1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tieu_luan_nghiep_bao_trong_kinh_trung_bo - Copy (2) (1)

21 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 85,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAMHỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MÍNH ---PHẠM HOÀI PHÚC PD: Diệu Âm TÍNH NHÂN BẢN CỦA GIÁO LÝ NGHIỆP BÁO TRONG KINH TRUNG BỘ Tiểu luận học kỳ 2: M

Trang 1

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MÍNH

-PHẠM HOÀI PHÚC PD: Diệu Âm

TÍNH NHÂN BẢN CỦA GIÁO LÝ NGHIỆP BÁO

TRONG KINH TRUNG BỘ

Tiểu luận học kỳ 2: Môn Kinh Trung Bộ

Người hướng dẫn khoa học: TT.TS THÍCH GIÁC HOÀNG

TP.Hồ Chí Minh ,Năm 2020

Trang 2

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MÍNH

-TÊN TÁC GIẢ: PHẠM HOÀI PHÚC

PHÁP DANH: DIỆU ÂM LỚP ĐTTX: KHÓA VI MSSV: TX 6320

BÀI TIỂU LUẬN

TÍNH NHÂN BẢN CỦA GIÁO LÝ NGHIỆP BÁO

TRONG KINH TRUNG BỘ

Tiểu luận học kỳ 2: Môn Kinh Trung Bộ

Người hướng dẫn khoa học: TT.TS THÍCH GIÁC HOÀNG

Trang 3

LỜI CẢM ƠN :

Tôi xin cam đoan bài tiểu luận này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, các

dữ liệu và nội dung hoàn toàn trung thực, không sao chép của bất cứ ai

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về bài tiểu luận của riêng tôi

Người cam đoan

PHẠM HOÀI PHÚC

NHẬN XÉT CỦA GIÁO THỌ SƯ

………

TP.HCM, ngày 10 tháng 05 năm 2020

Trưởng tiểu ban xét duyệt

Trang 4

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Phạm vi đề tài 1

3 Cơ sở tài liệu 1

4 Phạm vi nghiên cứu 1

5 Bố cục tiểu luận 2

B NỘI DUNG……… 2

CHƯƠNG 1 : Giới Thiệu Tổng Quan Về Kinh Trung Bộ

1.Tổng quan về kinh trung bộ 2

1.1 Về số lượng 2

1.2.Về người giảng kinh ………3

1.3.Về đối tượng ……… 3

CHƯƠNG 2:Tổng Quan Về Giáo Lý Nghiệp Báo

2.1.Nghiệp………3

2.2.Sự liên hệ giữa nghiệp nhân và nghiệp quả………4

2.3.Các loại nghiệp và tác dụng của nghiệp……… 4-5

Trang 5

CHƯƠNG 3: Giáo Lý Nghiệp Báo Trong Kinh Trung Bộ 3.1 Kinh Upali………6

3.2.Kinh tiểu nghiệp phân biệt và đại nghiệp phân biệt ………7-11

C KẾT LUẬN………12-15

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 6

2 Phạm vi đề tài :

Trong tập tiểu luận này người viết chỉ trình bày những gì gọi là cơ bản thiết thựcđối với giáo lý nghiệp báo trong kinh trung bộ Vì số trang có giới hạn cũng như thời gian không có nhiều nên người viết không thể trình bày một cách chi tiết về giáo lý nghiệp báo, vì vậy chắc chắn sẽ gặp phải những thiếu sót lỗi lầm, ngưỡng mong Chư vị tôn túc giáo thọ sư từ bi, hoan hỷ chỉ dạy để tập tiểu luận được hoàn chỉnh hơn

3 Cơ sở tài liệu:

Trong quá trình thực hiện người viết đã được kham khảo những tài liệu vềnghiệp báo do chư vị Tôn túc Hoà thượng, Thượng tọa, Ni trưởng… phiên dịch và chúgiải để làm cơ sở nghiên cứu cho tập tiểu luận này Mục đích là nói lên các cách đểchấm dứt sự tranh cãi tồn tại của Phật pháp và đối với người xuất gia cũng như người

cư sĩ như thế nào? Từ đó mọi người có cái nhìn sâu sắc hơn về giáo lý nghiệp báo.Với mục đích ấy nội dung tiểu luận này cũng muốn nhắc lại một lần nữa về sự quantrọng của nghiệp báo trong đời sống hàng ngày

Trang 7

4 Phương pháp nghiên cứu:

Phật giáo cho rằng tất cả các pháp trên thế gian này đều là duyên sinh, có điều kiện đo đó tất cả các pháp là vô ngã không có một thực thể nào vĩnh hằng, cũng không có ai làm chủ đời sống của chúng ta, điều quan trọng trong giáo lý đạo phật là tất cả chúng sanh điều có phật tánh, đều có khả năng thành phật sự giác ngộ giải thoát là chân lý bình đẳng đối với tất cả chúng hữu tình mà không phải là một ân sủng đặc biệt dành cho riêng ai

Có thể nói cơ sở của nghiệp là tâm, phật dạy: “Trong các pháp tâm dẫn đầu tâm làm chủ” Vậy mối tương quan giữa nhân quả từ nơi tâm ý của của con người hình thành nên thiện ác, vì thế đức phật dạy về nghiệp là đánh thức con người phải cẩn trọng từ nơi tâm ý của mình để đi vào cuộc sống an lạc, giải thoát “ ta là chủ nhân của nghiệp; là kẻ thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là điểm tựa, phàm việc nào sẽ là thiện hay ác ta sẽ thừa tự nghiệp ấy”

5 Bố cục tiểu luận: Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luận gồm 12 trang được kết cấu thành 03 chương, 6 tiết và 10 tiểu tiết

B.NỘI DUNGCHƯƠNG 1:GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ KINH TRUNG BỘ

1 Tổng quan về kinh Trung Bộ:

Trung bộ Kinh (P Majjhima Nikāya, C 中中中) là bộ kinh quan trọng thứ hai trong

năm bộ Kinh Pali (Pāḷi Nikāya) của Phật giáo Thượng tọa bộ (Therāvāda); là tuyển tập 152 bài Kinh có độ dài trung bình (Collection of Middle-length Discourses) trong Kinh tạng Pali (Sutta piṭaka), tương ứng với 220 bài Kinh Trung A-

hàm (S Madhyama Āgama, C 中中中中, Zhōng Ahánjīng) Khái niệm “trung”

(majjhima, 中) có nghĩa đen là “trung bình, vừa” về số lượng chữ của từng bài kinh trong bộ này Trên thực tế, Trung bộ Kinh là tuyển tập kinh Pali có số trang nhiều gần gấp 3 lần so với Kinh Trường bộ.

Trang 8

giữa Kinh Trung bộ và Kinh Trung A-hàm có sự khác biệt lớn về thứ tự các bài kinh,

cách đặt tựa đề kinh, các khái niệm và nội dung từng bài kinh.Về văn tự, kinh

điển Pali thường được phân bổ theo chiều dài (pamāṇa) của Kinh Trường Bộ Kinh là tuyển tập 32 bài kinh có chiều dài dài nhất (dīghappamāṇānaṁ suttānaṁ) Trung Bộ Kinh là tuyển tập 152 Kinh có chiều dài trung bình (majjhimappamaaṇāni

suttāni) Tương Ương Bộ Kinh gồm 7762 bài kinh

1.2.Về người giảng kinh:

Phần lớn các bài Kinh Trung bộ do đức Phật trực tiếp giảng dạy cho các đệ tử xuất

gia và tại gia Cũng có một số kinh đức Phật yêu cầu A-la-hán Xá-lợi-phất tuyên giảngthay cho ngài (3, 5, 9, 24, 28, 43) Có kinh do ngài Mục-kiền-liên nói (15, 37, 50) Có

9 kinh do A-nan-đa nói Có kinh do Ca-chiên-diên nói (18, 23) Có kinh dưới dạng đốithoại giữa đệ tử Phật và người khác đạo (27, 44) Có kinh do Trưởng lão

Ni Dhammadinnà trả lời vấn đáp (44) Một số bài kinh được các vị thánh A-la-hán

khác giảng sau khi đức Phật qua đời Đọc Kinh Trung bộ khắc họa bức tranh toàn

diện về cuộc đời đức Phật và những lời dạy minh triết của đức Phật trong 45

năm truyền bá chân lý và đạo đức

1.3.Về đối tượng thính chúng:

Trung Bộ Kinh, người nghe pháp rất đa dạng Các kinh nói cho các thành phần Tăng

đoàn (1, 2, 21, 61, 62) Các kinh nói về các tôn giáo khác (13, 77, 101), về vua chúa (82), về cư sĩ (143), về tướng cướp (86), về Thiên và ma vương (49, 50) Có 36 Kinh nói cho từng đối tượng khác nhau (chẳng hạn các kinh mang số 8, 12, 23, 30, 41, 42,

36, 50); trong khi các kinh còn lại nói cho đại chúng

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ GIÁO LÝ NGHIỆP BÁO

2.Giới thiệu tổng quan ý nghĩa giáo lý nghiệp báo:

2.1.Nghiệp: “Nghiệp” tiếng Sanskrit là karma, tiếng Pali là kamma có nghĩa là hành

động có tác ý, nghĩa là những tác động về thân, về miệng và về ý tạo thành những sức mạnh chi phối của tự thân và hoàn cảnh

Trong kinh Upali Phật dạy “Ý nghiệp là tối trọng” vì vậy Tâm dẫn đầu các pháp, Thân và miệng chỉ là kẻ thừa hành của ý thế nên một việc làm không có tác ý không đưa đến nghiệp

Trang 9

Trong Trung Bộ Kinh số 135 Tiểu nghiệp phân biệt Phật ghi “ Các loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, là điểm tựa, nghiệp phân chia các loại hữu tình; nghĩa là có liệt, có ưu” Hay trong kinh Tăng Chi ghi” Ta là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp Nghiệp

là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, là điểm tựa Phàm làm nghiệp nao2se4 làm thiện hay ác ta sẽ thừa tự nghiệp ấy”

Như vậy nói đến nghiệp là nói đến sự biểu hiện của thiện hay sự biểu hiện của

ác trong vòng luân hồi sinh diệt

2.2 Sự liên hệ giữa nghiệp nhân và nghiệp quả

Phật giáo cho rằng sự biến hoá của vũ trụ, sự lưu chuyển của nhân sinh mạng đều donghiệp lực của chúng sanh tạo thành Nghiệp lực (sức mạnh của nghiệp) chính lànhững hàng vi thiện hay ác của chúng sanh Chúng giống như màu sắc một cách liêntục không ngắt đoạn huân nhiễm tâm thức của chúng sinh, là chủ tể của sinh mệnh rồilại từ ở trong tâm thức theo ngoại duyên (điều kiện bên ngoài) mà hiện hành bộc lộcũng giống như hạt giống gieo xuống đất nhờ các ngoại duyên là ánh sáng, độ ẩm,không khí mà sanh trưởng Đó là hiện hành của nghiệp mà hiện hành của nghiệp

chính là kết quả tạo tác của nghiệp nên nói :“Thiện ác đáo đầu chung hữu báo” Nghĩa là: Thiện ác cuối cùng đều có quả báo Qua đó ta thấy nhân có mặt thì quả có mặt đã

có nhân tức tạo thành quả dầu sớm hay muộn, mà quả có mặt cũng tức là nhân có mặt

Cả hai thống nhất biện chứng và sự ly khai hay phủ định của cái này sẽ kéo theo sự lykhai hay phủ định của cái kia Vì thế không một nghiệp nhân nào không đưa đến quả

và không một nghiệp quả nào không làm nhân cho nghiệp quả khác Nhơn quả tươngđãi đắp đổi cho nhau và tiếp nối mãi không ngừng Như vậy những gì do nghiệp khởisinh trong hiện tại rất quan trọng: Vì hạnh phúc hay thống khổ của chúng ta trongtương lai phần lớn tuỳ thuộc vào hiện tại của chúng ta

2.3 Các loại nghiệp và tác dụng của nghiệp

a Phân loại theo thân, khẩu, ý.

Thân nghiệp: Thân biểu nghiệp, thân vô biểu nghiệp

Ngữ nghiệp: Ngữ biểu nghiệp, ngữ vô biểu nghiệp.

Ý nghiệp: Gồm mọi ý nghĩ có tạo nghiệp.

4

Trang 10

Thân biểu nghiệp: Sự tính toán cố ý phát động ra nơi thân với những nét biểu lộ rõ rệt

trông thấy được

Thân vô biểu nghiệp: Khi đang khởi lên thân biểu nghiệp bên trong nội tâm vẫn có

một năng lực vô hình không biểu lộ rõ rệt, nó cứ theo luật nhân quả thúc đẩy thân hoạtđộng hay đừng hoạt động Năng lực này tiềm ẩn khó trông thấy được

Ngữ biểu nghiệp và ngữ vô biểu nghiệp tương tợ như vậy

b Phân loại theo thời gian

Hiện nghiệp: Là nghiệp nhân gây ra trog đời này và được trổ quả ngay trong kiếp

hiện tại

Sinh nghiệp: Nhân gieo trong kiếp này nhưng trả quả ở kiếp kế cận.

Nghiệp vô hạn định (Hậu nghiệp): Nếu chưa trổ quả trong kiếp này hay kiếp kế cận

thì nghiệp đó sẽ phát hiện trong bất cứ kiếp sau này khi chúng hội đủ điều kiện

Nghiệp vô hiệu lực: Đó là những nghiệp đáng lẽ có kết quả trong kiếp này, kiếp sau

nhưng không đủ yếu tố để phát khởi nên chúng nằm yên tại chỗ, không trổ quả chođến khi người tu hành chứng đắc quả A La Hán hay vô dư y Niết bàn thì nghiệp đóchấm dứt không còn trổ quả nữa

c Phân loại theo công tác

Sinh nghiệp: Là nghiệp lực chi phối sự tái sanh

Trì nghiệp: là nghiệp lực duy trì sự sinh tồn của chúng sanh từ lúc mới ra đời cho đến

lúc lâm chung

Chướng nghiệp: là nghiệp lực làm trở ngại sinh nghiệp

Đoạn nghiệp: là nghiệp cắt đứt dòng sinh mệnh

d Phân loại theo tính chất nặng nhẹ

Cực trọng nghiệp: là nghiệp rất mạnh, rất trọng đủ sức lôi cuốn các nghiệp khác theo

nó về thiện cũng như về ác

Cận tử nghiệp: là nghiệp được tạo tác trong khi sắp chết có tính chất quyết định cho

sự thọ sanh đời sau

Trang 11

Tập quán nghiệp: Nghiệp do sự tập quán liên tục về ngôn ngữ, hành động, suy tư Nó

yếu hơn cận tử nghiệp nhưng nếu chiến thắng các nghiệp khác nó trở thành cận tửnghiệp

Tích luỹ nghiệp: Là nghiệp tích luỹ từ vô thuỷ mà mỗi hữu tình đều có đủ cả toàn bộ

trong mình

e Phân loại theo phạm vi tác dụng của nghiệp cá nhân hay tập thể

Biệt nghiệp: Nghiệp cảm thọ riêng từng cá nhân.

Cộng nghiệp: Thuộc nhiều người cùng tạo và cùng chịu quả báo “Đồng ưu cộng lạc.”

CHƯƠNG 3: GIÁO LÝ NGHIỆP BÁO TRONG KINH TRUNG BỘ

Nghiệp báo đóng một vai trò rất quan trọng trong giáo lý nhà Phật Tuy nhiên chúng

ta nên nhớ rằng Đức Phật thuyết minh nghiệp lý không phải với mục đích khuyến khích làm điều kiện để hưởng thụ hạnh phúc trong cõi cực lạc, thiên đường, nhưng để giúp con người thoát khỏi dòng nghiệp báo triền miên (kammakkhayya).Trong bài tiểu luận này chúng ta chỉ trình bày một cách tổng quát về lý nghiệp báo đã được dạy trong kinh trung bộ.Trong 152 bài kinh trung bộ do cố HT Thích Minh Châu việt dịch ,có 4 bài kinh nói đến giáo lý nghiệp báo đó là: kinh Upali,kinh tiểu nghiệp phân biệt,kinh đại nghiệp phân biệt,kinh hạnh con chó

3.1.Kinh Upali:

Tại rừng Pavarikamba, Nalandà, ngoại đạo sư Nigantha Dìghatapassi đến yết kiến ThếTôn và trao đổi quan điểm về thuyết nghiệp (Kamma) Dìghatapassi xác định chủ

trương về Nghiệp của Nigantha Nàtaputta rằng: "Có ba loại để tác thành ác nghiệp,

để diễn tiến ác nghiệp, tức là thân phạt, khẩu phạt và ý phạt (khác nhau) Thân phạt là tối trọng dẫn đến ác nghiệp".Thế tôn thì chủ trương trong ba nghiệp, thân, khẩu, ý thì ý nghiệp là tối trọng để tác thành ác ý, để diễn tiến ác nghiệp.Sau đó, Nigantha Nàtaputta cử gia chủ Upàli, thuộc Ni-kiền-tử, người thời danh, đến tranh luận với Thế Tôn về thuyết Nghiệp với sự chuẩn bị rất chu đáo hy vọng đánh bại thuyết Nghiệp củaThế Tôn Nhưng sự thật thì ngược lại, sau khi Thế Tôn nêu lên sự thật căn cứ vào thựctại thì ý nghiệp là quyết định hình thành nghiệp Upàli quy hướng Thế Tôn với lòng đầy ngưỡng mộ Upàli vốn là người nổi danh và rất giàu có, là chỗ dựa của các

Nigantha về vật chất Thế Tôn khuyên Upàli tiếp tục hộ trì cho Nigantha Điều nầy khiến Upàli thêm quý kính thái độ xử sự của Thế Tôn, xin trọn đời làm đệ tử của Thế Tôn Từ đó, Upàli đóng cửa không tiếp đón và không hộ trì các Nigantha nữa

Nigantha Nàtaputta, sau đó, cùng với chúng Nigantha đến trú xứ của Upàli để biết rõ

6

Trang 12

sự tình, Upàli đã là đệ tử đức Phật Tại đó, Upàli đã hết lời tán dương vô số đức và tuệcủa Thế Tôn Nàtaputta phẫn nộ đến thổ huyết ngay tại chỗ Đức Thế Tôn dạy có bốn loại nghiệp: Ác; Thiện; vừa Ác vừa Thiện; vượt lên Thiện, Ác dẫn đến đoạn trừ

- Nghiệp vượt qua Thiện Ác đưa đến sự đoạn tận nghiệp Koliya xin trọn đời làm đệ

tử cư sĩ của Thế Tôn Seniya thì xin xuất gia và được Thế Tôn nhận lời Seniya tinh tấn, tinh cần hành phạm hạnh, sống một mình, không bao lâu sau đó đắc quả A-la-hán Qua kinh 51, 56 và 57, các du sĩ ngoại đạo dễ dàng đến yết kiến Thế Tôn và trao đổi các quan điểm chủ thuyết Các chủ trương của ngoại đạo thường không được hình thành trên căn bản chứng nghiệm sự thật của thực tại, trên căn bản trí tuệ như thật, nênhầu hết là sai lạc, tà kiến với các hạnh sống khổ hạnh kỳ dị, hoặc các lập luận quanh

co, ngụy biện Họ khó có thể đối thoại với Thế Tôn ngay cả câu hỏi đầu tiên, hay vấn nạn đầu tiên mà họ nêu ra Bàn đến thực tại của tâm thức và của các cảnh giới thì ngoại đạo càng mờ mịt

3.2.Kinh tiểu nghiệp phân biệt và kinh đại nghiệp phân biệt:

Lý do đức Phật nói “Kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt” là thanh niên Subha todeyyaputta

hỏi Phật: “Do nhân duyên gì cùng là loài người với nhau, nhưng có sự sai khác nhau

về cuộc sống Có người được người khác yêu mến, có người không được người khác mến thương; người được sống lâu, người lại chết yểu; người khoẻ mạnh, người bị nhiều bệnh hoạn; người đẹp kẻ xấu; người có chức quyền, người không chức quyền; người giàu kẻ nghèo; người thông minh, kẻ ngu muội?Ðức Phật trả lời: “Các

loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp; nghiệp là thai tạng Nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa Nghiệp phân chia các loài hữu tình có liệt

có ưu” Ðại ý câu trả lời này, đức Phật giải thích sự khác biệt nhau về cuộc sống của con người chính là sự khác biệt về nghiệp Nghiệp chính là chủ nhân phân chia sự sống của con người có sự sai khác Như vậy, nghiệp là gì ? Nghiệp tiếng Phạn là

karma, có nghĩa là hành động, hành vi, hay sự tạo tác Ở đây, hành vi tạo tác có

hai trường hợp, tạo tác có ý thức và tạo tác vô ý thức Nghiệp cũng có hai ý nghĩa, nghiệp thiện và nghiệp ác Nghiệp thiện là nghiệp được chỉ đạo bởi tâm không tham không sân và không si; Nghiệp ác là nghiệp được chỉ đạo bởi tâm có tham có sân và

có si Nói một cách dễ hiểu là hành động nào mang một ý thức tốt đẹp, thì hành động

Ngày đăng: 27/06/2021, 09:02

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w