Bài tập lớn học lỳ bộ môn Triết học Mác Lênin, giúp các bạn hiểu sâu sắc hơn về môn học, đồng thời vận dụng sáng tạo để hoàn thành tốt bài tiểu luận của mình, vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn để lý giải về sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở việt nam.
Trang 1MỤC LỤC:
Trang
LỜI MỞ ĐẦU………2
NỘI
DUNG……… 2
CHƯƠNG I QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN VỀ
NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
……….2
……… 2
……….2
……… 3
2 Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận với thực tiễn
……….3
2.1 Thực tiễn đối với lý luận ………
4 2.2 Lý luận đối với thực tiễn …… ……… 5
3 Ý nghĩa phương pháp luận ……… 6
CHƯƠNG II VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT
GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ LÝ GIẢI VỀ SỰ LỰA CHỌN
CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
………6
1 Thực tiễn nước nhà khi lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ……
6
2 Cơ sở lý luận của sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước
ta……… 9
Trang 23 Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn vào con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta……… 10
PHẦN KẾT LUẬN ……….
LỜI MỞ ĐẦU
Triết học ra đời cách đây gần 3000 năm ( từ khoảng thế kỷ VIII đến VI TCN ) nhưng cho đến nay Triết học vẫn chiếm một vị trí hết sức quan trọng, là khoa học của mọi khoa học Đặc biệt sự ra đời của Triết học Mác- Lênin vào những năm 40 của thế kỉ XIX với phép biện chứng duy vật đã đưa Triết học trở thành một bộ phận khăng khít và không thể tách rời với sự phát triển của đời sống xã hội Những vấn đề triết học về phương pháp biện chứng ( với những nguyên lý và các cặp phạm trù), hay về lí luận nhận thức … luôn là cơ
sở, nền tảng định hướng, là tôn chỉ cho hoạt động thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội Một trong những nguyên tắc tôn chỉ, quan trọng bậc nhất của Triết học Mác-Lênin chính là nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
CHƯƠNG I : QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN
VỀ NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.
1 Những khái niệm cơ bản
1.1 Tổng quan về lý luận
a Khái niệm
Lý luận là kinh nghiệm đã được khái quát trong ý thức của con người, là toàn
bộ tri thức về thế giới khách quan, là hệ thống tương đối độc lập của các tri thức Nói cách khác lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật
Trang 3của các sự vật, hiện tượng được biểu đạt bằng hệ thống nguyên lý, quy luật, phạm trù
b Đặc trưng
Lý luận có tính hệ thống, tính khái quát cao, có tính logic chặt chẽ
Cơ sở của lý luận là những tri thức kinh nghiệm thực tiễn, không có kinh nghiệm thực tiễn thì không có cơ sở để khái quát lý luận
c Các cấp độ lý luận
Triết học Mác- Lênin khẳng định lý luận là kết quả của quá trình nhận thức Quá trình nhận thức đi từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng Nhận thức cảm tính ( trực quan sinh động ) là giai đoạn đầu, trình độ thấp của quá trình nhận thức, nó phản ánh trực tiếp, cụ thể, sinh động hiện thực khách quan vào các giác quan của con người bao gồm 3 hình thức cơ bản: cảm giác, tri giác và biểu tượng Nhận thức lý tính ( tư duy trừu tượng )là giai đoạn cao, trình độ cao của quá trình nhận thức,
nó được hình thành từ những tài liệu do nhận thức cảm tính đem lại, bao gồm 3 hình thức cơ bản: khái niệm, phán đoán và suy luận Chính vì thế lý luận là kết quả của quá trình phát triển cao của nhận thức, là trình độ cao của nhận thức
1.2 Tổng quan về thực tiễn
a Khái niệm
Thực tiễn là phạm trù cơ bản trong lí luận nhận thức mác-xít V.I Lê-nin cho rằng “ Quan điểm về đời sống, về thực tiễn phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản nhất của lý luận nhận thức”.Triết học Mác khẳng định:
Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử- xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội
b Đặc trưng
Thực tiễn chỉ là những hoạt động vật chất cảm tính của con người
Thực tiễn là hoạt động chỉ diễn ra trong xã hội
Là hoạt động có tính mục đích nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội để phục vụ con người
c Hình thức hoạt động của thực tiễn
Có 3 hình thức cơ bản:
- Hoạt động sản xuất vật chất - là hoạt động cơ bản, đầu tiên của thực tiễn Là hoạt động mà con người sử dụng những phương tiện thích hợp tác động vào tự
Trang 4nhiên để tạo ra của cải, vật chất nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội
- Hoạt động chính trị xã hội - là hoạt động của các tổ chức cộng đồng người khác nhau nhằm cải biến các mối quan hệ xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển
- Thực nghiệm khoa học - là một hình thức đặc biệt của thực tiễn Là hoạt động được tiến hành trong điều kiện do con người tạo ra gần giống, giống hoặc lặp lại những trạng thái của tự nhiên và xã hội nhằm xác định các quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu
2 Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn ( Nguyên tắc thống nhất giữa
lý luận và thực tiễn
Thực tiễn và lý luận luôn thống nhất biện chứng với nhau, đòi hỏi có nhau, nương tựa vào nhau, tác động qua lại với nhau, trong đó thực tiễn giữ vai trò
quyết đinh Hồ Chí Minh khẳng định “ Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”.
2.1 Thực tiễn đối với lý luận
Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của nhận thức
Trong quá trình hoạt động thực tiễn luôn luôn nảy sinh các vấn đề đòi hỏi con người phải giải đáp, do đó nhận thức được hình thành Thông qua hoạt động thực tiễn mà con người tự hoàn thiện và phát triển thế giới quan ( tạo điều kiện cho nhận thức cao hơn), cũng từ đó mà não bộ con người cũng ngày càng phát triển hơn, các giác quan ngày càng hoàn thiện Thực tiễn là nguồn tri thức nhưng cũng đồng thời là đối tượng của nhận thức Chính hoạt động thực tiễn
đã đặt ra các nhu cầu cho nhận thức, tạo ra các phương tiện hiện đại giúp con người đi sâu tìm hiểu tự nhiên
Thực tiễn là động lực của nhận thức
Ngay từ đầu, nhận thức đã bắt nguồn từ thực tiễn, do thực tiễn quy định Mỗi bước phát triển của thực tiễn lại luôn luôn đặt ra những vấn đề mới cho nhận thức Thực tiễn trang bị những phương tiện mới, vận động và đề ra những nhu cầu, nhiệm vụ cấp bách, rà soát nhận thức đòi hỏi các nhà lý luận phải không ngừng giải quyết, thúc đẩy nhận thức, lý luận phát triển
Thực tiễn là mục đích của nhận thức
Hoạt động nhận thức, lý luận không có mục đích tự thân mà phải nhằm trở lại phục vụ thực tiễn Lý luận chỉ có ý nghĩa đích thực khi chúng được vận dụng
Trang 5vào thực tiễn, phục vụ thực tiễn, làm biến đổi thực tiễn Nhận thức chỉ trở về hoàn thành chức năng của mình khi nó chỉ đạo hoạt động thực tiễn, giúp hoạt động thực tiễn đạt hiệu quả hơn và cũng chỉ có thông qua hoạt động thực tiễn thì tri thức con người mới thể hiện sức mạnh vủa mình Do vậy, thực tiễn chính
là thước đo đánh giá giá trị của lý luận
Thực tiễn là tiêu chuẩn của nhận thức
Lý luận có thể phản ánh đúng hoặc không đúng hiện thực khách quan Để đánh giá lý luận đó đúng hay sai phải được kiểm nghiệm thông qua thực tiễn Thông qua thực tiễn con người mới vật chất hoá được tri thức, hiện thực hoá được tư tưởng, mới biết được nhận thức, lý luận của mình là đúng hay sai, và cũng từ
đó thì những lý luận đúng, phù hợp sẽ được bổ sung vào kho tàng tri thức nhân loại, những kết luận chưa phù hợp với thực tiễn thì tiếp tục điều chỉnh , bổ sung hoặc nhận thức lại
Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý
Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý khi thực tiễn đạt đến tính toàn vẹn của nó Tính toàn vẹn của thực tiễn là thực tiễn là thực tiễn đã trải qua quá trình tồn tại, vận động, phát triển, chuyển hoá Đó là chu kỳ tất yếu của thực tiễn Thực tiễn
có nhiều giai đoạn phát triển khác nhau Nếu lý luận chỉ khái quát một giai đoạn nào đó, một bộ phận nào đó của thực tiễn thì lý luận có thể xa rời thực tiễn Chính vì thế chỉ khi nào lý luận phản ánh được tính toàn vẹn của thực tiễn thì mới đạt đến chân lý
Đánh giá vai trò của thực tiễn đối với lý luận, V.I.Lênin viết “ Thực tiễn cao hơn nhận thức, lý luận Vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến mà còn của tính hiện thực trực tiếp”.
2.2 Lý luận đối với thực tiễn
Lý luận có thể thúc đẩy tiến trình phát triển của thực tiễn nếu đó là lý luận khoa học và ngược lại nó có thể kìm hãm sự phát triển của thực tiễn nếu đó là lý luận phản khoa học, phản động, lạc hậu
Lý luận khoa học sẽ trở thành kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn Nó hướng dẫn, chỉ đạo, soi sáng cho thực tiễn, vạch ra phương pháp giúp
hoạt động thực tiễn đi đến thành công Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng “ Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi” Lý luận đem lại
cho thực tiễn những tri thức đúng đắn về những quy luật vận động và
Trang 6phát triển của thế giới khách quan, giúp con người xác định đúng mục tiêu để hành động có hiệu quả, tránh được những sai lầm, vấp váp
Lý luận khoa học thâm nhập vào hoạt động của quần chúng tạo nên sức mạnh vật chất, điều chỉnh hoạt động thực tiễn, giúp cho hoạt động của con người trở nên tự giác, chủ động, tiết kiệm được thời gian, công sức, hạn chế những mò mẫm, tự phát Lý luận còn giáo dục, thuyết phục, động viên và tập hợp quần chúng
Lý luận khoa học dự kiến sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng trong tương lai, từ đó chỉ ra phương hướng mới cho sự phát triển
Lý luận cách mạng có vai trò to lớn đối với thực tiễn cách mạng, V.I.Lênin cho
rằng “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng”, Mác thì nhấn mạnh “ Lý luận khi thâm nhập vào quần chúng thì nó biến thành lực lượng vật chất”.
3 Ý nghĩa phương pháp luận
Việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn có ý nghĩa rất quan trọng, giúp chúng ta tránh được bệnh kinh nghiệm cũng như bệnh giáo điều, từ đó rút ra những quan điểm đúng đắn trong nhận thức cũng như rong cuộc sống
Trước hết, cần phải quán triệt quan điểm thực tiễn Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, sâu sát thực tiễn, tổ chức hoạt động thực tiễn để triển khai lý luận, phải coi công tác tổng kết thực tiễn để bổ sung phát triển lý luận Việc nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học đi đôi với hành, tránh tình trạng quan liêu, bàn giũa sách vở,
xa rời thực tiễn
Đồng thời cần phải phát huy vai trò của lý luận đối với thực tiễn Phát huy vai trò của lý luận yêu cầu phải nâng cao trình độ tư duy lý luận, đổi mới phương pháp tư duy, chuyển từ tư duy kinh nghiệm sang tư duy lý luận, từ tư duy siêu hình, sang tư duy biện chứng duy vật, đổi mới công tác lý luận, hướng công tác lý luận vào những vấn đề do cuộc sống đặt ra, làm rõ những căn cứ khách quan
CHƯƠNG II : VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ LÝ GIẢI VỀ SỰ LỰA
Trang 7CHỌN CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM.
Sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với quy luật chung của các nước đi lên chủ nghĩa xã hội, phù hợp với điều kiện lịch sử của cách mạng Việt Nam, của thực tiễn quốc gia Đồng thời
đó cũng là một tất yếu khách quan của lịch sử, được thể hiện trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn
1 Thực tiễn nước nhà khi lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
Sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một quy luật tất yếu, nó hoàn toàn phù hợp với thực tiễn nước nhà, là sự lựa chọn có chọn lọc, tìm hiểu, đưa ra quyết định thành lập và kiên định theo chủ nghĩa xã hội
Thực tiễn nước ta vào những năm giữa thế kỷ XIX, đã bị các nước đế quốc phương Tây lăm le, xâm lược (Thực dân Pháp 1858), chế độ phong kiến mục ruỗng, trên đà suy thoái, các cuộc khởi nghĩa, phong trào yêu nước của các sĩ phu (như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,…) nổ ra song đều lâm vào bế tắc
và thất bại Nguyên do là vì con đường cứu nước mà họ lựa chọn không phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, lịch sử nước nhà lúc bấy giờ Giữa tình hình
đó thì ngày 5/6/1911, Nguyễn Tất Thành (sau này Chủ tịch nước đầu tiên của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đã ra đi tìm đường cứu nước, sau
nhiều năm bôn ba ở nước ngoài thì đến tháng 7/1920; Người đã bắt gặp Luận
cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin, tìm ra con đường chân lý để
giải phóng dân tộc, Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản”, từ đó Người đã đi theo chủ nghĩa cộng sản, bắt đầu hình thành tư tưởng về chủ nghĩa
xã hội, trên cơ sở đó Người quyết định lựa chọn con đường phát triển của cách mạng Việt Nam là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến triển lên cách mạng chủ nghĩa xã hội, tích cực truyền bá tư tưởng Mác-Lênin về nước Tình hình trong nước lúc đó đang phát triển theo hai khuynh hướng đấu tranh: tư sản và vô sản Song với sự thất bại của Khởi nghĩa Yên Bái (2/1929) đã chấm dứt ngọn cờ yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản Công cuộc giải phóng đất nước lúc bấy giờ chỉ còn duy nhất một khuynh hướng phù hợp với quy luật khách quan, với thời đại và cách mạng Việt Nam, đó chính là khuynh hướng vô sản Do vậy, vào tháng 2/1930, Nguyễn Ái Quốc đã đứng ra thành
Trang 8lập nên Đảng Cộng sản Việt Nam – chính đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng nước nhà đi đến thắng lợi Cũng trong thời điểm thành lập Đảng, Người đã khẳng định tính chất cách mạng Đông Dương là cách mạng tư sản dân quyền, sau đó chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa trong
Chính cương vắn tắt do Người soạn thảo năm 1930 Từ đó cho đến khi cách
mạng Tháng Tám thành công rực rỡ, Người đã vận dụng thống nhất giữa lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học, Việt Nam hoá, phù hợp với thực tiễn nước nhà
Với việc xác định và lựa chọn con đường đúng đắn, nên tháng Tám năm
1945 nước ta đã giành được độc lập từ tay đế quốc Nhật, giải phóng con người khỏi cảnh nô lệ lầm than, đưa nhân dân “rũ bùn đứng dậy sáng loà” Thế nhưng xuất phát điểm của nước ta ở giai đoạn ấy là rất thấp, từ một nước vốn
là nước thuộc địa nửa phong kiến, một xã hội tiền tư bản chủ nghĩa (có những yếu tố của giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản với nền sản xuất nhỏ lẻ là chủ yếu), kinh tế thì lạc hậu, trì trệ, nhỏ giọt; chính trị thì chưa ổn định (chính quyền lâm thời non trẻ, thế lực thù địch và phản động trong ngoài lăm le), dân trí thấp kém (hơn 90% dân số không biết chữ),…Với những đặc điểm và tình hình đất nước như vậy đã quy định cả nội dung lẫn hình thức xây dựng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Do vậy, khi nói về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Bác Hồ từng nhấn mạnh: “Đặc điểm to nhất của nước ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội mà không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” Với đặc điểm bao trùm này đã quy định loại hình phát triển của nước ta khi tiến lên chủ nghĩa xã hội là loại hình “phát triển rút ngắn” theo phương thức quá độ gián tiếp Thực tiễn cho thấy, việc Việt Nam lựa chọn con đường phát triển bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa là một tất yếu Bởi lẽ trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, chúng ta đã thấy rõ bản chất của chế độ tư bản chủ nghĩa là một chế độ áp bức, bóc lột và nô dịch con người Mặc dù tiến bộ hơn chế độ phong kiến, có nhiều điều chỉnh về mặt lợi ích, giải quyết có hiệu quả về phát triển kinh tế cũng như một số vấn đề xã hội song với chế độ tư hữu sản xuất, con người vẫn chịu cảnh áp bức, vẫn có cảnh giai cấp thống trị chèn ép con người, chênh lệch giàu nghèo là rất lớn, phân biệt màu
da, chủng tộc vẫn chưa được khắc phục,…Do vậy, chủ nghĩa tư bản không phải là một xã hội mà Việt Nam muốn hướng tới, trong khi đó chủ nghĩa xã
Trang 9hội mới triệt để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người khỏi ách áp bức bóc lột, xoá bỏ triệt để chế độ chiếm hữu tư nhân, xác lập chế
độ công hữu về tư liệu sản xuất, đem lại cuộc sống ấm no,tự do, hạnh phúc, đem lại vị trí làm chủ chân chính cho người lao động Song không phải không qua chủ nghĩa tư bản là vứt bỏ, là phủ định sạch trơn mọi thành tựu của văn hoá và văn minh nhân loại, mọi tiến bộ khoa học – kỹ thuật mà loài người đã đạt được trong chế độ tư bản chủ nghĩa Chưa kể đến, nước ta vốn ở điểm xuất phát thấp, từ xã hội thuộc địa nửa phong kiến đi lên nên càng phải chú trọng khai thác, vận dụng, phát huy những giá trị, những tri thức, những thành tựu của tư bản chủ nghĩa, từ đó áp dụng vào thực tiễn xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta Thứ hai,“tiến thẳng” lên chủ nghĩa xã hội ở đây mang nghĩa chỉ là bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, song để tiến tới chủ nghĩa xã hội thì chúng ta nhất định phải “kinh qua” một thời kỳ phát triển đó là chế độ dân chủ nhân dân; mặt khác với hoàn cảnh, điều kiện và trình độ của nước ta thì “tiến thẳng” lên chủ nghĩa xã hội đòi hỏi phải tiến dần, từ từ, từng bước một, cố gắng đi nhanh và hoàn thành kịp chỉ tiêu để bắt kịp thế giới, nhưng phải đúng với quy luật, không thể chủ quan, duy ý chí, cũng không thể đốt cháy giai đoạn làm bừa, làm ẩu Đi lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình lâu dài cả về thời gian lẫn quy cách, không phải muốn tiến lên là tiến lên được Thứ ba, điều kiện không thể thiếu cho phép nước ta lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội,
đó chính là sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – trải qua 2 cuộc kháng chiến, vị trí, vai trò của Đảng đã được khẳng định và trở thành nhân tố hàng đầu cho quá trình đi lên xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Nhà nước chuyên chính cách mạng của giai cấp công nhân, nông dân đã được thiết lập và được củng cố qua công cuộc cứu quốc và kiến quốc Như vậy, việc nước ta lựa chọn đi lên chủ nghĩa xã hội là hoàn toàn hoàn toàn có cơ sở khoa học, phù hợp với thực tiễn nước nhà, với lý luận của chủ nghĩa cộng sản, là sự lựa chọn của chính lịch sử Việt Nam
2 Cơ sở lý luận của sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Trên cơ sở điều kiện thực tiễn của Việt Nam, ta thấy rõ việc nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu, song không phải lựa chọn đi lên mà không có căn cứ Ngược lại, nước ta đã áp dụng thành công lý luận Mác-Lênin, trên cơ
Trang 10tình hình nước Nga, C.Mác đã cho rằng sự tồn tại đồng thời của nền kinh tế tư bản đã cho phép nước Nga áp dụng những thành tựu mà chế độ đó đạt được
mà không phải đi qua chủ nghĩa tư bản Bổ sung cho ý kiến của Mác, Ph.Ăngghen đã đề cập đến điều kiện tiên quyết cho khả năng tiến lên xã hội chủ nghĩa mà không kinh qua tư bản, đó chính là sự thắng lợi của giai cấp vô sản ở các nước phương Tây Đặc biệt với sự thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga 1917 đã chứng minh chế độ không tưởng - xã hội chủ nghĩa là có thật chứ không còn là lý thuyết suông, cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng của các nước thuộc địa trên thế giới, V.I.Lênin cũng đã khẳng định tính tất yếu của việc tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn tư bản, ông nói: “Với
sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, lạc hậu có thể tiến tới chế độ
Xô Viết và qua những giai đoạn phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản mà không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” Trên cơ sở
lý luận và quan điểm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu bản chất, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội một cách sâu sắc và sáng tạo Trong tư tưởng của Người, chủ nghĩa xã hội là “ một xã hội không có chế độ người bóc lột người, một xã hội bình đẳng, ai cũng phải lao động và có quyền lao động, ai làm nhiều hưởng nhiều, ai làm ít hưởng ít, một xã hội phát triển ở trình độ cao về văn hoá, đạo đức, một xã hội công bằng,…Là một xã hội do nhân dân lao động làm chủ” Địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ Như vậy, với việc tiếp cận lý luận đúng đắn, lý tưởng chân chính, Người đã tìm ra con đường giải phóng dân tộc phù hợp với lịch sử nước nhà, với quy luật khách quan Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã vận dụng sáng suốt lý luận Mác-Lênin vào thực tiễn Việt Nam, tạo tiền đề vững mạnh cho sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa ở đất nước hình chữ S
3 Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Thực tiễn Việt Nam trong hơn một thế kỷ qua đã cho thấy con đường kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu khách quan của dân tộc, là chân lý, là động lực xuyên suốt toàn bộ tiến trình cách mạng nước nhà
Sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn của lịch sử dân tộc, của Đảng ta, của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, của toàn thể nhân dân Minh