Xét trong Điều 21a Công ước Viên 1969, ĐƯQT được hiểu là ‘‘một hiệp định quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong m
Trang 1.ĐBỘ NGOẠI GIAO
BỘ NGOẠI GIAO
HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
thực hiện Hiệp định EVFTA
Giảng viên : Cô Nguyễn Hoàng Anh Sinh viên thực hiện : Vũ Thị Phương Thảo
Mã số sinh viên : LQT44B-051-1721
Hà Nội, 12/2020
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU
Chương 1 Khái quát chung về Điều ước quốc tế
1 Định nghĩa và đặc điểm của Điều ước quốc tế
2
Các học thuyết về mối quan hệ giữa ĐƯQT và pháp luật quốc gia
3
Mối quan hệ giữa Điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam
Chương 2 Nguyên tắc áp dụng trực tiếp Điều ước quốc tế thuộc thẩm quyền phê chuẩn của Quốc hội
1. Cơ sở áp dụng trực tiếp Điều ước quốc tế thuộc thẩm quyền phê chuẩn củaQuốc hội
2. Phương thức áp dụng trực tiếp Điều ước quốc tế thuộc thẩm quyền phê chuẩncủa Quốc hội
3. Thực tiễn áp dụng Điều ước quốc tế tại một số quốc gia
3.1. Thực tiễn tại Pháp
3.2. Thực tiễn tại Nhật Bản
Chương 3 Mối liên hệ giữa nguyên tắc áp dụng trực tiếp Điều ước quốc tế với quá trình ký kết và thực hiện Hiệp định EVFTA18
1 Quá trình đàm phán, ký kết, thực thi Hiệp định EVFTA
2 Thực tiễn áp dụng trực tiếp Hiệp định EVFTA
3 Một số đánh giá và đề xuất
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3Công ước Viên 1969 Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969
Công ước Viên 1986
Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế giữa quốc gia và tổ chức quốc tế và giữa các tổ chức quốc tế
năm 1986 Hiệp định EVFTA Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên
minh Châu Âu (EVFTA)
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Trong thời gian qua, thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế,Việt Nam đã ký kết và gia nhập nhiều điều ước quốc tế Để tận dụng được những lợithế khi tham gia các cam kết quốc tế cần tiến hành quá trình pháp lý do cơ quannhà nước có thẩm quyền thực hiện nhằm đảm bảo ĐƯQT được tuân thủ và thi hànhtrong phạm vi lãnh thổ quốc gia, quá trình này còn gọi là chuyển hóa ĐƯQT Việc
áp dụng trực tiếp là việc thừa nhận các quy phạm ĐƯQT được tự động thi hànhpháp luật như pháp luật trong nước thông qua việc ban hành quyết định thừa nhậntoàn bộ hoặc một phần nội dung của ĐƯQT đó
Tuy nhiên, do thiếu nhất quán, ý kiến khác nhau trong việc áp dụng, triển khaibiện pháp thực hiện ĐƯQT, việc áp dụng trực tiếp còn gặp nhiều khó khăn, tháchthức Chính vì vậy, việc nghiên cứu các vấn đề thuộc phạm vi áp dụng ĐƯQT làmột vấn đề cấp thiết cần được quan tâm, nhất là khi Hiệp định EVFTA mới đây giữaViệt Nam và Liên minh Châu Âu có hiệu lực
Bài tiểu luận nhằm mục đích phân tích rõ hơn về nguyên tắc áp dụng trực tiếpĐƯQT thuộc thẩm quyền phê chuẩn của Quốc hội, từ đó liên hệ với quá trình ký kết
và thực hiện Hiệp định thương mại tự do giữa CHXHCN Việt Nam và Liên minhChâu Âu (EVFTA)
2 Phạm vi nghiên cứu.
Xuất phát từ hoạt động thực tiễn thì đây là một vấn đề còn khó khăn, phức tạp,chưa kể Hiệp định EVFTA chỉ mới có hiệu lực trong gần 4 tháng Vậy nên, chúng tacần nghiên cứu trên phạm vi rộng và khoảng thời gian dài hơn, để làm sáng tỏ đượcnhững quy định của pháp luật Việt Nam về Điều ước quốc tế, qua đó phân tích đượccác nguyên tắc áp dụng trực tiếp Điều ước quốc tế thuộc thẩm quyền phê chuẩn củaQuốc hội Đồng thời, liên hệ với quá trình ký kết và thực hiện Hiệp định EVFTA
Trang 53 Bố cục của đề tài.
Bố cục bài tiểu luận gồm 3 phần chính:
Chương 1 Khái quát chung về Điều ước quốc tế
Chương 2 Nguyên tắc áp dụng trực tiếp Điều ước quốc tế thuộc thẩm quyền phêchuẩn của Quốc hội
Chương 3 Mối liên hệ giữa nguyên tắc áp dụng trực tiếp Điều ước quốc tế với quátrình ký kết và thực hiện Hiệp định EVFTA
Sinh viên thực hiện
Trang 6Chương 1 Khái quát chung về Điều ước quốc tế
1 Định nghĩa và đặc điểm của Điều ước quốc tế
Hiện nay, trong khoa học Luật quốc tế có rất nhiều quan điểm khác nhau vềĐƯQT Định nghĩa về ĐƯQT được ghi nhận trong hai Công ước Viên 1969 và
19861 Xét trong Điều 2(1)(a) Công ước Viên 1969, ĐƯQT được hiểu là ‘‘một hiệp định quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và bất kể tên gọi riêng của nó là gì’’ 2 Công ước Viên
năm 1986 mở rộng cụm từ “được ký kết giữa các quốc gia” thành “được ký kết (i) giữa một hay nhiều quốc gia với một hay nhiều tổ chức quốc tế, hoặc (ii) giữa các
tổ chức quốc tế với nhau.” 3
Từ góc độ nội luật pháp luật Việt Nam, định nghĩa về ĐƯQT4 cũng khá tương tựvới định nghĩa của hai Công ước Viên Định nghĩa đã có sự phát triển qua thời gianvới bằng chứng là sự thay đổi qua bốn lần sửa đổi luật, đặc biệt là giữa luật năm
2006 và luật năm 2016, thể hiện nhận thức chính xác hơn về ĐƯQT nói riêng vàluật pháp quốc tế nói chung5 Việc sửa đổi này là điểm mới cơ bản, có tính bao
trùm, tác động đến nhiều nội dung của Luật Đối với các văn bản thỏa thuận được
ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ nhưng không có giá trị ràng buộc pháp
lý quốc tế thì việc ký kết và thực hiện không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luậtnày Đây là các văn bản đối ngoại, có nội dung là các cam kết chính trị nên việc kýkết các văn bản này sẽ tiếp tục được điều chỉnh theo các quy định về quản lý hoạt
1 Định nghĩa điều ước quốc tế được ghi nhận tại Điều 2(1)(a) của hai Công ước trên, có gần như giống nhau trừ chủ thể ký kết Điều ước quốc tế.
2 Điểm a Khoản 1 Điều 2 Công ước Viên 1969.
3 Điểm a Khoản 1 Điều 2 Công ước Viên 1986.
4 Khoản 1 Điều 2 Luật Điều ước quốc tế 2016.
5 Trần Hữu Duy Minh, Định nghĩa về Điều ước quốc tế theo luật pháp quốc tế (bao gồm án lệ) và pháp luật
Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 3, năm 2016.
Trang 7động đối ngoại và về thẩm quyền, chức năng của các cơ quan tham gia hoạt độngđối ngoại.
Có thể thấy định nghĩa về ĐƯQT trong Luật ĐƯQT 2016 hẹp hơn định nghĩa vềĐƯQT trong Luật ĐƯQT 2005, khắc phục được các vướng mắc do phạm vi điềuchỉnh của Luật ĐƯQT 2005 quá rộng, tạo điều kiện cho việc áp dụng thủ tục ký kếtĐƯQT cũng như triển khai thực hiện đối với toàn bộ ĐƯQT và chỉ đối với ĐƯQTtheo đúng nghĩa phù hợp với luật pháp quốc tế và thực tiễn
Việc xác định rõ ĐƯQT là văn bản thỏa thuận “làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế” làm rõ bản chất của ĐƯQT là văn bản tạo quyền, nghĩa vụ giữa các
quốc gia, tránh hiểu nhầm ĐƯQT là văn bản quy phạm pháp luật trong nước Việcđịnh nghĩa chính xác hơn khái niệm ĐƯQT cho phép hiểu rõ và phân biệt quy trình
ký kết, thực hiện ĐƯQT với quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật trongnước
Đồng thời, Luật ĐƯQT 2016 xác định “bên ký kết nước ngoài” 6 được hiểu baogồm quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác được công nhận là chủ thể củapháp luật quốc tế Như vậy, các phong trào giải phóng dân tộc, các vùng lãnh thổ vàcác thực thể khác thiếu một trong các thành tố để trở thành quốc gia nhưng vẫnđược công nhận là chủ thể của luật pháp quốc tế như: Toà thánh Vatican, HồngCông, Nhà nước Palestine, một số Vùng hoặc Cộng đồng của quốc gia được giaoquyền ký ĐƯQT trong những lĩnh vực nhất định
Việc điều chỉnh lại định nghĩa về ĐƯQT hẹp hơn so với định nghĩa tại LuậtĐƯQT 2005 sẽ khắc phục vướng mắc nảy sinh trong quá trình thi hành Luật, tạođiều kiện cho việc áp dụng thủ tục ký kết cũng như triển khai thực hiện ĐƯQT
Từ những định nghĩa trên, có thể thấy ĐƯQT có những đặc trưng cơ bản sau:
6 Khoản 3 Điều 2 Luật Điều ước quốc tế 2016.
Trang 8Thứ nhất, chủ thể của ĐƯQT chính là chủ thể của luật quốc tế, đây là thực thể
độc lập tham gia vào QHQT, xây dựng và sáng tạo nên các quy phạm ĐƯQT
Thứ hai, hình thức ĐƯQT tồn tại dưới dạng văn bản
• Tùy thuộc vào nội dung điều ước điều chỉnh, tùy thuộc vào sự thỏa thuận cácbên tham gia nên tên gọi của điều ước thường rất đa dạng
• Việc lựa chọn ngôn ngữ khi xây dựng ĐƯQT có ý nghĩa vô cùng quan trọng.Theo quy định của Luật ĐƯQT các văn bản ĐƯQT được soạn thảo bằngngôn ngữ đã thỏa thuận đều là văn bản gốc và có giá trị pháp lý như nhau7
Ví dụ: Hiệp định EVFTA được lập thành hai bộ bằng 24 thứ tiếng, mỗi bản ngôn ngữ đều có giá trị ngang nhau 8
Thứ ba, nội dung của ĐƯQT phản ánh sự thỏa thuận, thống nhất về mặt ý chí
giữa các chủ thể của Luật quốc tế với nhau và là kết quả của quá trình đấu đàmphán giữa các bên tham gia ĐƯQT Hầu hết các ĐƯQT thường có kết cấu gồm 3phần:
• Lời nói đầu: Có nội dung ngắn gọn hơn so với các phần còn lại, không chứa
đựng các quy phạm cụ thể xác lập quyền và nghĩa vụ cho các bên ký kết màchỉ bao gồm các quy định chung như: Lý do, mục đích ký kết và tên của cácbên tham gia ký kết
• Nội dung chính: Phần trọng tâm của ĐƯQT, bao gồm các chương, điều,
khoản chứa đựng các quy phạm pháp luật quốc tế thông qua sự đàm phán,thoản thuận, thống nhất của các bên
• Phần cuối: Bao gồm các điều khoản quy định về thời hạn, thời điểm có hiệu
lực, ngôn ngữ soạn thảo, vấn đề gia nhập, sửa đổi, bổ sung, bảo lưu ĐƯQT, Ngoài ra, trong một số ĐƯQT đa phương phổ cập còn có một hoặc một số phụlục đính kèm Các phụ lục này cũng là một bộ phận cấu thành không thể tách rời vàluôn đi kèm với ĐƯQT
7 Điều 5 Luật Điều ước quốc tế 2016.
8 Điều 17.25 Chương 17 Hiệp định EVFTA.
Trang 9Ví dụ: Hiệp định EVFTA có 10 Phụ lục đính kèm bên cạnh các Chương nội dung chính.
2 Các học thuyết về mối quan hệ giữa ĐƯQT và pháp luật quốc gia
Mối quan hệ giữa ĐƯQT và pháp luật quốc gia thường được xem xét theo haihọc thuyết về mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế nói chung và pháp luật quốc gia:
thuyết nhất nguyên luận (Moniste) và thuyết nhị nguyên luận (Dualiste) Hai học
thuyết này có xuất phát điểm dường như trái ngược nhau:
Học thuyết nhất nguyên đưa ra hai khả năng xác định mối quan hệ giữa luật quốc
tế và luật quốc gia tuỳ theo vị trí ưu tiên của chúng Một khả năng coi pháp luật
quốc tế có vị trí ưu tiên hơn (chủ nghĩa nhất nguyên với sự ưu tiên của pháp luật quốc tế) 9 ; và khả năng thứ hai là pháp luật của quốc gia có vị trí ưu tiên hơn (chủ nghĩa nhất nguyên với sự ưu tiên của pháp luật quốc gia) 10
Ví dụ: Một số quốc gia áp dụng thuyết nhất nguyên luận có thể kể đến như Pháp,
Nga, Thuỵ Sỹ, Mỹ, Mexico Điều VI Hiến pháp Mỹ quy định: “Hiến pháp này, các đạo luật của Hoa Kỳ được ban hành theo Hiến pháp này, mọi điều ước đã hoặc sẽ được ký kết dưới thẩm quyền của Hoa Kỳ sẽ là luật tối cao của quốc gia Quan toà
ở các bang đều phải tuân theo những luật này ” 11
Trái ngược với chủ nghĩa nhất nguyên coi pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia
là hai bộ phận của một hệ thống thống nhất, chủ nghĩa nhị nguyên coi pháp luậtquốc gia và pháp luật quốc tế là hai hệ thống pháp luật hoàn toàn độc lập với nhau,mặc dù có những lĩnh vực có thể đan xen lẫn nhau, nhưng không phải là một Chủnghĩa nhị nguyên xuất phát từ chỗ cho rằng thẩm quyền, nguồn luật và đối tượng ápdụng của các quy phạm pháp luật của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia hoàn
9 Nguyễn Bá Diến, Việc áp dụng điều ước quốc tế và quan hệ thứ bậc giữa điều ước quốc tế và pháp luật
quốc gia, Tạp chí Khoa học Kinh tế – Luật, số 3 (2003).
10 Ngô Đức Mạnh, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chuyển hoá điều ước quốc tế vào pháp luật quốc
gia, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4(180)/2003, tr 62.
11 Hiến pháp Mỹ năm 1787, Điều VI.
Trang 10toàn khác nhau Pháp luật quốc gia điều chỉnh quan hệ giữa công dân với nhau vàcông dân với nhà nước; pháp luật quốc tế điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia vàcác chủ thể khác của luật quốc tế với nhau, do đó, chỉ áp dụng cho các quan hệ giữacác chủ thể của luật quốc tế, còn pháp luật quốc gia chỉ áp dụng cho các chủ thểtrong nước Học thuyết nhị nguyên lại được phân chia thành hai trường phái, đó là
trường phái nhị nguyên cực đoan và trường phái nhị nguyên dung hoà.
Ví dụ: Học thuyết này hiện nay đang được một số nước như Anh, Canada, Ấn Độ
và Israel áp dụng Đối với những nước này, ĐƯQT không tự động có hiệu lực pháp
lý trong hệ thống pháp luật quốc gia mà cần được nội luật hoá thông qua việc bãi
bỏ, sửa đổi, bổ sung hay ban hành các văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền, đặc biệt là cơ quan lập pháp12
3 Mối quan hệ giữa Điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam
Sự tương quan giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, cũng như mối quan
hệ tác động qua lại giữa chúng không chỉ là vấn đề trọng tâm của khoa học pháp lý
mà còn là đối tượng nghiên cứu lâu nay của khoa học luật hiến pháp, khoa học lýluận chung về Nhà nước và pháp luật Đây vẫn luôn là chủ đề của các cuộc tranhluận mà cho đến nay vẫn tiếp tục diễn ra trong nhiều lĩnh vực và chưa đến hồi kếtthúc Mặc dù không thể phủ nhận rằng Luật quốc tế và Luật quốc gia đều chiếmmột vị thế tuyệt đối trong môi trường của mình, nhưng chúng lại tồn tại một mốiquan hệ gắn bó mật thiết
Cho tới nay Việt Nam đã ký kết hàng nghìn ĐƯQT song phương và là thành viêncủa hơn 200 Điều ước quốc tế đa phương Ngày 10/10/2001 Việt Nam chính thứctrở thành thành viên của Công ước Viên 1969 về Luật ĐƯQT Điều 26 Phần III
Công ước Viên 1969 quy định nguyên tắc Pacta sunt servanda như sau: “Mọi điều ước đã có hiệu lực đều ràng buộc các bên tham gia điều ước và phải được các bên
12 Duncan B Hollis, Merrit R Balkeslee & L Benjamin Ederington, National Treaty Law and Practice,
Leiden/Boston, 2005,
Trang 11thi hành với thiện ý” 13 Đồng thời, Công ước Viên 1969 cũng đã xác định mối quan
hệ giữa pháp luật trong nước và việc tôn trọng các ĐƯQT mà quốc gia đã cam kết:
“Một bên không thể viện những quy định của pháp luật trong nước của mình làm lý
do để không thi hành một điều ước mà mình đã cam kết” 14
Phần lớn các quốc gia trên thế giới đều công nhận tính ưu thế và ưu tiên thựchiện các ĐƯQT đã ký kết mà vẫn đảm bảo độc lập chủ quyền của mình Xét trong
hệ thống pháp luật Việt Nam, địa vị pháp lý của ĐƯQT vẫn chưa được xác định rõtrong Hiến pháp quốc gia hay các văn bản pháp luật mang tính hiệu lực cao Có
chăng, các văn bản pháp luật chỉ quy định rằng “Trong trường hợp ĐƯQT mà CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy định của văn bản này thì tuân theo các quy định của ĐƯQT đó, trừ Hiến pháp.” 15 Như vậy, về hiệu lực pháp lý, Điều khoản này không có quy định công nhận trực tiếp và rõ ràng
hiệu lực pháp lý của ĐƯQT trong hệ thống pháp luật Việt Nam Việt Nam chấpnhận quan điểm về giá trị ưu thế của ĐƯQT đã ký kết hoặc tham gia so với phápluật trong nước, và coi ĐƯQT là một bộ phận cấu thành của pháp luật Việt Nam Có
hai quan điểm được đưa ra về phương diện hiệu lực thi hành ĐƯQT Thứ nhất,
ĐƯQT có vị trí thấp hơn Hiến pháp nhưng cao hơn văn bản quy phạm pháp luật
khác Thứ hai, ĐƯQT có tính ưu tiên hơn văn bản quy phạm pháp luật trong nước,
ngoại trừ Hiến pháp, nhưng không đồng nghĩa với việc được xếp ở thứ bậc cao hơn
So sánh với Điều 6 Luật ĐƯQT năm 2005, pháp luật thực định của Việt Namkhông có bất cứ điều khoản nào xác định chính xác địa vị của ĐƯQT trong hệ
thống văn bản pháp luật Vấn đề tương quan hiệu lực của ĐƯQT được để ngỏ “một cách có chủ ý” và trên thực tế khi xảy ra xung đột giữa ĐƯQT với một Văn bản quy phạm pháp luật thì chúng ta áp dụng nguyên tắc về “tính ưu tiên/ưu thế của luật quốc tế” Song bản thân quy định này cũng chưa hợp lý và còn tồn tại những
bất cập Do vậy, để khắc phục nhược điểm này, Điều 6 Luật ĐƯQT năm 2016 bổ
13 Điều 26 Công ước Viên 1969.
14 Điều 27 Công ước Viên 1969.
15 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế 2016.
Trang 12sung thêm cụm từ “trừ Hiến pháp” vào nguyên tắc là một điểm mới của hai đạo
luật này và có ý nghĩa trong việc xác định rõ hơn thứ tự áp dụng đối vớiĐƯQT Một số tác giả kết luận rằng lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp Việt NamĐƯQT đã có được một vị trí xác định trong thang bậc hiệu lực: thấp hơn Hiến pháp
và cao hơn các đạo luật quốc gia Tuy nhiên, quy định tại khoản 5 Điều 156 lại chỉxác định thứ tự áp dụng chứ không phải là thứ bậc hiệu lực của văn bản do chúng
không nằm trong cùng một hệ thống Cũng có ý kiến đồng tình với quan điểm “tính
ưu tính áp dụng” không đồng nhất với “trật tự hiệu lực” song mặt khác ủng hộ việc
cần phải sửa đổi luật hiện hành theo hướng quy định rõ ĐƯQT có hiệu lực pháp lýcao hơn pháp luật quốc gia16
Về việc cách thức áp dụng các quy phạm ĐƯQT, cho đến nay pháp luật ViệtNam cũng chưa có quy định cụ thể Điều 6.3 Luật ĐƯQT 2016 quy định ĐƯQT cóhiệu lực đối với Việt Nam được áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần theo quyếtđịnh của cơ quan có thẩm quyền tại quyết định về việc ký kết, phê chuẩn phê duyệthoặc gia nhập ĐƯQT Vì vậy, việc quy định áp dụng ĐƯQT, trường hợp nào thì ápdụng trực tiếp, trường hợp nào phải thông qua thủ tục chuyển hoá bằng việc banhành các văn bản quy phạm pháp luật trong nước, cần phải được quy định rõ và cần
có cách tiếp cận linh hoạt, mềm dẻo Trong trường hợp không thể áp dụng trực tiếptoàn bộ hoặc một phần ĐƯQT có hiệu lực /đối với Việt Nam thì cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quyết định việc ký, phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập ĐƯQTquyết định hoặc kiến nghị, sửa đổi, bổ sung bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạmpháp luật để thực hiện ĐƯQT đó Nên chăng chỉ chuyển hoá những ĐƯQT có nộidung quá phức tạp hoặc chỉ quy định các nguyên tắc chung, còn các Điều ước quốc
tế có các nội dung quy định cụ thể, rõ ràng, chi tiết thì nên áp dụng trực tiếp màkhông cần phải thông qua thủ tục chuyển hoá nhằm giảm bớt gánh nặng của côngtác lập pháp, lập quy của Nhà nước vốn đã rất đồ sộ hiện nay
16 Trần Hữu Duy Minh, Hiệu lực pháp lí và việc áp dụng điều ước quốc tế ở Việt Nam, Tạp chí Luật học, số
3, năm 2016, tr 38-45.