1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu-luận-Mác-Lênin

38 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 65,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, sau khi giành được chính quyền, giai cấp vô sản cũng không thể có ngaychủ nghĩa xã hội mà “Cần phải có một thời kỳ quá độ khá lâu dài từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN

ĐIỂM BTL

% ĐIỂM BTL

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN

ĐIỂM BTL

% ĐIỂM BTL

Trang 4

Mục lục

Lời mở đầu iii

Chương I Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 1

1 Cơ sở lý luận của việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam 2

1.1 Quan điểm của C.Mác-Ănghen về thời kì quá độ 2

1.2 Quan điểm của Lênin về thời kỳ quá độ 3

1.3 Quan niệm của Đảng ta về sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa 4

2.Cơ sở thực tiễn để Việt Nam lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa 6

2.1 Xét trên phương diện lịch sử 6

2.1.1 Thế giới 6

2.1.2 Việt Nam 7

2.2 Phương diện chính trị 9

2.4 Kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn duy nhất đúng trong điều kiện mới 11

Chương II Đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 15

1 Đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 15

1.1 Trên lĩnh vực kinh tế 15

1.2 Trên lĩnh vực chính trị 16

2 Thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 17

Chương III Nội dung của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 19

1 Trên lĩnh vực kinh tế 19

2 Trên lĩnh vực chính trị 19

3 Trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa 20

Chương IV: Cái nhìn thực tế về "Công cuộc 30 năm đổi mới" trên lĩnh vực kinh tế và tình hình phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay 21

1.Những kết quả đạt được sau hơn 30 năm đổi mới tư duy kinh tế ở nước ta 21

1.1 Về tốc độ tăng trưởng kinh tế 21

1.2.Về kết quả huy động nguồn vốn đầu tư 21

1.3 Về tốc độ tăng kim ngạch xuất nhập khẩu 22

Trang 5

1.4 Về các vấn đề an sinh xã hội 22

2 Hạn chế và khó khăn của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới 24

3 Giải pháp 25

Chương V Kết luận 26

Danh mục tài liệu tham khảo 27

Trang 6

Lời mở đầu

1 Tính cấp thiết

Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải tạo xã hội tư bản thành xã hội chủ nghĩa bằng cách mạng Thời kỳ này là tất yếu vì quan hệ sản xuất

xã hội chủ nghĩa không ra đời trong lòng chủ nghĩa tư bản Chủ nghĩa tư bản chỉ chuẩn

bị những tiền đề vật chất để quá độ lên chủ nghĩa xã hội Công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa chỉ được thực hiện sau khi đã gạt giai cấp tư sản ra khỏi chính quyền và thiết lập được nền chuyên chính vô sản

Trang 7

Tuy nhiên, sau khi giành được chính quyền, giai cấp vô sản cũng không thể có ngay

chủ nghĩa xã hội mà “Cần phải có một thời kỳ quá độ khá lâu dài từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, vì cải tổ sản xuất là việc khó khăn, vì cần phải có thời gian mới thực hiện được những thay đổi căn bản trong mọi lĩnh vực của cuộc sống và vì phải trải qua một cuộc đấu tranh lâu dài quyết liệt mới có thể thắng được sức mạnh to lớn của thói quen quản lý theo kiểu tư sản và tiểu tư sản.” 1

Hiện nay, thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn thế giới nói chung vẫn đang tiếp diễn và con đường “phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ

tư bản chủ nghĩa” tại các nước chủ nghĩa xã hội nói riêng cũng có cơ sở lịch sử, thực tiễn sâu xa, vững chắc, mang tính quy luật khách quan, tất yếu và hoàn toàn khả thi Việt Nam trong xu thế chung của thế giới cũng đang tiến hành quá độ lên chủ nghĩa xãhội Đây là quá trình lâu dài và cũng có nhiều khó khăn Nhiều tài liệu khác đã nghiên cứu về vấn đề này nhưng mỗi tài liệu thì mới đề cập đến một khía cạnh của con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội Việc nghiên cứu đề tài này sẽ giúp ta có cái nhìn rõ ràng hơn về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay

2 Mục tiêu

Làm rõ:

- Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

- Đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

- Nội dung của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

3 Phương pháp

Sử dụng linh hoạt các phương pháp: trừu tượng hoá khoa học, logic và lịch sử, phântích và tổng hợp, phân tích thống kê, đưa ra những quan niệm và số liệu cụ thể Cụ thể:

- Thứ nhất sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp để đưa ra những quan niệm

về thời kì quá độ lển xã hội chủ nghĩa

1.V.I Lênin Toàn tập, tập 38, NXB Tiến Bộ, Matxcơva, 1978, tr.446.

Trang 8

- Thứ hai sử dụng phương pháp logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp để làm rõ tính tất yếu khách quan của thời kì quá độ lên xã hội chủ nghĩa

- Thứ ba dùng phương pháp trừu tượng hoá, phân tích thống kê để nói lên đặc điểm

và thực chất của thời kì quá độ

- Thứ tư dùng phương pháp phân tích và tổng hợp, phân tích thống kê, liệt kê số liệu

để nêu lên nội dung và tình hình cũng như giải pháp hiện nay của Việt Nam trong thời

kì quá độ lên xã hội chủ nghĩa

1.1 Quan điểm của C.Mác-Ănghen về thời kì quá độ

1.2 Quan điểm của Lênin về thời kỳ quá độ

1.3 Quan niệm của Đảng ta về sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế

độ tư bản chủ nghĩa

2.Cơ sở thực tiễn để Việt Nam lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế

độ tư bản chủ nghĩa

Trang 9

2.1.1 Thế giới

2.1.2 Việt Nam

2.2 Phương diện chính trị

2.3 Chúng ta kế thừa những yếu tố hợp lí của chủ nghĩa tư bản, không có nghĩa là

đi lên tư bản chủ nghĩa

2.4 Kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn duy nhất đúng trong điều kiện mới

Chương II Đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

1 Đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

1.1 Trên lĩnh vực kinh tế

1.2 Trên lĩnh vực chính trị

1.3 Trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa

2 Thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Chương III Nội dung của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

1 Trên lĩnh vực kinh tế

2 Trên lĩnh vực chính trị

3 Trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa

Chương IV: Cái nhìn thực tế về "Công cuộc 30 năm đổi mới" trên lĩnh vực kinh

tế và tình hình phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay

1.Những kết quả đạt được sau hơn 30 năm đổi mới tư duy kinh tế ở nước ta

1.1 Về tốc độ tăng trưởng kinh tế

1.2.Về kết quả huy động nguồn vốn đầu tư

1.3 Về tốc độ tăng kim ngạch xuất nhập khẩu

1.4 Về các vấn đề an sinh xã hội

Trang 10

2 Hạn chế và khó khăn của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

3 Giải pháp

Chương V Kết luận

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 11

Chương I Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Lịch sử phát triển của xã hội loài người là quá trình biến đổicủa nhừng hình thái kinh tế - xã hội kế tiếp nhau, thay thế nhau, từ thấp đến cao: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa

Sự phát triển tất yếu của lịch sử đó là do tác động của quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Đây là quy luật cơ bản của sự phát triển xã hội loài người

Từ xã hội cộng sản nguyên thủy, lực lượng sản xuất thấp kém, sản phẩm xã hội còn

ít, người nguyên thủy bắt buộc phải dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và phân phối kiểu bình quân mới tồn tại được Khi lực lượng sản xuất phát triển lên một mức nhất định, người lao động có khả năng sản xuất đủ mức sống tối thiểu và dư thừa đôi chút thù xuất hiện chế độ chiếm hữu nô lệ Quan hệ sản xuất phong kiến ra đời lại làm cho lực lượng sản xuất phát triển lên một mức mới Nhưng khi lực lượng sản xuất phát triển hơn nữa, khiến cho quan hệ sản xuất phong kiến trở nên lạc hậu, lỗi thời Do

đó cần phải có một quan hệ sản xuất khác phù hợp hơn là quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa

Nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa ngày càng phát triển, tính chát xã hội hóa lao động ngày càng cao, nhưng quan hệ sản xuất vẫn dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân khiến cho quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trở nên không phù hợp với lực lượng sản xuất do chính nó tạo ra Tình hình đó dẫn đến mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ngày càng gay gắt Và đến một mức độ nào đó, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa tất yếu bị phá vỡ, thay thế bằng một quan hệ sản xuất mới, phù hợp hơn,

đó là quan hê sản xuất xã hội chủ nghĩa

Mặt khác, trong quá trình hình thành và phát triển của nó, chủ nghĩa tư bản đã tạo ratiền đề vật chất - kỹ thuật ngày càng đầy đủ cho sự ra đời của một xã hõi mới, cao hơn

nó - xã hội chủ nghĩa Phân tích khoa học về sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa

tư bản, những mâu thuẫn nọi tại và xu hướng vận động của nó, C.Mác cho rằng

phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không thể tồn tại vĩnh viễn mà nó là sự quá độ của lịch sử

Trang 12

1 Cơ sở lý luận của việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế

độ chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam

1.1 Quan điểm của C.Mác-Ănghen về thời kì quá độ

Trong quan điểm cách mạng của Mác, tiến hành cách mạng vô sản là con đường dẫn tới sự thắng lợi của giai cấp công nhân đưa họ lên nắm chính quyền và thiết lập nền chuyên chính vô sản đánh dấu sự mở đầu một giai đoạn lịch sử mới, giai đoạn đi vào xây dựng một xã hội mới, giai đoạn quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội

Năm 1875, trong tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gôta, Mác đã trình bày hệ thống

những quan điểm của mình về tính chất thời kì quá độ, về vai trò và sự tiến hóa của nhà nước chuyên chính vô sản và sự phân chia giai đoạn trong sự phát triển của xã hội

cộng sản Mác viết: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa có một thời

kì cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia Thích ứng với thời kì đó là một thời kỳ quá độ chính trị, trong đó nhà nước không thể có cái gì khác hơn là chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản” 2 Ở đây Mác đã nêu rõ luận điểm về sự quá độ

từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản và về hai giai đoạn của chủ nghĩa cộng sản.Khái niệm “thời kỳ quá độ” của Mác gắn liền với học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, Mác nói thời kỳ quá độ giữa tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa, thời kỳ quá độ là thời kỳ “cải biến cách mạng từ xã hội nọ, sang xã hội kia” Hai xã hội đó có hai hình thái kinh tế - xã hội khác nhau nhưng nối tiếp nhau, song về tính chất lại hoàntoàn đối lập nhau, giữa chúng phải có một thời kỳ quá độ “cải biến từ xã hội nọ, sang

Trang 13

http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2015/31969/Qua-cải tạo của thời kỳ quá độ từ xã hội tư bản lên chủ nghĩa xã hội với những http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2015/31969/Qua-cải tạo của thời kì sau.

Tóm lại, từ những diễn giải trên ta có thể rút ra những kết luận sau:

- Sự cần thiết phải có thời kỳ quá độ để chuyển từ xã hội cũ - xã hội tư bản sang xã hội mới - xã hội chủ nghĩa, bởi vì các quan hệ xã hội chủ nghĩa không thể hình thành được trong lòng xã hội tư bản

- Nhà nước trong thời kỳ quá độ không phải cái gì khác hơn là sự chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản trong suốt thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản

- Thời kỳ quá độ vừa mang tính chất cách mạng của một sự chuyển biến sâu sắc vừamang tính chất quá độ Mác đã nhấn mạnh đến sự chuyển biến cách mạng từ xã hội cũ sang xã hội mới trong thời kỳ quá độ Vì vậy, mọi hình thức đấu tranh giai cấp, mọi biện pháp, thủ đoạn hoạt động của giai cấp vô sản trong thời kỳ này nhằm tạo dựng được sự chuyển biến về chất của xã hội Đồng thời chính Mác đã nhấn mạnh đến tính chất quá độ của thời kỳ này, trong đó cái gọi của xã hội cộng sản chưa phát triển trên

cơ sở riêng của mình Đây là sự chuyển từ xã hội cũ dựa trên chế độ công hữu, nó không thể diễn ra nhanh chóng, mà phải rất lâu Nhưng cụ thể là bao lâu? Thì Mác chưa nêu ra được

Như vậy, Mác đã nêu lên một vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận và thực tiễn rất lớn, muốn tiến lên chủ nghĩa cộng sản cần phải phân ra nhiều giai đoạn, tùy thuộc trình

độ phát triển của trình độ sản xuất chứ không thể phát triển chủ nghĩa cộng sản dưới dạng hoàn chỉnh lý tưởng là xóa ngay lập tức mọi tư hữu, giai cấp và bóc lột

1.2 Quan điểm của Lênin về thời kỳ quá độ

Những tư tưởng của Mác - Ănghen về thời kỳ quá độ đã được Lênin tiếp tục phát triển sáng tạo trong thời kỳ mới Lênin là người đầu tiên kế tục sự nghiệp của Mác và Ănghen trong điều kiện lịch sử mới, khi cuộc đấu tranh nhằm lật đổ chủ nghĩa tư bản

và xây dựng chủ nghĩa xã hội đã trở thành sự nghiệp thực tiễn, Lênin đã cụ thể hóa và

Trang 14

làm phong phú thêm quan điểm Macxit về thời kỳ quá độ Lênin đã bổ sung luận điểm của Mác - Ănghen về thời kỳ quá độ thể hiện ở hai nội dung sau:

- Lênin cho rằng cách mạng nổ ra và thắng lợi ở nước Nga (1917), sau đó nước Nga

đã đánh thắng cuộc bao vây của 14 nước đế quốc và các thế lực phản động trong nước (1919-1922) Sau đó Lênin đã đưa nước Nga vào thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã

hội Ông viết nhiều tác phẩm về thời kỳ quá độ ở nước Nga, trong đó ông viết “Thời

kỳ quá độ ở nước Nga là thời kỳ quá độ trực tiếp, và phải trải qua hai giai đoạn và rất lâu dài” 3 (thời kỳ quá độ của quá độ) Lênin nói “bắt những cây cầu nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội”

- Lênin cho rằng các nước kém phát triển nông nghiệp, lạc hậu, tiểu nông cũng có thể tiến lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa với điều kiện là những nước đó phải do Đảng cộng sản lãnh đạo và có một nước xã hội chủ nghĩa tiên tiến giúp đỡ Thời kỳ quá độ đó gọi là thời kỳ quá độ gián tiếp và rất lâu dài Lênin gọi

đó là thời kỳ quá độ đặc biệt của đặc biệt

1.3 Quan niệm của Đảng ta về sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa

Cách mạng nước ta không nằm ngoài quy luật ấy, với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, hiệp định Giơnevơ được kí kết, miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng Đảng ta

đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng cùng một lúc, đó là cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, trên thực tế đây là nét độc đáo của cách mạng chưa từng có từ trước tới nay, nhưng đồng thời cũng nói lên sự phức tạp của cách mạng Việt Nam Chưa từng cótiền lệ trong lịch sử mà chúng ta vẫn làm không có nghĩa là chúng ta sai, chúng ta mạohiểm Thực tiến lịch sử đã chứng minh điều đó hoàn toàn đúng đắn trong hoàn cảnh

3 Phạm Văn Chúc (14/8/2018) Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và thực tiễn trên thế giới một thế kỷ qua Truy cập từ

do-len-chu-nghia-xa-hoi-Ly-luan-cua.aspx

Trang 15

http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2018/51895/Thoi-ky-qua-lịch sử trong nước và quốc tế lúc bấy giờ Sau năm 1975 cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, bên cạnh những thành tựu đạt được chúng ta đã mắc phải một số sai lầm trong nhận thức và chỉ đạo ví như: chúng ta đề ra chủ trương tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội trong khi đất nước còn thiếu những tiền đề cần thiết, thực hiện tập thể hóa nông nghiệp một cách gượng ép, không tự nguyện đối với nông dân,…kết quả là đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội nghiêm trọng Trong hoàn cảnh đó yêu cầu đặt ra là phải có nhận thức đúng đắn về thời kỳ quá độ bỏ qua chế độ Vì thế đại hội IX của Đảng đã nhận định về thời kì quá độ ở Việt Nam nhưsau:

- Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa

- Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa

- Bỏ qua chế độ chế độ tư bản chủ nghĩa nhưng phải tiếp thu, kế thừa thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại

Nhân loại đã sáng tại ra cả một nền văn hóa, văn minh nhân loại, nhưng qua mỗi thời kỳ, mỗi quá trình, giai cấp đứng ở vị trí trung tâm của sự phát triển lại đặt dấu ấn của mình, đã “chạm khắc” vào những thành tựu chung ấy Giai cấp tư sản cũng không nằm ngoài quy luật chung đó Xét về một phương diện nào đó, giai cấp tư sản cũng có công nhất định trong lịch sử tiến hóa của nhân loại Song, tất cả những thành tựu có trong chủ nghĩa tư bản, đương nhiên không phải riêng của giai cấp tư sản mà là của cả nhân loại, trong đó có giai cấp tư sản Bởi vậy, đã là di sản văn hóa của nhân loại, chúng ta tuyệt đối không được quay lưng lại, thậm chí những gì cho dù là của riêng văn minh tư sản, thì cũng không được phép quay lưng lại mà phải biết tiếp thu, kế

thừa Không bao giờ chúng ta được quên lời dặn của C.Mác và Ănghen: “Đừng vì căm ghét chủ nghĩa tư bản mà khi hắt chậu nước dơ, lại hắt luôn cả đứa trẻ vừa được tắm gội sạch sẽ” 4 Những kinh nghiệm quản lý vốn, cơ sở hạ tầng, đặc biệt là khoa

4 (09/09/2013) Đồ án Vấn đề bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội ở

Việt Nam Truy cập từ

Trang 16

http://doc.edu.vn/tai-lieu/do-an-van-de-bo-qua-che-do-tu-ban-học-công nghệ mà nhân loại đã đạt được trong chủ nghĩa tư bản nhất thiết phải được tiếp thu và kế thừa để tăng thêm sức mạnh nội lực cho đổi mới và phát triển.

2.Cơ sở thực tiễn để Việt Nam lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa

2.1 Xét trên phương diện lịch sử

2.1.1 Thế giới

Sự phát triển tuần tự theo từng nấc thang một là tính trên phạm vi toàn thế giới, nhưng đối với từng quốc gia không nhất thiết phải như vậy Trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội cũng đã có những quốc gia quá độ bỏ qua một hay một vài hình thái kinh tế xã hội mà không đi tuần tự, ví như nước Mỹ sau cuộc nội chiến Nam - Bắc (1861-1865), nước Mỹ đã bỏ qua giai đoạn phát triển chế độ phong kiến mà tiến thẳng lên chủ nghĩa tư bản Ở Việt Nam không tồn tại chế độ chiếm hữu nô lệ với tư cách là một chế độ đặc trưng, mà Việt Nam chỉ tồn tại chế độ nô tỳ Như vậy, sự phát triển bỏ qua một giai đoạn đã có tiền lệ trong lịch sử

Thế giới sau cách mạng tháng Mười cũng đã có nhiều nước đi theo chế độ tư bản chủ nghĩa, nhưng những nước thành công không phải là nhiều ở những nước đó vẫn nghèo nàn và lạc hậu, bất bình đẳng Điều đó chứng minh rằng chủ nghĩa tư bản khôngphải là một chế độ có thể giải phóng triệt để con người khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân

Sau chiến tranh thế giới thứ hai thì một loạt các nước giành được độc lập dân tộc đã

đi lên chủ nghĩa xã hội hay định hướng phát triển theo chế độ xã hội chủ nghĩa Đây là một sự khích lệ rất lớn các nước đang đấu tranh để giành độc lập dân tộc

2.1.2 Việt Nam

Ngay sau khi thực dân Pháp đặt ách thống trị trên lãnh thổ Việt Nam, nhân dân ta đãđứng lên chống Pháp Những cuộc đấu tranh khắp 3 miền Bắc - Trung - Nam, những

chu-nghia-len-chu-nghia-xa-hoi-o-viet-nam-35596/

Trang 17

ông vua đã đứng lên chống Pháp, rồi các phong trào theo xu hướng tư sản đầu thế kỷ

XX do ảnh hưởng cách mạng dân chủ tư sản phương Tây và cách mạng Tân Hợi (Trung Quốc) nhưng cuối cùng đều thất bại

Cụ Phan Bội Châu về cuối đời đã nhận thức được con đường cách mạng Việt Nam,

Cụ viết: “May thay, đang giữa lúc khói bụi, mây mù, thình lình có một trận gió xuân thổi tới Chính giữa lúc trời khuya đất ngủ, thình lình có một tia thái dương mọc ra Trận gió xuân ấy, tia thái dương ấy là chủ nghĩa xã hội vậy Chủ nghĩa xã hội là xe tăng của nhà triết học để xông vào thành lũy của chủ nghĩa đế quốc, mà cũng là toán quân vô địch của nhà nhân từ để phá tan đồ đảng của chủ nghĩa tư bản” 5

Trong hoản cảnh đất nước bị quân xâm lược giày xéo, nước mất nhà tan, nhân dân khổ cực lầm than Bác Hồ của chúng ta đã ra đi tìm đường cứu nước, Người đã đi qua nhiều nước đế quốc, thuộc địa cũng như nửa thuộc địa Quá trình trình khảo sát cách

mạng đầy gian khổ đó người đã rút ra nhận định rằng: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản.” 6, bởi vì

“Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người có cuộc sống

tự do, bình đẳng, bác ái thực sự” 7

Nhân dân Việt Nam đã từng sống dưới chế độ phong kiến, chế độ thực dân Pháp đã hiểu được bản chất của chế độ phong kiến, của chế độ tư bản chủ nghĩa, do vậy, đã chấp nhận hy sinh, mất mát để giành cho được độc lập dân tộc và tiếp đó tiến hành cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ để bảo bảo vệ chính quyền nhân dân Ngày nay, chúng ta phải giữ cho được chính quyền của giai cấp công nhân

và nhân dân lao động Muốn thực hiện được điều đó chỉ có con đường duy nhất là đi lên chủ nghĩa xã hội

Thực tiễn cách mạng các nước xã hội chủ nghĩa trước đây đã tạo ra sự phát triển về kinh tế, chăm lo tới nhu cầu kinh tế, giáo dục, nâng cao mức sống cho nhân dân lao động và thực tiễn phũ phàng do sự đổ vỡ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở những nước này trong những năm qua đã đưa lại một hậu quả nặng nề cho nhân dân lao động như: chiến tranh, nghèo đói, thất nghiệp, mất an ninh,…càng củng cố quyết tâm đi lên chủ

5 (1990) Phan Bội Châu: Toàn tập - tập 4 Huế: NXB Thuận Hóa.

6 (2011) Hồ Chí Minh: Toàn tập - tập 9 Hà Nội: NXB Chính Trị Quốc gia - Sự thật.

7 (2011) Hồ Chí Minh: Toàn tập - tập 1 Hà Nội: NXB Chính Trị Quốc gia - Sự thật.

Trang 18

nghĩa xã hội của Việt Nam, chúng ta cần hiểu thực chất của quá độ “bỏ qua” chế độ tư bản chủ nghĩa, không phải là sự nhảy cóc, đốt cháy giai đoạn, phủ nhận sạch trơn những yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa mà bỏ qua hậu quả mà chế độ này tạo ra Giai đoạn là một nấc thang của sự phát triển, chúng ta không

thể nhảy cóc bỏ qua các nấc thang đó C.Mác đã khẳng định: “Một xã hội, ngay cả khi phát hiện được quy luật tự nhiên của sự vận động của nó…cũng không thể nào bỏ qua các giai đoạn tự nhiên hay dùng sắc lệnh để xóa bỏ những giai đoạn đó” 8

Trong thưc tiễn cách mạng Việt Nam, không thể tiến thẳng từ xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất còn thấp kém lên chủ nghĩa xã hội mà bỏ qua những khâu trung gian, những hình thức quá độ cần thiết để phát triển các yếu tố hợp thành xã hội tương ứng với trình độ mà giai đoạn tư bản chủ nghĩa của sự phát triển đãđạt được Do đó, bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay cũng phải diễn

ra theo cái logic tất yếu đó, phải thực hiện được những chuyển biến cơ bản Điều đó đòi hỏi chúng ta phải sử dụng và phát triển mọi phương diện của đời sống xã hội như:

sự phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, trong đó có kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, sự áp dụng các hình thức quản lý theo cơ chế thị

trường, có sự cạnh tranh như đấu thầu cổ phần, sử dụng một số hình thức pháp quyền

8 Thế Nghĩa Nguyễn (2004) Tuyển tập tạp chí Khoa học xã hội Tp.Hồ Chí Minh:

NXB Khoa học Xã hội

Trang 19

nghĩa xã hội, không chấp nhận chế độ tư bản chủ nghĩa Đó là sự lựa chọn chính trị tự nguyện của tuyệt đại đa số nhân dân và các dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, phù hợp với xu thế của thời đại.

Với những thành quả của cuộc cách mạng tháng Tám 1945, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân ta đã nêu lên một nguyên

lý mới của thời đại Đó là: chủ nghĩa tư bản có thể đánh bại tại vùng ngoại vi, trước khi nó bị đánh bại tại chính quê hương nó Sau những cuộc chiến tranh chống xâm lược, nhân dân Việt Nam hơn ai hết, hiểu rõ thực chất của chủ nghĩa tư bản, nên khôngthể không tìm kiếm con đường phát triển đất nước bỏ qua chế độ đó Bao nhiêu thành quả cách mạng giành được bằng xương máu của nhiều thế hệ người Việt Nam không thể lại đi theo con đường chủ nghĩa tư bản để rồi tự mình quay trở lại thân phận bị áp bức, bóc lột, nô lệ

Yếu tố chính trị có vai trò quyết định trong việc thu hút và chuyển hóa nhân tố thời đại thành nguồn lực bên trong để xây dựng chủ nghĩa xã hội ngay cả trong điều kiện không có chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên xô (cũ) và Đông Âu Nói cách khác, trong điều kiện cụ thể ở nước ta hiện nay cái tất yếu chính trị giữ vị trí hàng đầu, nhưng xét đến cùng, trên quy mô thời đại thì nhân tố chính trị này cũng bắt nguồn từ nguyên nhân kinh tế Cái tất yếu chính trị ấy sẽ thúc đảy sự ra đời những cơ sở kinh tế của chế

độ mới ở nước ta

Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Điều đó có nghĩa là, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, quan hệ bóc lột vấn còn, nhưng nó không phải là tuyệt nhiên, không phải là quan hệ sản xuất thống trị Điều này hoàn toàn đúng, cả về mặt lý luận cả về mặt thực tiễn Rằng với nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó có cả thành phần kinh tế tư bản tư nhân và tư bản nhà nước thì đương nhiên, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa vẫn còn Song, do thành phần kinh tế nhà nước cùng với kinh

tế hợp tác xã là nền tảng của nền kinh tế quốc dân, nên quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa không thể trở thành quan hệ sản xuất thống trị được, mà trái lại, quan hệ sản xuất này càng được củng cố và ngày càng xác lập vị trí thống trị của mình

Ngày đăng: 29/06/2021, 18:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Đăng Doanh. VIỆT NAM SAU 30 NĂM ĐỔI MỚI: THÀNH TỰU VÀ TRIỂN VỌNG, Phần I, mục 3. Tp.Hồ Chí Minh: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: VIỆT NAM SAU 30 NĂM ĐỔI MỚI: THÀNH TỰU VÀ TRIỂNVỌNG, Phần I, mục 3. T
3. Dương Phú Hiệp. (2001). Tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam
Tác giả: Dương Phú Hiệp
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2001
7. (1990). Phan Bội Châu: Toàn tập - tập 4. Huế: NXB Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Bội Châu: Toàn tập
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 1990
8. (2011). Hồ Chí Minh: Toàn tập - tập 1. Hà Nội: NXB Chính Trị Quốc gia - Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh: Toàn tập - tập 1
Nhà XB: NXB Chính Trị Quốc gia - Sựthật
Năm: 2011
9. (2011). Hồ Chí Minh: Toàn tập - tập 9. Hà Nội: NXB Chính Trị Quốc gia - Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh: Toàn tập - tập 9
Nhà XB: NXB Chính Trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2011
10. Thế Nghĩa Nguyễn. (2004). Tuyển tập tạp chí Khoa học xã hội. Tp.Hồ Chí Minh: NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập tạp chí Khoa học xã hội
Tác giả: Thế Nghĩa Nguyễn
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2004
11. Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Hà Nội: NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Lao động
13. (2005). V.I.Lênin: Toàn tập. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: V.I.Lênin: Toàn tập
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2005
14. (1995). C.Mác và Ph.Angwghen: Toàn tập - tập 3. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác và Ph.Angwghen: Toàn tập - tập 3
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 1995
15. (1995). C.Mác và Ph.Angwghen: Toàn tập - tập 23. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác và Ph.Angwghen: Toàn tập - tập 23
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 1995
16. (2008). Một số chuyên đề lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam - tập 3. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chuyên đề lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam - tập 3
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2008
17. Tổng cục Thống kê. Báo cáo phát triển kinh tế - xã hội các năm. Truy cập từ https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=621&ItemID=19037 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển kinh tế - xã hội các năm. Truy cập từ
19. Kinh tế 2017 - 2018 Việt Nam và Thế giới. Hà Nội: NXB Thông tin và Truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế 2017 - 2018 Việt Nam và Thế giới
Nhà XB: NXB Thông tin và Truyền thông
4. Phú Hiệp Dương, Văn Hà Vũ & Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản (Việt Nam) Khác
12. (1996). Dự thảo một số vấn đề về chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại ngày nay Khác
18. Báo cáo phát triển kinh tế - xã hội các năm trên trang website của Chính phủ và Bộ Kế hoạch và Đầu tư Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w