Giải phẫu học GPH là môn khoa học nghiên cứu hình thái và cấu trúc của cơ thể, mối liên quan giữa các cầu trúc trong cơ thể và mối tương quan giữa cơ thể và môi trường GPH là một môn kho
Trang 1MỞ ĐẦU GIẢI PHẪU HỌC
PGS.TS PHẠM ĐĂNG DIỆU
MỤC TIÊU
1 Mô tả 3 nội dung nghiên cứu chính của Giải phẫu học (GPH) và Phân loại GPH.
2 Phân tích ý nghiã của GPH đối với Y học
3 Giải thích các cách học và tiếp cận GPH
4 Mô tả các nguyên tắc chính trong việc đặt tên trong GPH theo danh pháp GPH PNA và cho ví dụ
5 Mô tả các mặt phẳng GPH và các khái niệm liên quan
6 Định danh các động tác của các chi và các phần chi.
Giải phẫu học là gì?
Giải phẫu học (GPH) là môn khoa học nghiên cứu hình thái và cấu trúc của cơ thể, mối liên quan giữa các cầu trúc trong cơ thể và mối tương quan giữa cơ thể và môi trường
GPH là một môn khoa học cổ khời nguyên từ thời cổ đại,, là một nhánh của sinh học, cùng với sự phát triển của văn minh nhân loại mà GPH cũng phát triển thành nhiều phân hệ có đặc điểm, mục đích và phương pháp tiếp cận khác nhau
Nói chung, giải phẫu bao gồm các cấu trúc của cơ thể có thể nhìn thấy bằng mắt thường (mà không cần sự hỗ trợ của một thiết bị phóng đại nào, do đó giải phẫu thường đồng nghĩa với giải phẫu đại thể (macroscopic anatomy) Giải phẫu vi thể (microscopic anatomy) cũng còn được gọi là mô học (histology)
Tham khảo tài liệu 1 (Tr.11 -17) để xác định phạm vi nghiên cứu của GPH qua 3 cách phân loại trả lời các câu hỏi sau:
1 Môn giải phẫu mà chúng ta đang học là giải phẫu gì theo từng hệ thống phân loại?
2 trong các hệ thống phân loại, có phân hệ giải phẫu nào liên quan chặt chẽ và thường được liên hệ với giải phẫu học y học.
Ý nghĩa của giải phẫu học trong y học
GPH tạo nên nền tảng cho thực hành nghề y GPH cho phép người thầy thuốc hiểu được bệnh tật của bệnh
nhân thông qua thăm khám lâm sàng hay sử dụng những phương tiện chẩn đoán hình ảnh tiến bộ nhất qua
thăm khám, các phương tiện chẩ đoán, người thầy thuốc với kiến thức về cơ thể người, các môn học khác
trong y học để chẩn đoán, và giải phẫu là rất cần thiết để người thầy thuốc có thể thực hiện những thủ thuật chẩn đoán (nội soi, kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh …) và điều trị (VD: thông tim can thiệp, phẫu thuật nội soi ,
phẫu thuật mở …) GPH cũng cần thiết cho các nghề liên quan khoa học sức khỏe như nha sĩ, điều dưỡng, nhà vật lý trị liệu, kỹ thuật viên y học, nhân viên cấp cứu ngoại viện …
Trang 2Hình 1: vai trò của GPH đối với y học
Tham khảo tài liệu 1(Tr11-17) và 2(Tr11 -15) và các nguồn tài liệu trên tài nguyên mạng, thử tìm một ví dụ chứng minh môn nội khoa (internal medicine), ký sinh trùng (parasitology) , chẩn đoán hình ảnh (imagery medicine) cũng rất cần phải có nền tảng là GPH.
GPH được học như thế nào?
Vì GPH là một khoa học hình thái nghiên cứu hình thể và cấu trúc của các cơ quan cụ thể có thể nhìn thấy, sờ
nắn nên cách học đầu tiên và hiệu quả là trực quan (= quan sát và hình dung): hình atlas, mô hình, xác phẫu
tích, các hình ảnh chẩn đoán, các phần mềm… Nhưng do kiến thức và thông tin giải phẫu vô cùng lớn nên
không thể học thuộc lòng như cách học ở trung học phổ thông mà cần phải học theo kiểu suy luận: nêu những quy luật, so sánh, lặp lại, tình huống áp dụng …
- Động mạch tinh hoàn – động mạch xuất phát ở nơi gần tạng nhất
- Chi trên – chi dưới
- Các cấu trúc được hình dung bằng những hình thức khác nhau: quan sát trên mô hình, tranh vẽ, atlas, trên xác đã được phẫu tích trên hình sơ đồ đơn giản hóa …
- Thay vì phải nhớ đơn thuần cơ mông nhỡ được vận động bời TK mông trên thì nhờ nhờ thử nghiệm trendelenburg (Trendelenburg test)
GPH có thể được tiếp cận theo:
- Hệ thống (Systemetic anatomy): mỗi hệ thống được học trên toàn bộ cơ thể, thấy được sự liên tục và
phối hợp hoạt động của các cơ quan trong cùng hệ thống cách tiếp cận này không thể học trên phẫu tích xác và ít cho phép hình dung dự liên quan giữa các cấu trúc lân cận
- Vùng – định khu (Regional – topographic anatomy): mỗi vùng vủa cơ thể được học riêng biệt và mọi
khía cạnh cùng được học một lúc: các cơ quan trong vùng, thần kinh, mạch máu, cơ, đặc biệt nhấn mạnh đến sự liên quan của các cấu trúc với nhau Cách tiếp cận này phù hợp với học phẫu tích xác và thực hành y khoa Tuy vậy, thường không giúp cho người học hình dung được sự liên tục của các cấu trúc và hệ thống trên những vùng khác nhau
Trang 3- Cần lưu ý là các cơ quan nằm sâu trong cơ thể nên việc thăm khám rất cầ phải có sự hiểu biết về hình ảnh phóng chiếu của cơ quan lên bề mặt của cơ thể - chính là GPH bề mặt (surface anatomy)
Tham khảo tài liệu 1 (mục lục của tập 1 và tập 2) và 2(tr 12 -15), tìm hiểu các nội dung của giải phẫu học hệ thống (gồm những hệ thống gì?) và các vùng và định khu ; tham khảo tài liệu 4 ( phần surface markings and vertebral levels) về
Tư thế giải phẫu, 3 mặt phẳng GPH và các cử động của cơ thể:
Tư thế quy ước chuẩn của GPH là cơ thể trong tư thế đứng thẳng, 2 tay duỗi thẳng với lòng bàn tahy hướng ra trước Với tư thế quy chiếu này người ta mới xác định được vị trí tương đối của các phần cơ thể trong không gian
Cơ thể được đặt trong một hệ quy chiếu gồm 3 mặt phẳng gọi tắc là 3 mặt phẳng GPH:
- Mặt phẳng đứng ngang (mặt phẳng trán – Frontal plane, mặt phẳng vành – coronal plane) chia cơ thể thành 2 phần nằm trước và sau mặt phẳng
- Mặt phẳng đứng dọc (sagital plane) chia cơ thể thành 2 phần nằm bên phải và bên trái mặt phẳng
- Mặt phẳng ngang (horizontal or tranverse plane) chia cơ thể thành 2 phần nằm trên và dưới mặt phẳng
Các mặt phẳng này cũng được ứng dụngtương ứng với các mặt cắt trong các phương tiện chẩn đoán hình ảnh như cắt lớp điện toán (CT-scan) hoặc cộng hường từ - hạt nhân (MRI)
Các chi của cơ thể đối xứng qua đường giữa và các động tác được dặt tên quy chiếu với tư thế giải phẫu chuẩn, bao gồm: gấp - duỗi, dạng – khép, xoay trong - xoay ngoài (chi trên và chi dưới), sấp – ngửa (khuỷu và
cổ tay), gấp phía mu – gấp phía gan (cổ chân), nghiêng trong – nghiêng ngoài (bàn chân) Lưu ý là gấp gối hoàn toàn ngược với gấp khuỷu
Hình 2: 3 mặt phẳng giải phẫu học
Tham khảo tài liệu 1(tr.17 -18) , xác định các mặt phẳng GPH trên hình 2 Xác định các khái niệm sau đây tương quan với các mặt phẳng nào: trên- dưới, trước- sau, trong – ngoài, bên - giữa, đầu – đuôi, bụng – lưng, gan –mu (bàn tay), gan – mu (bàn chân), bên quay – bên trụ, gần –xa, phải – trái Nghiên cứu hình 3 và 4, xác định các động tác của từng hình và hệ thống hoá lại cử động của chi trên và chi dưới)
Trang 4Hình 3: các cử động của chi trên
Nguồn: Gray’s Anatomy for Student, Elsevier, 2005,
Trang 5Hình 4: các cử động của chi dưới
Nguồn: Gray’s Anatomy for Student, Elsevier, 2005,
Thuật ngữ GPH
Trong lịch sử phát triển, một phần lớn tên gọi các cấu trúc giải phẫu là theo tên của người phát hện ra cấu trúc đó như Ống Hunter (ống đùi),tam giác Scarpa (tam giác đùi) góc Louis (góc ức), khe Winslow (lỗ túi mạc nối) … Tính trung bình, mỗi cấu trúc (phức tạp) thường có khoảng 5 -10 tên Điều này là bất hợp lý vì không thể liên thông thông tin và gây khó khăn nhiều cho người học Từ cuối thế kỷ 19, các nhà giải phẫu học đã nhận ra điều này và bắt đầu nổ lực thống nhất thuật ngữ qua việc tổ chức các hội nghị để xây dựng các bảng danh pháp (nomina anatomica) như BNA (1893), JNA (1933) và đáng nhớ nhất là PNA (1955) vì bảng danh pháp này gần như thống nhất cho đến nay, rất ít sửa đổi mà phầ lớn là bổ sung từ mới Các thuật ngữ của
Trang 6PNA có các đặc điểm: mỗi cấu trúc có một tên, không sử dụng tên riêng, ngắn nhất nhưng có thông tin về cấu trúc
Các nguyên tắc đặt tên trong GPH: có 6 nguyên tắc chính để đặt tên :
- Đặt tên theo các vật có sẵn trong cuộc sống
- Đặt tên theo dạng hình học
- Đặt tên theo chức năng
- Đặt tên theo nông - sâu (so với bề mặt cơ thể)
- Đặt tên theo tương quan với 3 mặt phẳng GPH
Bên cạnh đó, cón có nhiều nguyên tắc phụ khác như đặt tên theo vị trí, theo chỗ bám cơ, theo so sánh Cần lưu ý là tên của một cấu trúc thường có thể được đặt bằng sự phối hợp nhiều nguyên tắc với nhau:
Tham khảo tài liệu 1(tr.17-18), và 2 (Tr15-16) , tìm hiểu kỹ hơn về các nguyên tắc, ứng dụng trong việc xác định cac nguyên tắc đặt tên được áp dụng trong các thuật ngữ sau: thần kinh quay, động mạch đùi sâu, cơ sấp tròn, cơ răng sau trên, cơ khép lớn, dải chậu – chày, gai chậu trước trên, Dây chằng gan- tá tràng …
Nội dung GPH đối với chương trình bác sĩ y khoa: Năm thứ nhất: Học phần Giải phẫu học Đại cương, 1 tín chỉ
(10 tiết LT, 10 tiết thực hành), giới thiệu sơ lược các hệ thống GPH, và khái niệm về các vùng – định khu Học phần này cung cấp những kiến thức căn bản nhất để sinh viên có thể tiếp cận các môn học khác trong y học Năm thứ hai, các học phần giải phẫu vùng đi kèm với các môn học khác như Mô – Phôi, sinh lý … để sinh viên tích hợp kiến thức
Đánh giá: đánh giá quá trình: kiểm tra giữa học phần
Đánh giá kết thúc: lý thuyết bằng trắc nghiệm khách quan 42 câu trên máy tính; thực hành: thi thực hành có cấu trúc theo mục tiêu (OSPE), 13 trạm, mỗi trạm 3 nhận định diền khuyết trong 1’30’’
Tài liệu tham khảo:
1 Nguyễn Quang Quyền, 2004, Bài giảng Giải phẫu học tập 1 và 2, tái bản lần, , NXB Y học, 11 -18
2 Nguyễn Quang Quyền, Phạmm Đăng Diệu, 2016, Giản yếu Giải phẫu người, NXB Y học, 11 -17
3 Richard L.Drake, Wayne Vogl, Adam W.M.Mitchell, 2005, Gray’s Anatomy for Student, Elsevier, 2-3,
470-471, 611-613
4 Stanley Monkhouse, 2005, Clinical Anatomy, Churchill Livingstone Elsevier, second edition, 7-17