phương trên địa bàn Tây Nguyên áp dụng vào việc hoạch định và tổ chức thực hiện những chính sách phát triển KT-XH theo hướng bền vững nói chung và liên kết vùng nói riêng Là cơ

Trang 14

sở khoa học để các cơ quan chuyên môn quy hoạch PTBV vùng trong quy hoạch PTBV quốc gia

- Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng sẽ là tư liệu cho các địa phương trên cả nước nghiên cứu, học tập về kinh nghiệm phát triển bền vững vùng Tây Nguyên

Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của đề tài cũng sẽ là tư liệu để các cơ quan

nghiên cứu (Học viện, Viện nghiên cứu, các trường Đại học …) vận dụng vào công tác nghiên cứu và giảng dạy

8 Kết cấu luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận

án gồm có 4 chương, 12 tiết

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

1.1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận về phát triển bền vững

1.1.1.1 Các công trình ở nước ngoài

Hội nghị quốc tế (Hội nghị quốc tế về môi trường và con người năm 1972 (ở

thủ đô Stockholm của Thụy Điển: Đây là hội nghị quốc tế đầu tiên của nhân loại bàn về phát triển kinh tế gắn với bảo vệ và cải thiện môi trường sống Lúc đầu, Hội nghị này chỉ thể hiện mối quan tâm đối với bền vững về môi trường; nhưng về sau các nhà khoa học đã nhận ra rằng, để đạt được sự bền vững môi trường, không thể không chú ý đến việc phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội khác

Tiếp theo đó là: "Báo cáo tương lai của chúng ta" của Ủy ban Quốc tế về Môi

trường và phát triển thế giới [157] đã chỉ ra một quan niệm khá toàn diện và mang tính định hướng cho các nghiên cứu về PTBV của các nhà khoa học sau này

Hội nghị Thượng đỉnh về môi trường và phát triển được Liên Hiệp quốc (LHQ) tổ chức ở Rio de Janeiro (Brazil) năm 1992 (gọi tắt là Hội nghị Rio-9roxp) Ở hội nghị này, các nhà lãnh đạo có vai trò hoạch định chính sách và các nhà khoa học đã thảo luận và đi đến thống nhất khái niệm phát triển bền vững: Sự phát triển KT-XH lành mạnh, dựa trên việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu của thế hệ con người hiện nay và không ảnh hưởng bất lợi đối với các thế

hệ tương lai trong việc thỏa mãn những nhu cầu của họ

Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Môi trường và Phát triển được LHQ tổ chức năm 2002 tại Johannesburg (Nam Phi); Hội nghị thượng đỉnh LHQ về phát triển bền vững (Hội nghị Rio+20 diễn ra từ ngày 20/6 đến 23/6/2012 tại Rio de Janeiro - Brazil) năm 2012 …): Ở hai hội nghị này khái niệm PTBV được xác định

là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường

Hội nghị Đại hội đồng Liên minh Nghị viện Thế giới 132 (IPU - 132) năm

2015 chỉ rõ sự phát triển bền vững phải dựa trên ba trụ cột tăng trưởng kinh tế, môi trường được bảo vệ và công bằng, tiến bộ xã hội; cần nâng cao vai trò của Quốc hội

và các vị đại biểu Quốc hội thông qua việc ban hành, sửa đổi, bổ sung những văn bản

Trang 16

pháp luật liên quan trực tiếp đến việc thúc đẩy thực hiện mục tiêu phát triển bền vững; tiếp tục mở rộng và thúc đẩy thiết lập mối quan hệ đối tác toàn cầu được xây dựng dựa trên việc xây dựng lòng tin và quyết tâm của các Quốc hội vì mục tiêu phát triển bền vững [135, tr.2]

Dưới góc độ các nghiên cứu, có thể kể đến những công trình tiêu biểu như:

"Phản phát triển - cái giá của Chủ nghĩa tự do" của R.Bergeron [26]."Phát triển là

quyền tự do" của Amrty Sen [114] "Regional Economics" (Kinh tế khu vực) của

Capello, R [178] "Ecological Economics and Sustainable Development: Selected

Essays of Herman Daly" (Kinh tế sinh thái và phát triển bền vững: Các bài luận

chọn lọc của Herman Daly) của Daly, Herman E [179]."An Overview of the

Schwartz Theory of Basic Values" (Tổng quan lý thuyết của Schwartz về giá trị cơ

bản) của Schwartz, S H [191] "VietNam’s Sustainable Development Policies: Vision

VS Implementation" (Chính sách phát triển bền vững của Việt Nam: Thực hiện Tầm

nhìn VS) của Debra Lam [181]; "Statistics for Sustainable Development" (Thống kê

cho sự phát triển bền vững) của Maho Mina d’s Ercole [187]

Các công trình này tập trung nghiên cứu quan niệm về phát triển bền vững Phát triển không chỉ được xem như quá trình phát triển kinh tế, mà đã xử lý tốt các vấn đề xã hội, và bảo vệ môi trường, nhằm đảm bảo đời sống con người ngày càng sung túc hơn cả về vật chất và tinh thần, kinh tế, xã hội và văn hoá, tâm linh các

hệ giá trị, đặc biệt gắn với truyền thống, thường có độ trễ lớn trong việc tái định hình Tuy nhiên, do đó các đánh giá về mối quan hệ giữa con người với con người

và với tự nhiên không phải lúc nào cũng theo kịp quan niệm mới về phát triển Vì vậy, mặc dù phản ánh những điều đáng mong ước của một cá nhân, nhóm hay cộng đồng, giá trị có thể không hướng tới sự phát triển như một khái niệm phổ quát mà phải cụ thể hóa để tương thích với điều kiện tự nhiên xã hội và văn hóa cũng như

lịch sử phát triển của từng vùng

1.1.1.2 Các công trình ở trong nước

"Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam" (Chương trình nghị

sự 21 của Việt Nam) được phê duyệt bởi Quyết định 153/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ [131] xác định phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế, phát triển xã hội (thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải

Trang 17

quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý

và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên)

"Chính trị và phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế - những vấn đề lý luận và thực tiễn" của Học viện Báo chí và Tuyên truyền,

Viện Friedrich Ebert [79] Với gần 100 tham luận của các nhà khoa học trong và ngoài nước; hội thảo đã thảo luận những nội dung: Phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế - những thời cơ và thách thức; vai trò của chính trị đối với sự phát triển bền vững nhìn từ thực tiễn đổi mới ở Việt Nam

"Phát triển bền vững ở Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của

Hoàng Đình Cúc [40] Bài viết đã luận chứng để làm rõ việc thực hiện chiến lược PTBV ở Việt Nam trong thời gian qua Bài viết cho rằng, ngoài những thành tựu to lớn đã đạt được, chúng ta cũng đang phải đối mặt với một số vấn đề cơ bản nảy sinh trong tiến trình phát triển đất nước Nền kinh tế có sự tăng trưởng nhưng chưa thật

sự bền vững; Chưa thực hiện thật tốt việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội; Nguy cơ ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất và luận giải một số biện pháp chủ yếu nhằm góp vào việc giải quyết một cách hiệu quả những vấn đề đặt ra nêu trên

"Kinh nghiệm một số nước về phát triển kinh tế bền vững và bài học cho Việt

Nam" của Nguyễn Hữu Sở [118] Bài viết phân tích những thành tựu và kinh

nghiệm phát triển kinh tế của một số nước (Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc) và có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau đây: Một là, kiên trì mô hình kinh tế thị trường mở và hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế; Hai là, điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế theo hướng "rút ngắn"; Ba là, xác định đúng đắn vị trí đặc biệt quan trọng của ngành nông nghiệp; Bốn là, cải cách và phát triển hệ thống tài chính

- tiền tệ quốc gia; Năm là, cần hoạch định chính sách cơ cấu ngành kinh tế quốc gia theo hướng khai thác có hiệu quả nguồn lực bên trong và bên ngoài; Sáu là, thực hiện ổn định kinh tế vĩ mô, cung cấp các kết cấu hạ tầng tốt, tạo môi trường pháp lý

rõ ràng, nhất quán, bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế hoạt động kinh doanh; Bảy là, để cho sự phát triển kinh tế được bền vững, việc xây dựng và phát triển kinh

tế của Việt Nam phải có tính toán kỹ, phải căn cứ vào tình hình nguồn tài nguyên và trình độ phát triển mà định ra chiến lược chung

Trang 18

"Phát triển bền vững ở Việt Nam: Tiêu chí đánh giá và định hướng phát

triển" của Phạm Thị Thanh Bình [29] đã trình bày một cách khái quát quan niệm về

PTBV; Tiêu chí của PTBV bao gồm PTBV về kinh tế là phát triển nhanh và an

toàn, chất lượng, PTBV về xã hội được đánh giá bằng các tiêu chí, như HDI, hệ số

bình đẳng thu nhập, các chỉ tiêu về giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, hưởng thụ văn

hóa, PTBV về môi trường Tình hình PTBV ở Việt Nam và định hướng mục tiêu

phát triển kinh tế bền vững giai đoạn 2016 - 2020 của Việt Nam

Như vậy, liên quan đến các vấn đề lý luận về PTBV, các Hội nghị quốc tế, các học giả đã tập trung vào làm rõ nội hàm khái niệm PTBV dưới các góc độ tiếp cận khoa học khác nhau Ngoài ra còn tập trung vào làm rõ các yếu tố đảm bảo cho PTBV Chủ yếu, tập trung vào 3 yếu tố trọng tâm: Phát triển kinh tế; Bảo đảm công bằng; Bảo vệ môi trường Một số tác giả đã tìm hiểu kinh ngiệm phát triển bền vững

ở một số quốc gia trên thế giới Một số tác giả cũng bước đầu chỉ ra các tiêu chí để đánh giá sự PTBV ở Việt Nam Những kết quả này tác giả có thể kế thừa để xây dựng khuôn khổ lý thuyết ở chương 2 của luận án

1.1.2 Nhóm các công trình liên quan đến phát triển bền vững ở Việt Nam

"Phát triển bền vững ở Việt Nam- thành tựu, cơ hội, thách thức và triển

vọng" của Nguyễn Quang Thái, Ngô Thắng Lợi [122] Cuốn sách dày 483 trang đã

khái quát hóa quan niệm về PTBV; tiêu chí của PTBV; chiến lược PTBV của Việt Nam và những thành tựu trên các phương diện kinh tế, văn hóa, môi trường, thể chế Đồng thời; tác giả cũng nêu lên những cơ hội và thách thức trong việc đảm bảo phát triển KT-XH theo hướng bền vững ở nước ta hiện nay

"Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững ở Việt Nam" của

Lê Xuân Bá [2] Đề tài đã trình bày những lí luận về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và PTBV; mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và PTBV; thực trạng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và PTBV ở Việt Nam; giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hướng đến PTBV

"Nguồn lực và động lực cho phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế Việt

Nam trong giai đoạn 2011 - 2020" của Ngô Doãn Vịnh [173] Cuốn sách đề cập

những vấn đề liên quan đến nguồn lực và động lực cho sự phát triển như: đất đai, tài nguyên thiên nhiên, nhân lực, vốn, khoa học - công nghệ, văn hóa, cơ chế thị trường, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, cơ chế kích thích lợi ích kinh tế, cơ chế

Trang 19

cạnh tranh; phân tích các nội dung về nhận thức, chủ trương, các biện pháp đã thực thi và kết quả huy động, sử dụng đối với mỗi loại nguồn lực; làm rõ những nguyên nhân chủ yếu của những thành tựu và hạn chế, những bài học kinh nghiệm thành công và chưa thành công Ngoài ra, cuốn sách còn đề cập đến một vấn đề quan trọng là phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế trong tương quan với sử dụng các nguồn lực và tạo dựng, duy trì động lực của Việt Nam đến năm 2020 cũng như có những định hướng trong việc huy động và sử dụng nguồn lực Từ đó, đề xuất các giải pháp để huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; các kiến nghị bảo đảm nguồn lực và động lực cho phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020

"Phát triển bền vững ở Việt Nam" của Vũ Văn Hiền [76] đã trình bày một

cách khái quát quan niệm về PTBV; chiến lược PTBV của Việt Nam và những kết quả ban đầu trên các phương diện kinh tế, văn hóa, môi trường Tác giả cũng nêu lên những vấn đề đặt ra và ba khâu đột phá cần giải quyết là vấn đề hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, chất lượng giáo dục và đào tạo, xây dựng pháp luật và chính sách bảo vệ môi trường

Có thể thấy, các công trình trên đã khái quát những thành tựu và hạn chế trong quá trình phát triển những năm qua ở Việt Nam Các tác giả đã nhìn nhận một cách tổng thể về hiện trạng như các nguồn lực cho PTBV, những chính sách đảm bảo cho PTBV và đưa ra dự báo, phương hướng nhằm bảo đảm cho PTBV ở Việt Nam những năm tới Những kết quả này sẽ được tác giả tham khảo và phát triển ở chương 2, chương 3 và chương 4 của luận án

1.1.3 Nhóm các công trình liên quan đến phát triển bền vững vùng Tây Nguyên

1.1.3.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực phát triển kinh

tế - xã hội vùng Tây Nguyên

"Nghiên cứu cơ sở lý thuyết cho việc xác định các ưu tiên trong phát triển bền

vững vùng kinh tế" của Hà Hữu Nga [99] Đề tài làm rõ được một loạt khái niệm công

cụ lý thuyết chủ chốt như: khan hiếm, tăng trưởng, lợi thế so sánh và liên kết, PTBV; mối quan hệ giữa khan hiếm và tăng trưởng; quan hệ giữa khan hiếm, tăng trưởng và PTBV; vai trò của khoa học và công nghệ trong việc tạo ra khả năng thay thế các nguồn khan hiếm; cơ sở để xác định các ưu tiên quản lý, bảo tồn, khai thác, sử dụng, và phân bổ các nguồn khan hiếm vì mục tiêu PTBV Đề tài đã làm rõ thêm định nghĩa

Trang 20

vùng kinh tế, các quan niệm về vùng kinh tế của quốc tế và của Việt Nam; làm rõ thêm nhiều vấn đề liên quan đến PTBV vùng kinh tế; xác định được phương thức phát triển vùng kinh tế là phát triển hài hoà giữa các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, con người, văn hoá và thể chế; phân tích rõ vai trò của các vấn đề xã hội, văn hóa gắn liền với tính bền vững vùng kinh tế; đề xuất được hệ quan điểm ưu tiên PTBV làm khung lý thuyết cho việc tổ chức thực hiện Agenda 21 của các địa phương ở Việt Nam; và đề xuất khung chương trình xác định các ưu tiên trong PTBV vùng kinh tế, đóng góp vào việc hoạch định chiến lược phát triển KT-XH vùng kinh tế Bắc Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung

"Thực trạng phát triển Tây Nguyên và một số vấn đề phát triển bền vững"

của Bùi Minh Đạo [65] Cuốn sách phân tích thực trạng phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, bảo vệ môi trường, phát hiện những vấn đề PTBV và đề xuất một số kiến nghị, giải pháp làm cơ sở khoa học góp phần xây dựng chính sách và quy hoạch PTBV vùng Tây Nguyên giai đoạn 2011 - 2020

"Phát triển nhanh và bền vững kinh tế - xã hội khu vực duyên hải miền Trung

và Tây Nguyên" của Đại học Đà Nẵng [63] (với các bài viết của Ngô Văn Hà, Quan

điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nhanh và bền vững Lâm Bá Hòa - Trần Danh Nhân, Những nguyên tắc cơ bản của PTBV ở Việt Nam hiện nay Bùi Đức Hùng, Tiêu chí đánh giá sự PTBV cấp vùng ở Việt Nam…); quan điểm PTBV được nêu trong Hội nghị RIO+20, Cam kết chung về các vấn đề sinh tồn [49, tr.44-46] … Nhìn chung các công trình nghiên cứu nói trên đã bàn luận nhiều đến lý luận chung về PTBV; kinh nghiệm của các nước về PTBV; những vấn đề PTBV ở Việt Nam

"Phát triển Tây Nguyên toàn diện, bền vững" của Lê Hồng Anh [1] Bài viết

chỉ rõ, sau 10 năm thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về phát triển KT-XH

và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên đã đạt được những thành tựu to lớn, khá toàn diện về mọi mặt, có ý nghĩa chiến lược quan trọng đối với sự phát triển chung của đất nước Tuy nhiên, bên cạnh thành tựu, phát triển KT-XH Tây Nguyên vẫn chưa theo hướng bền vững Do vậy, Tây Nguyên cần tiếp tục tập trung phối hợp làm tốt công tác xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ Kết hợp chặt chẽ phát triển KT-XH, gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh; phát huy thế mạnh về các mặt kinh

tế chủ lực như nguồn tài nguyên rừng, thủy điện, các loại cây cao su, cà phê… để

Trang 21

tạo thế phát triển nhanh và bền vững kinh tế vùng Tây Nguyên Tăng cường phát triển KT-XH, gắn với việc giải quyết nhanh và bền vững các vấn đề an sinh xã hội, đảm bảo ổn định an ninh, quốc phòng, để đưa Tây Nguyên trở thành vùng kinh tế lớn của cả nước

"Phát triển kinh tế - xã hội đặc thù vùng Tây Nguyên: Những vấn đề cốt yếu

và giải pháp" của Ban Chỉ đạo Tây Nguyên [16] Với 21 tham luận trên các lĩnh

vực cơ cấu kinh tế, kinh tế trang trại, doanh nghiệp, đô thị, nông nghiệp - nông thôn

- nông dân, tài nguyên, đất đai, môi trường, dân số và di dân, văn hóa, giáo dục đào tạo, hệ thống chính trị cơ sở, an ninh quốc phòng…

"Phát triển Kinh tế Tây Nguyên theo hướng bền vững" của Viện Kinh tế Việt

Nam [168] Hội thảo có nhiều tham luận, trong đó có 3 tham luận đánh giá tổng quan: Tham luận "Tái cơ cấu kinh tế Tây Nguyên theo hướng PTBV" của Bùi Quang Tuấn; "Vấn đề quản lý và sử dụng đất đai ở Tây Nguyên" của Vũ Tuấn Anh;

"Phát triển doanh nghiệp ở Tây Nguyên" của Nguyễn Trọng Xuân… đã đề cập đến các giải pháp tái cơ cấu kinh tế, quản lý và sử dụng đất đai, phát triển doanh nghiệp Tây Nguyên theo hướng bền vững

"Phát triển kinh tế Tây Nguyên theo hướng bền vững" của Viện Hàn lâm Khoa

học xã hội Việt Nam [161] Hội thảo đã thảo luận các nội dung: Tái cơ cấu kinh tế Tây Nguyên theo hướng PTBV; Vấn đề quản lý và sử dụng đất đai ở Tây Nguyên; Phát triển doanh nghiệp ở Tây Nguyên và đề xuất các giải pháp để PTBV vùng Tây Nguyên Đây là yếu tố quan trọng góp phần vào sự ổn định chung của đất nước trong

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế

"Hướng tới phát triển bền vững Tây Nguyên" của Lê Văn Khoa, Phạm

Quang Tú [91] Cuốn sách đã trình bày các nội dung: Cơ sở lý luận về PTBV vùng; đặc điểm tự nhiên, lịch sử, xã hội vùng Tây Nguyên; cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên; phát triển kinh tế, quản lý, sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường; giải phát phát triển KT-XH Tây Nguyên theo hướng bền vững

"Một số giải pháp phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm miền Trung"

của Lê Văn Đính, Phan Thăng An [68], cuốn sách đã phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp PTBV vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Đặc biệt, ở chương 1 tác giả đã khái quát hóa cơ sở lý luận và thực tiễn PTBV, PTBV vùng ở nước ta - quan niệm, tiêu chí, nội dung

Trang 22

"Liên kết phát triển Kinh tế vùng Tây Nguyên" của Ban Chỉ đạo Tây Nguyên,

Ban Kinh tế Trung ương, Thời báo Kinh tế Việt Nam [18] Hội thảo đã nhận được gần 30 bài báo cáo nghiên cứu và tham luận tại 03 phiên chuyên đề và 01 phiên toàn thể Các bài báo cáo, tham luận đều tập trung phân tích những lợi thể so sánh, những bật cập còn tồn tại đối với vấn đề hạ tầng giao thông, du lịch và chuỗi giá trị nông nghiệp cũng như hiện trạng việc liên kết phát triển trong từng lĩnh vực, ngành hàng này của các tỉnh vùng Tây Nguyên Với mong muốn Tây Nguyên phát huy được sức mạnh, tiềm năng sẵn có xứng với vị thế quan trọng của khu vực, Hội thảo được tổ chức nhằm mục tiêu làm sáng tỏ những vấn đề cần giải quyết trong phát triển KT-XH

và đảm bảo an ninh, quốc phòng cho vùng Tây Nguyên; xây dựng luận cứ, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp liên kết phát triển Tây Nguyên trên các lĩnh vực, sản phẩm và ngành hàng

Nhìn một cách tổng quát, có thể nhận thấy rằng, các công trình trên, mỗi công trình đã đi vào từng vấn đề cụ thể về phát triển KT-XH vùng và vùng Tây Nguyên Mỗi công trình tiếp cận dưới những góc nhìn khoa học khác nhau để tạo nên một cái nhìn về Tây Nguyên đầy màu sắc trong tổng thể phát triển nói chung, trong lĩnh vực KT-XH nói riêng Các kết quả nghiên cứu này, tác giả có thể kế thừa vào các nội dung liên quan đến phân tích thực trạng, giải pháp cho PTBV ở Tây Nguyên

1.1.3.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến tài nguyên - môi trường vùng Tây Nguyên

"Tăng trưởng xanh khu vực miền Trung - Tây Nguyên: Thực tiễn và những vấn đề đặt ra" của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Khoa học xã

hội Vùng Trung bộ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị khu vực III [162] Trong 50 tham luận bàn về vấn đề tăng trưởng xanh khu vực miền Trung - Tây Nguyên, liên quan đến liên kết nội vùng Tây Nguyên có các tham luận: "Liên kết địa phương bảo vệ tài nguyên và môi trường trong phát triển kinh tế" của Nguyễn Ngọc Khánh, Nguyễn Hồng Anh, "Một số giải pháp tạo sức bậc cho du lịch Tây Nguyên" của Nguyễn Duy Thụy, "Hướng tới sự phát triển du lịch bền vững ở Tỉnh ĐăkLăk hiện nay" của Đoàn Tuấn Anh

"Khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên

giai đoạn 2011-2015" của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam [163] Đây là

chương trình khoa học mang tính liên ngành, với sự phối hợp thực hiện giữa Viện

Trang 23

Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam, nhằm PTBV Tây

Nguyên trong giai đoạn mới Đề tài đã nêu bật được tổng thể về hiện trạng tài

nguyên thiên nhiên (đất, nước, khí hậu, rừng, khoáng sản…) của Tây Nguyên trên quan điểm PTBV Trong đó, nhóm đề tài liên quan đến tài nguyên thiên nhiên cũng

đã đưa ra các giải pháp khai thác, sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên theo hướng bền vững Nhóm đề tài khoa học xã hội chuyển giao các kết quả đánh giá và đề xuất giải pháp về: mô hình phát triển kinh tế, quản lý đất đai, vấn đề dân tộc, tôn giáo, văn hóa, quốc phòng - an ninh…kịp thời phục vụ việc hoạch định chính sách, chiến lược phát triển kinh tế, xã hội Tây Nguyên giai đoạn 2016 - 2020 và tầm nhìn 2030

Các công trình này đã cung cấp một cách nhìn khá toàn diện về hiện trạng khai thác tài nguyên, môi trường ở các tỉnh Tây Nguyên thời gian qua Đồng thời cũng gợi

mở một số đề xuất, giải pháp để đảm bảo khai thác tài nguyên môi trường gắn với phát triển KT-XH ở Tây Nguyên Đây sẽ là các dữ liệu bổ ích để tác giả khai thác phục vụ cho nghiên cứu các nội dung liên quan trong luận án

1.1.3.3 Các công trình liên quan đến văn hóa, giáo dục, an ninh - quốc phòng vùng Tây Nguyên

"Phát triển Tây Nguyên toàn diện, bền vững, xứng đáng với vị trí chiến lược

đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái của đất nước" của Trần Đại Quang [112] Bài phát biểu chỉ rõ, thời gian qua Tây

Nguyên đã và đang giữ vững ổn định chính trị, xã hội và đạt được nhiều kết quả Kinh tế Tây Nguyên giữ được mức tăng trưởng khá, bảo đảm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo đúng mục tiêu, yêu cầu đề ra Công tác hỗ trợ sản xuất, giải quyết những vấn đề về đất đai, việc làm, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm chỉ đạo Tuy nhiên, những thành tựu, kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của Tây Nguyên và còn một số hạn chế, yếu kém Để Tây Nguyên phát triển nhanh, bền vững, xứng đáng với vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về KT-XH, quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái của đất nước, các cấp

ủy Đảng, chính quyền các tỉnh Tây Nguyên cần chú ý thực hiện một số giải pháp: Tập trung chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ phát triển KT-XH, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần đối với đồng bào dân tộc thiểu số Phát triển văn hóa, giáo dục, ưu tiên vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa và địa bàn biên giới

Trang 24

Bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, xã hội Thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở

trong sạch, vững mạnh

"Sự biến đổi các giá trị xã hội truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu

số ở Tây Nguyên hiện nay" của Nguyễn Ngọc Hòa [78] Đề tài đã phân tích thực

trạng biến đổi các giá trị xã hội truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay và đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị xã hội truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên

"Hội nghị xúc tiến đầu tư Tây Nguyên lần thứ 2" của Ban Chỉ đạo Tây

Nguyên, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước, Trung tâm xúc tiến đầu tư,

Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai [13]; "Hội nghị xúc tiến đầu tư và an sinh xã hội Tây

Nguyên lần thứ 3" của Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân

hàng Nhà nước, Trung tâm xúc tiến đầu tư, Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai [14] Kỷ yếu 2 Hội nghị chỉ rõ: Tây Nguyên có tiềm năng, trong đó kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn đóng vai trò mũi nhọn; nhưng Tây Nguyên vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế trong việc thu hút đầu tư; việc thu hút vào chế biến các sản phẩm thế mạnh Tây Nguyên còn ít, chưa tạo ra chuỗi giá trị và bền vững; kết quả đầu tư nước ngoài tại Tây Nguyên nhìn chung còn thấp Do vậy, khu vực Tây Nguyên cần tiếp tục nhận được sự quan tâm hơn nữa của các cấp, các ngành, các tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp nhằm huy động nhiều hơn nữa các nguồn lực để Tây Nguyên đẩy mạnh phát triển nhanh, bền vững và thực hiện hiệu quả mục tiêu xóa, đói giảm nghèo cho nhân dân trên địa bàn

"Văn hóa với sự phát triển bền vững Tây Nguyên" của Ban Tuyên giáo Trung

ương, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, Viện Nghiên cứu Phát triển Phương Đông [23] Các chuyên đề được trình bày tại buổi tọa đàm đã nhận định: Bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được thời gian qua trong công tác bảo tồn phát triển văn hóa Tây Nguyên như bảo tồn tiếng nói, chữ viết, lễ hội, âm nhạc dân gian thì văn hóa Tây Nguyên đang bị mai một Quy mô văn hóa buôn làng Tây Nguyên không còn được như xưa, văn hóa trang phục bị đồng hóa, các giá trị văn hóa truyền thống Tây Nguyên chưa được phát huy như nó vốn có trong thực tiễn Các đại biểu đã đề xuất các giải pháp về chính sách phát triển kinh tế, văn hóa truyền thống, quản lý xã hội,

giáo dục để văn hóa truyền thống Tây Nguyên PTBV

Trang 25

"Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân ở địa bàn các

tỉnh Tây Nguyên hiện nay" của Lê Văn Đính [66] Cuốn sách trình bày tính cấp

thiết của việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân ở địa bàn các tỉnh Tây Nguyên Trên cơ sở phân tích tích thực trạng, cuốn sách đề xuất một số giải pháp xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân nhằm bảo đảm phát triển vùng Tây Nguyên theo hướng toàn diện, bền vững, ổn định chính trị xã hội

"Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Tây

Nguyên" của Trương Minh Dục [45] Với 6 chương, 330 trang, cuốn sách đã phân

tích vấn đề dân tộc và những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển KT-XH ở Tây Nguyên, đội ngũ trí thức các DTTS, đời sống tín ngưỡng và tôn giáo đồng bào các DTTS, công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ DTTS, xây dựng mối quan

hệ đoàn kết dân tộc ở Tây Nguyên

"Giá trị văn hóa truyền thống Tây Nguyên với phát triển bền vững" của Ban

Chỉ đạo Tây Nguyên,Viện Nghiên cứu Phát triển phương Đông [19] Với 407 trang, tập hợp 34 bài viết của các tác giả nghiên cứu sâu về Tây Nguyên Dựa trên những bằng chứng thuyết phục của các nhà nghiên cứu, các bài viết tập trung phân tích vai trò của văn hóa truyền thống Tây Nguyên, thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị của nền văn hóa đặc thù này vì PTBV

Các công trình trên đây đã đề cập đến những vấn đề an sinh xã hội, an ninh quốc phòng - những vấn đề đảm bảo cho PTBV Các tài liệu này đã cung cấp khá chi tiết về hiện trạng nguồn nhân lực, vấn đề phát triển giáo dục, y tế và yếu tố rất quan trọng để đảm bảo cho PTBV ở Tây Nguyên là vấn đề đảm bảo an ninh quốc phòng, an ninh xã hội Đây sẽ là nguồn tư liệu tham khảo bổ ích để tác giả phân tích thực trạng PTBV vùng Tây Nguyên trong chương 3 của luận án

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA HIỆN NAY CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.2.1 Nhận xét tổng quan về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Từ những công trình nghiên cứu được đề cập, có thể thấy rằng về cơ bản đã

đề cập được những nội dung lý luận và thực tiễn về PTBV ở Việt Nam Qua các công trình đó có thể rút ra mấy nội dung sau đây:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đã trình bày những quan niệm về PTBV,

tiêu chí, nội dung PTBV

Trang 26

Thứ hai, nêu lên tính cấp thiết của việc PTBV trong bối cảnh toàn cầu hóa và

hội nhập quốc tế - thời cơ và thách thức; vai trò của chính trị đối với sự PTBV nhìn

từ thực tiễn đổi mới ở Việt Nam

Thứ ba, nghiên cứu cơ sở lý thuyết cho việc xác định các ưu tiên trong

PTBV vùng kinh tế ở nước ta; trong đó có định hướng có các nội dung như: Phát

triển bền vững - con đường tất yếu của Việt Nam Những lĩnh vực kinh tế, xã hội cần ưu tiên nhằm PTBV Những lĩnh vực xã hội cần ưu tiên nhằm PTBV Những lĩnh vực sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và kiểm soát ô nhiễm

cần ưu tiên nhằm PTBV Tổ chức thực hiện PTBV

Thứ tư, các công trình nghiên cứu về KT-XH ở Tây Nguyên nói chung và

PTBV ở Tây Nguyên nói riêng đi sâu vào việc nghiên cứu từng mảng riêng lẻ trong nội dung cơ bản của PTBV như Kinh tế, Chính trị, Văn hóa, Xã hội, An ninh - quốc

phòng, Dân tộc Tôn giáo

Những nghiên cứu nói trên là những tham khảo để tác giả làm rõ quan niệm, cấu trúc, tiêu chí, vai trò của vấn đề PTBV ở nước ta nói chung và ở Tây Nguyên nói

riêng Các kết quả nghiên cứu này là tài liệu tham khảo quý giá, để từ đó tác giả có cái

nhìn tổng quan trong việc phân tích thực trạng PTBV ở Tây Nguyên

1.2.2 Những vấn đề đặt ra hiện nay cần tiếp tục nghiên cứu

Như đã phân tích ở trên, có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về PTBV và PTBV vùng Tuy nhiên, vấn đề PTBV có nội hàm rất rộng và có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển KT - XH, nhất là trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, cho nên nghiên cứu về PTBV vẫn luôn có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn Việc vận dụng lý luận PTBV dưới cách tiếp cận của chính trị học vào thực tiễn Việt Nam nói chung và đặc biệt là vùng Tây Nguyên nói riêng cần tiếp biến trên quan

điểm phát triển cho phù hợp với những yếu tố có tính"đặc thù"

Vì vậy, nghiên cứu sinh cho rằng, song hành với việc nghiên cứu cơ sở khoa học về PTBV, khung lý thuyết về thực thi chính sách PTBV; một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu như sau:

Thứ nhất, nghiên cứu nội dung cụ thể của việc vận hành cơ sở khoa học về

PTBV, khung lý thuyết về thực thi chính sách PTBV vào điều kiện Việt Nam nói chung và Tây Nguyên nói riêng

Trang 27

Thứ hai, vận dụng cơ sở khoa học về PTBV để đánh giá tiềm năng, thế mạnh,

thời cơ, khó khăn, thách thức một cách sát thực và đề xuất giải phát nhằm phát triển KT-XH, an ninh quốc phòng vùng Tây Nguyên theo tinh thần của Kết luận số 12-KL/TW của Bộ Chính trị ngày 24 tháng 10 năm 2011 "Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (Khóa IX) phát triển vùng Tây Nguyên thời kỳ 2011 - 2020: xây dựng Tây Nguyên thành vùng kinh tế trọng điểm, có lực lượng sản xuất phát triển

ở mức trung bình của cả nước; có tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế vững chắc theo hướng CNH, HĐH, đóng vai trò "đầu tàu" trong khu vực "Tam giác phát triển" Việt Nam-Lào-Campuchia"

Thứ ba, Tây Nguyên là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về KT-XH,

quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái của đất nước; là khu vực nhạy cảm, cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề an ninh, quốc phòng cho cả trước mắt và lâu dài Phát triển vùng Tây Nguyên toàn diện, bền vững phải trên nền tảng bảo đảm quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới Do vậy, ngoài 3 trụ cột chính của PTBV là kinh tế, xã hội, môi trường thì vùng Tây Nguyên cần phát triển thêm 1 trụ cột nữa để phân tích, đánh giá

là AN-QP

Thứ tư, gắn phát triển kinh tế với xây dựng lực lượng và thế trận quốc phòng

toàn dân và an ninh nhân dân, nhất là thế trận lòng dân; không để bọn phản động FULRO lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo gây mất ổn định chính trị - xã hội

Thứ năm, phát triển KT-XH vùng Tây Nguyên gắn với xây dựng, củng cố hệ

thống chính trị vững mạnh, trước hết là hệ thống chính trị cơ sở, để bảo đảm gần dân, thực sự gắn với dân

Thứ sáu, việc nghiên cứu phát triển bền vững nói chung, nghiên cứu phát

triển bền vững vùng nói riêng, đã có nhiều nghiên cứu dựa trên nền tảng của các khoa học chuyên ngành khác nhau Tuy nhiên, đánh giá phát triển bền vững vùng Tây Nguyên dựa trên cách tiếp cận của chính trị học, từ góc độ thể chế là nét riêng

mà luận án cần được triển khai làm rõ

Trên cơ sở mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đã xác định, có thể khẳng định đến thời điểm này chưa có công trình nào nghiên cứu các nội dung nói trên một cách hệ thống Đây chính là những vấn đề mà luận án tập trung cần làm rõ và cũng

là đóng góp về mặt khoa học của luận án

Trang 28

Chương 2 PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

VÀ THỰC TIỄN

2.1 PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG - KHÁI NIỆM, NỘI HÀM, TIÊU CHÍ

2.1.1 Khái niệm về phát triển bền vững

Phát triển bền vững (sustainable development) là mục tiêu hướng tới của

nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới Mỗi quốc gia sẽ dựa trên những đặc thù riêng

về điều kiện tự nhiên, về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hoá để hoạch định chiến lược PTBV của mình Bên cạnh đó, PTBV còn là mục tiêu chung của nhân loại, mang tính toàn cầu và nhìn nhận dưới góc độ quan hệ quốc tế, đó cũng là mục tiêu quan trọng của các nước khi tham gia vào đời sống quốc tế Trước sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế nhưng không tính đến sự suy giảm tài nguyên thiên nhiên và môi trường; năm 1972, tại thủ đô Stockholm của Thụy Điển, Liên hợp quốc đã tổ chức Hội nghị quốc tế về Môi trường và Con người với sự tham gia của đại diện

113 nước Đây là Hội nghị quốc tế đầu tiên của nhân loại bàn về phát triển kinh tế gắn với bảo vệ và cải thiện môi trường sống Lúc đầu, Hội nghị này chỉ thể hiện mối quan tâm đối với bền vững về môi trường; nhưng về sau các nhà khoa học đã nhận ra rằng, để đạt được sự bền vững môi trường, không thể không chú ý đến việc phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội khác Trên cơ sở đó, Hội nghị đã

ra Tuyên bố Stockholm về môi trường và con người, gồm 7 điểm và 27 nguyên tắc, trong đó đặc biệt khuyến cáo:

Việc bảo vệ và cải thiện môi trường là vấn đề quan trọng tác động đến hạnh phúc của mọi người và phát triển kinh tế thế giới Việc bảo vệ và cải thiện môi trường cho các thế hệ ngày nay và mai sau là mục tiêu cấp bách của nhân loại, một mục tiêu mà nhân loại phải cùng nhau theo đuổi, hài hòa với các mục tiêu cơ bản đã được thiết lập là hòa bình và phát triển kinh tế - xã hội trên toàn thế giới [65, tr.20]

Năm 1987, khái niệm này được phổ biến rộng rãi và nhận thức sâu sắc hơn nhờ Báo cáo "Tương lai của chúng ta" của Uỷ ban quốc tế về Môi trường và phát

triển thế giới (WCED): PTBV là "sự phát triển có thể đáp ứng nhu cầu hiện tại mà

không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ

Trang 29

tương lai; là sự kết hợp hài hòa giữa sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng

và môi trường được bảo vệ, giữ gìn" [157, tr.43]

Tại Hội nghị Thượng đỉnh về môi trường và phát triển được Liên hiệp quốc

tổ chức ở Rio de Janeiro (Brazil) năm 1992 (gọi tắt là Hội nghị Rio - 92) với 179 nước tham gia đã đánh dấu mốc quan trọng trong nhận thức và hành động của cộng đồng quốc tế về PTBV Hội nghị đã thông qua "Tuyên bố Rio de Janeiro về môi trường và phát triển" bao gồm 27 nguyên tắc cơ bản Hội nghị cũng đưa ra "Chương trình Nghị sự 21" (Agenda 21) về các giải pháp phát triển chung cho toàn thế giới trong thế kỷ 21 và trên cơ sở những văn kiện này, các quốc gia linh hoạt trong việc soạn thảo, hiệu chỉnh chiến lược phát triển của mình và định hướng hợp tác toàn cầu nhằm bảo vệ môi trường trên trái đất Ở Hội nghị này khái niệm Phát triển bền vững

được hiểu là: Sự phát triển KT-XH lành mạnh, dựa trên việc sử dụng hợp lý tài nguyên

và bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu của thế hệ con người hiện nay và không ảnh hưởng bất lợi đối với các thế hệ tương lai trong việc thỏa mãn những nhu cầu của

họ Khái niệm phát triển bền vững trong tuyên ngôn Rio de Janeiro đã nêu rõ ba mảng trụ cột của PTBV bao gồm: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường;

sự phát triển không phải chỉ cho thế hệ hiện tại mà cả các thế hệ tương lai

Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Môi trường và Phát triển được Liên hiệp quốc tổ chức năm 2002 tại Johannesburg (Nam Phi) với sự tham gia của 166 quốc gia Ngoài việc tiếp tục khẳng định các nguyên tắc và văn bản đã được thông qua ở Rio-92; Hội nghị đã thông qua Bản Tuyên bố Johannesburg và Bản kế hoạch thực hiện về phát triển bền vững (Kế hoạch thực hiện Joha) ở cấp độ toàn cầu Bản kế hoạch đã đưa ra các mục tiêu và khung thời gian thực hiện cụ thể nhằm giải quyết các vấn đề PTBV Trong đó có nhiều mục tiêu quan trọng như giảm một nửa số người không được hưởng các điều kiện nước sạch và vệ sinh môi trường vào năm

2015, phục hồi trữ lượng nguồn thuỷ sản nhằm bảo vệ đa dạng sinh học vào năm

2015, loại bỏ hoá chất độc hại vào năm 2005 và cam kết về tăng cường sử dụng năng lượng tái tạo như là một vấn đề cấp bách Để thực hiện các mục tiêu trên, đa

số các biện pháp được nêu lên đều liên quan đến sự hợp tác quốc tế giữa các quốc gia, nhất là giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển

Trên cơ sở hai Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển của Liên hiệp quốc tổ chức ở Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Johannesburg (Nam Phi)

Trang 30

năm 2002, khái niệm phát triển bền vững được xác định là quá trình phát triển có sự

kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm phát triển kinh

tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường

Hội nghị thượng đỉnh Liên hợp quốc về Phát triển bền vững (Hội nghị Rio+20 diễn ra từ ngày 20-6 đến 23-6-2012 tại Rio de Janeiro -Brazil) năm 2012 tập trung giải quyết 2 nội dung bao trùm là: Kinh tế xanh và các khuôn khổ thể chế cho

sự PTBV Hội nghị Rio+20 kết thúc với sự đồng thuận của các nhà lãnh đạo thế giới

về văn bản chính trị cuối cùng có tên gọi "Vì tương lai chúng ta mong muốn" Văn bản này kêu gọi thế giới thực hiện hàng loạt hành động như bắt đầu quá trình thiết lập các mục tiêu PTBV, cụ thể hóa phương thức nền kinh tế xanh, thúc đẩy các biện pháp giám sát sự bền vững của các công ty, thực hiện các tiêu chuẩn ngoài tiêu chuẩn GDP

để đánh giá tiến bộ của một quốc gia [49, tr.44-46]

Khái niệm và nội hàm của phát triển bền vững như trên có ý nghĩa khung và định hướng Tùy theo từng quốc gia với đặc điểm riêng của mình lại có những quan niệm về PTBV khác nhau Do đó, hiện có tới mấy chục khái niệm PTBV của các

quốc gia và tổ chức trên thế giới Trung Quốc đưa ra thuật ngữ phát triển hài hòa thay cho thuật ngữ phát triển bền vững: Tại Đại hội lần thứ 17 của Đảng Cộng sản

Trung Quốc, tiêu chí phát triển xã hội, phát triển bền vững được xác định: Tăng cường phát triển hài hòa; đảm bảo tối đa cho sự phát triển kinh tế nhanh và bền vững;

mở rộng dân chủ xã hội; đảm bảo quyền lợi cho nhân dân; tăng cường xây dựng văn hóa và văn minh của dân tộc; đẩy mạnh phát triển các lĩnh vực xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và xây dựng văn hóa môi trường Trong nội hàm của PTBV xã hội của Thái Lan bao hàm cả PTBV chính trị Ở Việt Nam, nội hàm của PTBV xã hội nhiều khi được hiểu bao gồm cả PTBV văn hóa, đồng nghĩa PTBV là phát triển kinh tế gắn với tiến bộ, công bằng xã hội, phát triển văn hóa và bảo vệ môi trường sống

Tóm lại: vẫn còn khá nhiều ý kiến khác nhau, tùy theo cách tiếp cận và hoàn

cảnh của từng nước mà có các quan niệm khác nhau Dưới cách tiếp cận của chính

trị học, chúng tôi quan niệm về phát triển bền vững như sau: Phát triển bền vững là

sự phát triển dựa trên sự tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội,

sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, giữ vững ổn định chính trị - xã hội nhằm phát triển hài hòa về mọi mặt trong hiện tại và đảm bảo tạo lập

các yếu tố, tiền đề cho sự phát triển của các thế hệ tương lai

Trang 31

2.1.2 Tiêu chí của sự phát triển bền vững

Phát triển bền vững đòi hỏi có bộ tiêu chí đánh giá để xem từng lĩnh vực sự phát triển đã đạt hay chưa đạt độ PTBV Độ bền vững của sự phát triển thường được đánh giá thông qua các tiêu chí và chỉ thị đo mức bền vững của 3 lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường Hiện nay trên thế giới có nhiều bộ tiêu chí đánh giá PTBV khác nhau Chẳng hạn, Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đưa

ra bộ tiêu chí 58 chỉ tiêu, trong đó 14 chỉ tiêu về kinh tế; Trung Quốc có bộ tiêu chí

80 chỉ tiêu, trong đó 15 chỉ tiêu kinh tế; Thái Lan có bộ tiêu chí 65 chỉ tiêu, trong đó

16 chỉ tiêu kinh tế [65, tr.29-30] Hội nghị thượng đỉnh Liên hợp quốc về PTBV (Hội nghị Rio+20) năm 2012 xác định các tiêu chí của PTBV là yếu tố kinh tế, xã

hội, môi trường và phúc lợi được cân bằng [65, tr.44-46] Trong Đề tài cấp bộ Kinh

nghiệm quốc tế về xây dựng và thực hiện phát triển bền vững của nhóm tác giả do

Lê Minh Đức làm chủ nhiệm (năm 2007) đã tổng kết một số nguyên tắc trong triển khai PTBV, gồm: Phát triển kinh tế gắn kết chặt chẽ với PTBV xã hội, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường Con người là trung tâm của PTBV PTBV kinh tế, xã hội, môi trường xét cho cùng đều vì mục tiêu phục

vụ con người PTBV kinh tế, xã hội, môi trường phải đảm bảo đáp ứng công bằng nhu cầu của con người hiện tại và không gây phương hại tới các thế hệ tương lai Lấy khoa học công nghệ làm động lực và nền tảng cho PTBV Sử dụng công nghệ sạch và thân thiện với môi trường trong các ngành, các lĩnh vực của đời sống sản xuất PTBV là sự nghiệp chung của toàn thể nhân loại, của các quốc gia, các vùng lãnh thổ và của từng người dân, trong đó chính quyền và các đoàn thể ở các quốc gia đóng vai trò đầu tàu tập hợp khuyến khích thúc đẩy nhân dân thực hiện PTBV Đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ và kịp thời để mọi người dân biết và có thể tham gia, chia sẻ trong quá trình PTBV Bảo đảm sự hợp tác quốc tế cao trong quá trình PTBV, trong đó đặc biệt bảo đảm PTBV từng quốc gia không mâu thuẫn với PTBV các nước trong khu vực và quốc tế PTBV không bằng mọi giá mà khả thi, phù hợp với điều kiện từng quốc gia, từng địa phương, nhằm mục tiêu thống nhất trong đa dạng, độc lập, tự chủ quốc gia nhưng hội nhập, hòa nhập với quốc tế [65, tr.27-28]

Từ sự lập luận đó, chúng ta có thể nhận biết tiêu chí đánh giá sự PTBV thông qua các thành tố cơ bản sau đây:

Trang 32

Thứ nhất, một nền chính trị ổn định, hợp lý, hiệu quả - nền chính trị dân chủ hiện thực Thể chế chính trị dân chủ là thể chế vừa có "tuyên bố pháp lý" (được ghi

nhận trong Hiến pháp) rằng "tất cả quyền lực thuộc về nhân dân", vừa có "cơ chế"

để nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thông qua việc luật hóa các quyền con người, quyền công dân, quyền dân chủ và vấn đề dân chủ hóa trong đời sống xã hội Như vậy, xây dựng Nhà nước pháp quyền là yêu cầu tất yếu trong thể chế chính trị dân chủ hiện đại, bởi lẽ tự do chính trị và dân chủ chỉ có thể có ở những quốc gia mà ở

đó các quan hệ xã hội được điều chỉnh bằng pháp luật Pháp luật là thước đo của tự

do và hệ thống pháp luật càng hoàn thiện (có chế tài cụ thể) thì các quyền tự do, dân chủ của con người càng được đảm bảo

Thứ hai, tăng trưởng kinh tế gắn liền với dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội Tăng trưởng kinh tế là yêu cầu căn bản của phát triền bền vững, là nền tảng tạo

ra những điều kiện đáp ứng nhu cầu vật chất của con người Song bên cạnh những nhu cầu sinh học, con người con có những nhu cầu xã hội - nhu cầu được tự do, nhu cầu hưởng thụ văn hóa, hưởng thụ cái mới, cái đẹp Do đó, giải quyết tốt các vấn đề

xã hội, hạn chế những mặt trái, những tiêu cực do sự phát triển kinh tế mang lại, bảo đảm cho con người được hưởng các giá trị tự do, dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội chính là cơ sở tạo nên sự hài hòa, tính bền vững trong suốt quá trình phát triển

Thứ ba, văn hoá ngày càng phong phú, đa dạng, dựa trên nền tảng chân, thiện, mỹ Văn hóa là bản chất, là linh hồn của đời sống xã hội, là mục tiêu và động

lực của sự phát triển Văn hóa là sức mạnh nội sinh tạo nên bản sắc và sức sống của từng quốc gia, dân tộc Do vậy, việc xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở nước ta hiện nay là nhằm không ngừng nâng cao đời sống văn hóa, xây dựng nếp sồng mới cho quần chúng nhân dân, tạo lập nền tảng tinh thần vững chắc để hội nhập và PTBV Một quốc gia nếu có sự tăng trưởng về kinh

tế nhưng lại bị nô dịch về văn hóa thì khó có thể PTBV, nhất là trong thời đại giao lưu văn hóa, thông tin đa chiều hiện nay

Thứ tư, môi trường được bảo vệ và hệ sinh thái được bảo tồn Điều này đòi

hỏi các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội phải thân thiện với môi trường

Do đó, các chủ thể chính trị khi xây dựng các đề án, chính sách phát triển KT-XH là phải xem xét đến các yếu tố môi trường, đồng thời phải cân nhắc kỹ lưỡng những lợi ích kinh tế mà đề án đó mang lại cũng như những tác động của nó (cả tích cực

Trang 33

và tiêu cực) đối với xã hội và môi trường sống của con người (cả trong hiện tại và tương lai) Từ đó, có những biện pháp tối ưu để khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực, góp phần gìn giữ, cải tạo và phát triển lành mạnh môi trường sống Điều này phụ thuộc rất nhiều vào năng lực lãnh đạo (đặc biệt là tầm tư duy chiến lược) của các chủ thể cầm quyền và ý thức bảo vệ môi trường của mọi người dân Tăng tưởng kinh tế là nền tảng của PTBV, nhưng nếu tăng trưởng bất chấp mọi hậu quả về vấn đề môi trường, thì đó là sai lầm nghiêm trọng mà tất cả các quốc gia, dân tộc ắt sẽ bị trả giá trong suốt quá trình phát triển

Thứ năm, con người ngày càng hoàn thiện nhân cách, tự do, hài hoà, sáng tạo

Đây là mục tiêu cuối cùng của phát triển bền vững - một sự phát triển vì con người, cho con người, giải phóng toàn diện con người Chính trong quá trình phát triển đó, con người ngày càng được tự do hơn, càng hoàn thiện nhân cách, càng thực sự làm chủ Hoạt động sống của con người ở hiện tại mới không làm tổn hại đến điều kiện sống của các thế hệ mai sau, mới bảo đảm ổn định và PTBV [94, tr.37-42]

2.1.3 Phát triển bền vững vùng

2.1.3.1 Khái niệm vùng và Phát triển bền vững vùng

Vùng là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia có một sắc thái đặc thù nhất định, hoạt động như một hệ thống do có những mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa các thành phần cấu tạo nên nó cũng như mối quan hệ có chọn lọc với không gian các cấp bên ngoài

Với cách hiểu trên, có thể thấy rằng: Vùng là một hệ thống bao gồm các mối liên hệ của các bộ phận cấu thành với các dạng liên hệ địa lí, kĩ thuật, kinh tế, xã hội bên trong hệ thống cũng như bên ngoài hệ thống Vùng tồn tại do yêu cầu phát triển của nền kinh tế quốc gia Tính khách quan của vùng được cụ thể hóa thông qua những nguyên tắc do con người đặt ra Vùng là cơ sở để hoạch định các chiến lược, các kế hoạch phát triển kinh tế theo lãnh thổ cũng như để quản lí các quá trình phát triển KT-XH trên mỗi vùng của đất nước[72]

Phát triển bền vững vùng là một bộ phận của phát triển bền vững quốc gia, tồn tại không tách rời chiến lược phát triển bền vững quốc gia và trên cơ sở chiến lược phát triển bền vững quốc gia

Phát triển bền vững vùng (regional sustanable development) là khái niệm

xuất hiện sau và có liên quan chặt chẽ đến khái niệm PTBV

Trang 34

Lý thuyết PTBV vùng liên quan đến lý thuyết phát triển vùng, hay khoa học phát triển vùng, là khái niệm có trước khái niệm bền vững vùng Lý thuyết phát triển vùng là khoa học liên ngành và đòi hỏi nghiên cứu liên ngành, bao gồm các khoa học kinh tế, địa lý, xã hội, lập kế hoạch và ra quyết định

Về mặt khoa học, nếu như nội hàm của khái niệm PTBV đã tương đối rõ thì nội hàm của khái niệm PTBV vùng cho đến nay vẫn còn là mới mẻ và chưa thống nhất Khái niệm phát triển bền vững vùng xuất hiện đầu tiên ở Việt Nam có lẽ từ năm 2004, trong Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam, tập trung ở mục V của phần 2 với tiêu đề Phát triển bền vững các vùng và địa phương Về quy mô và vị trí, PTBV vùng nằm ở cấp độ thứ ba trong bốn cấp độ PTBV, gồm PTBV toàn cầu, PTBV quốc gia, PTBV vùng và PTBV địa phương (các tỉnh, thành phố) Ở Việt Nam, hiện mới chỉ có quy hoạch PTBV quốc gia và tỉnh, thành phố mà chưa có quy hoạch PTBV vùng Điều này

có nhiều lý do, trong đó có lý do ở Việt Nam, vùng chưa phải là đơn vị hành chính có chức năng quản lý nhà nước giống như đơn vị hành chính cấp bang ở một số nước Âu,

Mỹ, Úc, trong khi quy hoạch PTBV cấp vùng đang là đòi hỏi của thực tiễn

Hiểu theo cách chung nhất, vùng là một không gian lãnh thổ bao gồm nhiều

tỉnh của một quốc gia, có chung những đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa và địa lý, đôi khi có chung số phận lịch sử, vì thế có chung những cơ hội và thách thức cho phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và bảo vệ môi trường

Theo nội dung Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam, để đảm bảo cho PTBV vùng hiệu quả, cần đổi mới hệ thống quản lý theo 5 hướng:

Một là, tăng cường năng lực, nâng cao nhận thức và trách nhiệm PTBV cho

các cấp chính quyền địa phương

Hai là, các vùng đều cần phát huy lợi thế để phát triển

Ba là, thu hút rộng rãi các tổ chức đoàn thể và các tầng lớp nhân dân vào quá

trình lựa chọn và thực hiện các phương án phát triển tại địa phương

Bốn là, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước nhằm bảo

đảm tính liên ngành, liên vùng, liên lãnh thổ

Năm là, cần xây dựng các chương trình PTBV của vùng và địa phương

2.1.3.2 Nội dung của phát triển bền vững vùng

Để có khái niệm như là công cụ nghiên cứu, ở đây xin đưa ra một số nội dung, tiêu chí làm sáng tỏ nội hàm của khái niệm vùng và PTBV vùng:

Trang 35

Thứ nhất, vùng lãnh thổ là không gian sinh tồn gồm nhiều địa phương (tỉnh,

thành phố) có những đặc điểm riêng về hoàn cảnh địa lý, môi trường, điều kiện dân

cư, dân tộc và văn hóa

Thứ hai, PTBV vùng là một bộ phận của PTBV quốc gia, tồn tại không tách

rời chiến lược PTBV quốc gia và trên cơ sở chiến lược PTBV quốc gia

Thứ ba, PTBV vùng cần căn cứ vào những điều kiện đặc thù về kinh tế, xã

hội, văn hóa và môi trường của chính vùng đó Theo đó, mỗi vùng có thể có kế hoạch PTBV của riêng mình, mang sắc thái vùng, giải quyết những vấn đề bền vững của vùng

Thứ tư, PTBV vùng cần đặt trong mối quan hệ với PTBV của các vùng phụ

cận, với PTBV của quốc gia và quốc tế Theo đó, bảo đảm PTBV vùng thống nhất

và hỗ trợ cho PTBV các vùng xung quanh và cho PTBV chung của quốc gia, không làm phương hại tới PTBV của các vùng khác

Thứ năm, vùng bao gồm các địa phương hay các tỉnh, thành phố Vì thế,

PTBV vùng là phát triển có sự kết hợp hài hòa, hỗ trợ và thống nhất với nhau giữa các tỉnh, thành phố địa phương trong vùng, căn cứ vào chiến lược PTBV chung của quốc gia, tránh tình trạng cục bộ, địa phương, tự phát, chỉ biết quyền lợi của mình, không quan tâm đến lợi ích và sự PTBV của các địa phương khác trong xây dựng chiến lược PTBV của từng địa phương [65, tr.116-117]

2.1.3.3 Liên kết vùng - Liên kết nội vùng

Liên kết vùng là các mối quan hệ hợp tác và phối hợp thường xuyên, ổn định các

hoạt động (trên các lĩnh vực của đời sống xã hội - trong đó lĩnh vực kinh tế là trọng tâm) do các địa phương, đơn vị trong vùng được thiết lập trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và cùng có lợi nhằm khai thác tốt nhất tiềm năng, lợi thế so sánh thúc đẩy cả vùng và từng địa phương phát triển, đảm bảo lợi ích tối đa cho các bên tham gia

Liên kết vùng thường được thể hiện ở 3 dạng: liên kết ngành, liên kết giữa các chủ thể chức năng và liên kết không gian - bao gồm liên kết nội vùng và liên kết liên vùng Những dạng liên kết này khó phân tách một cách cụ thể vì mỗi vùng thường bao hàm trong mình tất cả các dạng liên kết trên và chịu sự tác động tổng họp của các liên kết đó

Liên kết vùng là nhu cầu, là điều kiện và là tất yếu trong phát triển và hội nhập Liên kết nội vùng là vấn đề có tính bức thiết đối với các vùng kinh tế trên cả nước nói chung và vùng Tây Nguyên nói riêng

Trang 36

Liên kết nội vùng là một hình thức liên kết vùng (liên kết ngang), đó là liên

kết giữa các địa phương trong phát triển dựa trên lợi thế so sánh và sự phân công phối hợp giữa các địa phương nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, góp phần thúc đẩy việc phát triển KT-XH giữa các địa phương trong vùng, động lực thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của vùng

- Mục đích của sự liên kết nội vùng là nhằm tạo "không gian thống nhất" cho

toàn vùng để cùng phát triển đạt được hiệu quả cao trong điều kiện hội nhập quốc tế

-Vai trò và tầm quan trọng của liên kết nội vùng: Là yếu tố quyết định để

hình thành nên một vùng quy hoạch và các liên minh; Động lực thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của vùng; là nhu cầu hợp tác và hội nhập tất yếu có tính bắt buộc trong xu hướng toàn cầu hóa đối với vùng và mỗi quốc gia; Thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng diện rộng, cải thiện điều kiện phân phối lưu thông, giảm giá thành sản xuất, cung ứng dịch vụ, tăng lợi ích; bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu

Quan điểm liên kết: Liên kết bình đẳng, các bên cùng có lợi trên cơ sở khai

thác và phát huy tiềm năng và thế mạnh, đặc thù của từng địa phương và toàn Vùng

để cùng phát triển Đảm bảo và hài hòa lợi ích kinh tế là nền tảng (chất kết dính) trong tổ chức liên kết vùng Liên kết trên tinh thần tự nguyện của các địa phương, tổ chức, doanh nghiệp; Phân công lao động giữa các địa phương trong vùng là cơ sở quan trọng trong liên kết vùng Nội dung liên kết được xây dựng thành các dự án, chương trình cụ thể và có mục tiêu rõ ràng, thời gian triển khai, kinh phí, đơn vị và đối tác thực hiện

Mục tiêu liên kết: Khai thác và phát huy các tiềm năng, thế mạnh của từng

địa phương và toàn vùng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và phát triển bền vững trên cơ sở tổ chức không gian các hoạt động kinh tế, xã hội phù hợp; liên kết xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng để tạo chuyển biến căn bản nhằm phát triển toàn diện KT-XH; bảo vệ môi trường sinh thái; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm quốc phòng an ninh

2.2 QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

2.2.1 Quan điểm của Đảng ta về phát triển bền vững

Ở Việt Nam, phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu chiến lược và được

đề ra từ những năm 80 của thế kỷ XX Cùng với thời gian, khái niệm PTBV đã có

Trang 37

sự thay đổi về nội hàm, ngày càng được bổ sung thêm những nội dung mới và Đảng, Nhà nước Việt Nam đã và đang chủ trương xây dựng chiến lược PTBV phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước Chiến lược PTBV đã được Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định trong Văn kiện Đại hội VIII, IX và tiếp tục được

phát triển thêm trong Văn kiện Đại hội X, XI, XII

Đại hội VII thông qua Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 1991 - 2000, nhấn mạnh:

Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trường…Dân chủ hóa đời sống xã hội; …Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với ổn định và đổi mới chính trị, tăng cường củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn, xã hội [53, tr.9-10]

Từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII (1996) đến Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X (2006), văn kiện của Đảng đã nhấn mạnh những quan điểm cơ bản về chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam và được khái quát

thành những nội dung sau: Thứ nhất, yếu tố ổn định chính trị - xã hội được xem là tiền đề, điều kiện để phát triển nhanh và bền vững Thứ hai, chiến lược phát triển

nhanh, bền vững tập trung vào nâng cao chất lượng phát triển, kết hợp giữa phát triển kinh tế với việc phát triển toàn diện con người; thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội; tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói giảm nghèo; coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường ngay

trong từng bước phát triển Thứ ba, chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam đã

đề cập một cách khá toàn diện các khía cạnh khác nhau của sự phát triển, trong đó nổi lên việc giải quyết hài hoà các mối quan hệ, như hài hoà giữa phát triển nhanh

và bền vững, giữa tăng trưởng về số lượng và nâng cao chất lượng, giữa phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu; hài hoà giữa phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ và cải thiện môi trường, v.v Như vậy, hài hoà là một trong những nội dung quan trọng của chiến lược phát triển bền vững Thứ tư, con người là trung tâm của PTBV, mục tiêu cơ bản của chiến lược PTBV chính là vấn đề dân sinh, bảo đảm cho mọi người dân có

cuộc sống ấm no và hạnh phúc

Trên cơ sở phân tích bối cảnh trong nước và bối cảnh quốc tế; trong "Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020" Đại hội XI của Đảng cũng đã chỉ rõ

Trang 38

quan điểm phát triển nói chung và phát triển bền vững nói riêng là: Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược: Phải phát triển bền vững về kinh tế, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh kinh tế Ðẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân Phát triển KT-XH phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu Nước ta có điều kiện phát triển nhanh và yêu cầu phát triển nhanh cũng đang đặt ra hết sức cấp thiết phát triển bền vững là cơ sở để phát triển nhanh, phát triển nhanh để tạo nguồn lực cho phát triển bền vững Phát triển nhanh và bền vững phải luôn gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển KT-XH Phải đặc biệt coi trọng giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường quốc phòng,

an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ để bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh và bền vững [61, tr.98-102]

Kế thừa và phát huy những thành tựu, bài học kinh nghiệm của 30 năm đổi mới, tại Đại hội XII, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục đề cập ở mức độ cao hơn về PTBV Không chỉ thể hiện trong mục tiêu, PTBV còn là yêu cầu phải đảm bảo ngay trong từng bước đi, cách thức tạo dựng, thúc đẩy sự phát triển Không chỉ thể hiện ở phạm vi tổng thể chung cả nước, PTBV còn được đề cập đến trong hầu hết các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,… Mỗi lĩnh vực hướng tới mục tiêu PTBV riêng, song không biệt lập mà cùng hướng đến hợp thành PTBV của cả đất nước Đến năm 2020, Văn kiện Đại hội XII xác định phương hướng phải "Bảo đảm phát triển nhanh, bền vững trên cơ sở ổn định kinh tế vĩ mô và không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường" Phát triển hài hoà giữa chiều rộng và chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu; phát triển kinh tế tri thức, kinh tế xanh Phát triển kinh tế phải gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu Bảo đảm quốc phòng, an ninh

và giữ vững hoà bình, ổn định để xây dựng đất nước Phương hướng này có hai điểm gắn bó chặt chẽ với nhau đó là "nhanh" và "bền vững" trong chỉnh thể thống

Trang 39

nhất của sự phát triển Điều đó phù hợp với với "Chương trình nghị sự PTBV của Liên hợp quốc trong 15 năm tới"(2016 - 2030) được khóa họp Đại hội đồng Liên hợp quốc lần thứ 70 (ngày 25-9-2015) thông qua Chương trình gồm 17 mục tiêu phát triển bền vững (SDG) với 169 chỉ tiêu cụ thể như: kết thúc đói nghèo, cải thiện sức khỏe và giáo dục, bình đẳng giới, trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái, làm cho các thành phố bền vững hơn, chống biến đổi khí hậu, bảo vệ đại dương và rừng với lộ trình thực hiện tới năm 2030 Đây là chương trình tiếp nối Chương trình phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc giai đoạn 2001 - 2015 gồm 8 mục tiêu (2) mà Việt Nam là một trong những nước đã thực hiện khá thành công

Như vậy, càng tiến về gần đây, nhận thức của Đảng về phát triển bền vững được bổ sung sâu sắc hơn Phát triển bền vững dần dần trở thành yếu tố thấm đều trong hầu hết các quan điểm phát triển của Đảng, từ phát triển tổng thể đất nước đến lĩnh vực, ngành, vùng Không chỉ là mục tiêu hướng đến, phát triển bền vững còn được yêu cầu phải thể hiện trong từng chính sách, từng bước thực hiện Với nhận thức ngày càng rõ và sâu sắc như vậy, quan điểm lý luận và thực tiễn lãnh đạo của Đảng được đổi mới, không ngừng cập nhật, thể hiện quyết tâm chính trị cao và hiện đang được chứng minh tính đúng đắn qua thực tiễn

2.2.2 Chủ trương, chính sách của Nhà nước ta về phát triển bền vững

Trên cơ sở quan điểm về phát triển bền vững của Đảng, các chiến lược và kế hoạch PTBV cũng được hoạch định, thể chế hóa và thực thi một cách nhất quán trong các chủ trương, chính sách của Nhà nước ta Trong đó có thể kể đến những mốc quan trọng sau đây:

"Kế hoạch quốc gia về môi trường và PTBV giai đoạn 1991 - 2000" được Chính phủ thông qua ngày 12/6/1991, theo Quyết định số 187-CT Đây là một trong những kế hoạch quốc gia đầu tiên được xây dựng theo quan điểm PTBV của quốc

tế, tạo tiền đề cho quá trình PTBV ở Việt Nam

Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị

sự 21 của Việt Nam) được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 17/8/2004 tại Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg: Chiến lược đã chỉ rõ phát triển bền vững đất nước phải dựa trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội, phát triển văn hoá, phát triển con người, bảo vệ môi trường Mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững theo Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam

Trang 40

là: Đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người với tự nhiên Theo mục tiêu trên thì phát triển bền vững về xã hội bao gồm cả phát triển bền vững về văn hóa Chương trình nêu ra 8 nguyên tắc của phát triển bền vững ở Việt Nam, bao gồm: Con người là trung tâm của phát triển bền vững; Coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát triển sắp tới; Bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường là yếu tố không thể tách rời của quá trình phát triển; Quá trình phát triển phải bảo đảm đáp ứng công bằng nhu cầu của thế hệ hiện tại

và không gây trở ngại tới cuộc sống của các thế hệ tương lai; Khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy phát triển nhanh, mạnh và bền vững đất nước; Phát triển bền vững là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp chính quyền, các bộ, ngành và địa phương, của các cơ quan doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và của người dân; Gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển bền vững đất nước; Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, phát triển

xã hội và bảo vệ môi trường với bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội [65, tr.17-48]

Những hoạt động ưu tiên nhằm phát triển bền vững được đề cập trong Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam là: Tạo những điều kiện cần thiết để phát triển kinh tế nhanh và bền vững, bao gồm: tăng trưởng kinh tế nhanh, thay đổi mô hình tiêu dùng, công nghiệp hóa sạch, phát triển bền vững nông-lâm-ngư nghiệp và phát triển bền vững kinh tế vùng; Tạo điều kiện phát triển bền vững về mặt xã hội: xóa đói giảm nghèo, tiếp tục hạ thấp mức tăng dân số, định hướng quá trình đô thị hóa và di dân, nâng cao chất lượng giáo dục và cải thiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe

và vệ sinh môi trường sống; Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, gồm các hoạt động sau: chống suy thoái và sử dụng bền vững tài nguyên đất, sử dụng và quản lý tài nguyên nước, bảo về và phát triển rừng, giảm ô nhiễm không khí ở các khu công nghiệp và đô thị, quản lý chất thải rắn, bảo tồn đa dạng sinh học; Tổ chức quá trình chuyển sang con đường phát triển bền vững, gồm các hoạt động như: huy động toàn dân tham gia thực hiện phát triển bền vững, tăng cường vai trò lãnh đạo của Nhà nước trong việc tổ chức thực hiện phát triển bền vững và hợp tác vì sự phát triển bền vững [65, tr.17-48]

Ngày đăng: 02/07/2021, 23:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w