1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Pháp tu Tây Tạng dành cho Phật tử nhập môn

108 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp Tu Tây Tạng Dành Cho Phật Tử Nhập Môn
Tác giả His Holiness The Dalai Lama, Hӗng Nhѭ
Trường học Library Of Tibetan Works And Archives
Chuyên ngành Phật Giáo
Thể loại sách
Năm xuất bản 1993
Thành phố Tây Tạng
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chѭѫng 1. Thái ÿӝ và Hành ÿӝng (10)
    • A. Ðһc ÿiӇm Phұt giáo Tây tҥng (11)
    • B. Thұt tánh cӫa Tâm (15)
    • C. Hӓi ÿáp (18)
  • Chѭѫng 2. Thӵc chҩt ÿѭӡng tu (23)
    • A. Nhӏ ÿӃ (24)
    • B. Ngã (26)
  • Chѭѫng 3. Hai pháp tu trӑng yӃu (35)
    • A. Tám Bài K͏ Chuy͋n Hóa Tâm (36)
    • B. Mӝt pháp thiӅn Tây tҥng (40)
  • Chѭѫng 4. Tәng quan Phұt giáo (50)
    • A. Tôn giáo và ÿӡi sӕng (51)
    • B. Tӭ ÿӃ và duyên khӣi (52)
    • C. TiӇu thӯa, ÿҥi thӯa, mұt thӯa (55)
    • D. Môi trѭӡng thích hӧp (56)
    • E. BiӇu tѭӧng qui y (57)
    • F. Tѭ thӃ ngӗi và phѭѫng pháp thӣ (58)
    • G. Hӓi ÿáp (59)
  • Chѭѫng 5. Khai mӣ trí giác (63)
    • A. Tâm nguyӋn (64)
    • B. Tâm thӭc (65)
    • C. Vô minh chҩp ngã (67)
    • D. Quán tѭӣng qui y Tam bҧo (70)
    • E. Phát tâm bӗ ÿӅ (71)
    • F. Hӓi ÿáp (75)
  • Chѭѫng 6. Ðѭӡng ÿi cӫa Phұt (78)
    • A. Quán tâm bӗ ÿӅ (79)
    • B. ThiӅn chӍ (80)
    • C. Tөng chú (83)
    • D. Quán tánh Không (86)
    • E. Hӓi ÿáp (89)

Nội dung

Mөc lөc Lӡi Giӟi ThiӋu Bҧn Dӏch ViӋt Ngӳ .........................6 Tri Ân......................................................................5 Lӡi nhà xuҩt bҧn .....................................................7 Lӡi nói ÿҫu ............................................................13 Chѭѫng 1. Thái ÿӝ và Hành ÿӝng.........................18 A. Ðһc ÿiӇm Phұt giáo Tây tҥng .............................. 20 B. Thұt tánh cӫa Tâm............................................... 27 C. Hӓi ÿáp ................................................................ 34 Chѭѫng 2. Thӵc chҩt ÿѭӡng tu.............................44 A. Nhӏ ÿӃ .................................................................. 46 B. Ngã ...................................................................... 50 C. Hӓi ÿáp ................................................................ 52 Chѭѫng 3. Hai pháp tu trӑng yӃu .........................68 A. Tám Bài K͏ Chuy͋n Hóa Tâm ............................ 70 B. Mӝt pháp thiӅn Tây tҥng ..................................... 78 C. Hӓi ÿáp ................................................................ 88 Chѭѫng 4. Tәng quan Phұt giáo ...........................98 A. Tôn giáo và ÿӡi sӕng......................................... 100 B. Tӭ ÿӃ và duyên khӣi.......................................... 101 C. TiӇu thӯa, ÿҥi thӯa, mұt thӯa............................. 108 D. Môi trѭӡng thích hӧp ........................................ 109 E. BiӇu tѭӧng qui y ................................................ 111 F. Tѭ thӃ ngӗi và phѭѫng pháp thӣ........................ 114 G. Hӓi ÿáp .............................................................. 116 4 4 Chѭѫng 5. Khai mӣ trí giác ............................... 124 A. Tâm nguyӋn ......................................................126 B. Tâm thӭc ............................................................127 C. Vô minh chҩp ngã ..............................................132 D. Quán tѭӣng qui y Tam bҧo ................................137 E. Phát tâm bӗ ÿӅ....................................................139 F. Hӓi ÿáp ...............................................................148 Chѭѫng 6. Ðѭӡng ÿi cӫa Phұt............................ 154 A. Quán tâm bӗ ÿӅ ..................................................156 B. ThiӅn chӍ ............................................................158 C. Tөng chú ............................................................164 D. Quán tánh Không...............................................169 E. Hӓi ÿáp ...............................................................175 Phө Lөc 1. Pháp Thi͉n M̵t Tông Ĉ˯n Gi̫n dành cho Ph̵t T͵ Nh̵p Môn ............. 190 Phө Lөc 2. Tám Bài K͏ Chuy͋n Hóa Tâm ............ 205 Bҧn tiӃng ViӋt.........................................................205 Bҧn tiӃng Anh.........................................................208 Sách ÿӭc Ðҥt-lai Lҥt-ma trích dүn..................... 210 Ghi chú: Chú thích trong ngo̿c ÿ˯n ( ) là tͳ nguyên b̫n ti͇ng Anh. Chú thích trong ngo̿c vuông [ ] và chú thích cu͙i trang là cͯa d͓ch gi̫ b̫n Vi͏t ngͷ thêm vào.5 Tri Ân (bҧn dӏch ViӋt ngӳ) Sách này ÿѭӧc dӏch sang ViӋt ngӳ vӟi tâm nguyӋn nӕi chút duyên lành giӳa hai nӅn Phұt Giáo ViӋt Nam và Tây Tҥng. Xin gӱi nѫi ÿây tҩm lòng biӃt ѫn sâu xa cӫa chúng con ÿӕi vӟi hai vӏ thҫy hiӇn mұt, HT Thích Trí Quang và ÿӭc Ðҥt-lai Lҥt-ma, ÿã rӝng lòng tӯ bi khai mӣ chánh pháp, ÿѭa chúng con vào vӟi ÿѭӡng tu giác ngӝ. Thành kính tri ân Geshe Lhakdor, giám ÿӕc Thѭ ViӋn Lѭu Trӳ Kinh ÐiӇn Tây Tҥng [LTWA], ÿã hoan hӍ cho phép chúng con dӏch và ҩn tӕng tұp sách này. Thành kính tri ân Lama Zopa Rinpoche, giám ÿӕc tinh thҫn Hӝi Bҧo Tӗn TruyӅn Thӕng Phұt Giáo Ðҥi Thӯa [FPMT], luôn khuyӃn khích chúng con trong công trình dӏch thuұt. Chân thành cҧm tҥ Michael Muller và International Kalachakra Network [IKN] ÿã nhiӋt tình mang bҧn thҧo kính dâng ÿӭc Ðҥtlai Lҥt-ma. Cҧm tҥ ÿҥi ÿӭc Thích Hoҵng Tҩt, các ÿҥo hӳu NguyӉn Ðình Hoҥch, Ðinh Lӵc, NguyӉn Ðӭc Trung, NguyӉn Thӏ Ðѭӡng, Hӗng An, Hӗng Thái, cùng nhiӅu ÿҥo hӳu gҫn xa ÿã chung tay góp sӭc cho viӋc dӏch thuұt ÿѭӧc hoàn thành mӻ mãn. Ðѭӧc bao công ÿӭc, chúng con xin nguyӋn hӗi hѭӟng pháp giӟi chúng sinh. Hӗng Nhѭ 6 6 Lӡi Giӟi ThiӋu Bҧn Dӏch ViӋt Ngӳ [“Nguy͏n ÿ̩i th͕ chúng sinh kh͝” - thӫ bút HT Thích Trí Quang]7 Lӡi Nhà Xuҩt Bҧn (trong ҩn bҧn Anh ngӳ) Gyatsho Tshering Giám Ðӕc LTWA [Thѭ ViӋn Lѭu trӳ Kinh ÐiӇn Tây Tҥng] Dharamsala, H.P. India 25.12.1990 Tháng 4 năm 1985, rӗi tháng 10 năm 1986, ÿӭc Ðҥt-lai Lҥt-ma hai lҫn thuyӃt giҧng vӅ tri kiӃn, thiӅn quán và hành ÿӝng trong Phұt giáo. Phҫn lӟn cӱ tӑa là ngѭӡi Ҩn. Chѭѫng trình này do mӝt sӕ bҵng hӳu tҥi New Delhi thӍnh cҫu và tә chӭc. Buәi pháp thoҥi diӉn ra trong bҫu không khí trang nghiêm thân mұt. Bài giҧng và phҫn hӓi ÿáp ÿӅu ÿѭӧc thâu băng. Khi nghe lҥi băng ghi âm, chúng tôi nhұn ra bài giҧng này bao gӗm cҧ mӝt tҫm nhìn sâu rӝng và nhҩt quán vӅ Phұt giáo. NӃu chӏu khó ghi chép, hiӋu ÿính, in thành sách, chҳc chҳn sӁ mang lҥi nhiӅu lӧi ích ÿӃn cho ÿӝc giҧ khҳp nѫi trên thӃ giӟi. Bài giҧng cӫa ÿӭc Ðҥt-lai Lҥt-ma nhҳc ÿӃn ÿҫy ÿӫ mӑi ÿiӇm trӑng yӃu trong Phұt pháp, vҥch ra phѭѫng pháp tu giҧn dӏ và rõ ràng nhҵm giúp Phұt tӱ xây dӵng công phu tu tұp mӛi ngày. Ðӭc Ðҥt-lai Lҥt-ma còn giҧi thích cһn kӁ vӅ phѭѫng pháp phát tâm tӯ bi, khai mӣ tuӋ giác tánh Không ngay trong ÿӡi sӕng hҵng ngày. Cuӕi mӛi bài giҧng có phҫn hӓi ÿáp. Câu hӓi nêu ra rҩt ÿa dҥng, liên quan ÿӃn nhӳng vҩn ÿӅ thӵc tiӉn Phұt tӱ ÿã gһp trong quá trình tu hӑc. 8 aPháp Tu Tây Tҥng 8 Vào ÿӃn chѭѫng ba, ÿӭc Ðҥt-lai Lҥt-ma giҧi thích vӅ hai phѭѫng pháp tu dӵa trên hai bài pháp ngҳn. Bài thӭ nhҩt là Tám Bài K͏ Chuy͋n Hóa Tâm [Eight Verses for Training the Mind], do mӝt vӏ cao tăng dòng Kadampa sӕng vào thӃ kӹ thӭ 12 soҥn. Trѭӟc ÿây Thѭ ViӋn Lѭu Trӳ Kinh ÐiӇn Tây tҥng [LTWA - Library of Tibetan Works and Archives] ÿã tӯng xuҩt bҧn luұn giҧi cӫa ÿӭc Ðҥt-lai Lҥt-ma vӅ pháp tu này. Bài pháp thӭ hai do chính ÿӭc Ðҥt-lai Lҥt-ma soҥn hai thұp niên vӅ trѭӟc theo yêu cҫu cӫa John Blofeld, mang tӵa ÿӅ Pháp Thi͉n M̵t Tông Ĉ˯n Gi̫n dành cho Ph̵t T͵ Nh̵p Môn [A Tantric Meditation Simplified for Beginners]. Bài pháp này hѭӟng dүn phѭѫng pháp quán tѭӣng căn bҧn, bҳt ÿҫu bҵng cách chuҭn bӏ chӛ ngӗi thiӅn, lұp bàn thӡ, chӑn tѭ thӃ ngӗi, khӣi tâm qui y, phát tâm bӗ ÿӅ, quán tѭӣng triӋu thӍnh cõi Phұt, lҩy ÿó làm ÿӅ mөc chӍ quán, phóng ánh sáng, tөng chú, v.v... Nghi thӭc quán tѭӣng này ÿѭӧc ÿҥi ÿӭc Tenzin Khedup dӏch sang Anh ngӳ vӟi sӵ hӧp tác cӫa Mr. John Blofeld, do Private Office xuҩt bҧn năm 1971, ÿính kèm trong phҫn phө lөc [xem cuӕi sách]. Ðӝc giҧ nên ÿӑc vài lҫn trѭӟc khi bѭӟc vào chѭѫng ba, vì trong chѭѫng ҩy ÿӭc Ðҥt-lai Lҥt-ma sӁ giҧng vӅ bài pháp này, và sӁ còn nhҳc ÿӃn rҩt nhiӅu trong nhӳng chѭѫng kӃ tiӃp. Lӡi giҧng cӫa ÿӭc Ðҥt-lai Lҥt-ma chӫ yӃu là ÿӇ giúp Phұt tӱ xây dӵng công phu tu tұp hàng ngày. Nghi thӭc quán tѭӣng ÿѭӧc soҥn theo truyӅn thӕng Phұt giáo Tây tҥng. Cҧnh quán tѭӣng ÿѭӧc chӑn là ÿӭc Phұt Thích Ca Mâu Ni cùng bӕn vӏ ÿҥi Bӗ tát hӝ pháp: Bӗ tát Quan Tӵ Tҥi, Bӗ tát Văn Thù, Bӗ tát Kim Cang Thӫ và Bӗ tát Quan Âm Tara1. Ðӭc Ðҥt-lai Lҥt-ma giҧi thích cһn 1 Avalokitesvara, Manshujri, Vajrapani, Tara.Lӡi Nhà Xuҩt Bҧn a9 9 kӁ vӅ ý nghƭa hiӋn thân cӫa bӕn vӏ ÿҥi Bӗ tát. Ngài còn hѭӟng dүn cách dùng sҳc tѭӟng và minh chú cӫa chѭ Bӗ tát làm ÿӅ mөc chӍ quán. Mӑi ÿӅ tài khác ÿѭӧc ÿӅ cұp ÿӃn chӍ là ÿӇ làm rõ hѫn nӅn tҧng cӫa pháp tu này. Bҳt ÿҫu buәi giҧng, ÿӭc Ðҥt-lai Lҥt-ma nói: « Ðây là lҫn ÿҫu tiên tôi giҧng Phұt pháp trѭӟc thành phҫn ÿông ÿҧo ngѭӡi Ҩn. Vì quí vӏ là ngѭӡi Ҩn, nhӳng gì tôi sҳp nói ÿҫy ÿӅu thuӝc vӅ quí vӏ, không thuӝc vӅ tôi.» Ðӭc Ðҥt-lai Lҥt-ma lҥi nói : «ngѭӡi Tây tҥng có tôn giáo riêng trѭӟc khi Phұt pháp du nhұp vào miӅn ÿҩt tuyӃt nhiӅu thӃ kӹ vӅ trѭӟc. Theo tôi nghƭ, ngѭӡi dân Tây tҥng khi ҩy ÿã ÿӫ trí thông minh và tinh thҫn cӣi mӣ ÿӇ so sánh giӳa hai nӅn tôn giáo, tôn giáo gӕc ӣ Tây tҥng và Phұt giáo, cuӕi cùng, phҫn lӟn ngѭӡi dân Tây tҥng ÿӅu chӑn Phұt giáo làm tôn giáo cӫa mình. Tӯ hѫn mӝt ngàn năm nay, Phұt giáo ÿѭӧc bҧo tӗn ӣ Tây tҥng, mang lҥi lӧi lҥc lӟn lao cho tӯng ngѭӡi dân Tây tҥng cNJng nhѭ cho nӅn văn hóa Tây tҥng nói chung.» Trong buәi giҧng pháp hai ngày sau ÿó, ÿӭc Ðҥt-lai Lҥt-ma giҧi thích: «có nhiӅu ngѭӡi bҥn ngoҥi quӕc nói vӟi tôi rҵng giá trӏ lӟn nhҩt cӫa ngѭӡi dân Tây tҥng nҵm ӣ trái tim nhân hұu, tinh thҫn trong sáng, luôn thân thiӋn nhiӋt thành. Tôi tin rҵng ngѭӡi Tây tҥng ÿѭӧc nhѭ vұy là nhӡ tu theo Phұt pháp, viên ngӑc quí giá nhҩt cӫa Ҩn ÿӝ. Không có Phұt pháp, chúng tôi không thӇ nào có ÿѭӧc niӅm vui và sӭc mҥnh tinh thҫn nói trên. Ðһc biӋt trong ba thұp niên gҫn ÿây, Phұt giáo mang lҥi cho chúng tôi biӃt bao là lӧi ích, khi chúng tôi phҧi chӭng kiӃn cҧnh ÿҩt nѭӟc bӏ chiӃm ÿoҥt, ngѭӡi thân bӏ thҧm sát, chính mình phҧi sӕng lѭu vong trên vùng ÿҩt lҥ. Xӭ Ҩn lҥi rӝng lѭӧng cѭu mang, ÿây là ÿiӅu chúng 10 aPháp Tu Tây Tҥng 10 tôi không bao giӡ quên. Lҥi càng không thӇ quên mӕi quan hӋ tinh thҫn giӳa Ҩn ÿӝ và Tây tҥng qua Phұt giáo. Vì vұy, bҩt cӭ lúc nào các bҥn ngѭӡi Ҩn muӕn thҧo luұn vӅ Phұt pháp, tôi luôn cҧm thҩy ÿһc biӋt vui mӯng. » CNJng nhѭ ÿӭc Ðҥt-lai Lҥt-ma vui mӯng ÿѭӧc nói vӅ Phұt pháp trѭӟc cӱ tӑa ngѭӡi Ҩn, LTWA [Thѭ ViӋn Lѭu Trӳ Kinh ÐiӇn Tây Tҥng] cNJng vô cùng cҧm kích biӃt ѫn xӭ Ҩn ÿã ÿӕi vӟi ngѭӡi dân Tây tҥng cӵc kǤ tӕt trong nhiӅu năm qua. Chúng tôi thôi thúc vӟi ý muӕn phә biӃn rӝng rãi nӝi dung buәi nói chuyӋn này. Trong tinh thҫn ÿó, LTWA ÿã tìm gһp giáo sѭ Dexter Roberts ӣ trѭӡng Ðҥi hӑc Montana, mӝt ngѭӡi bҥn lâu năm, nhӡ hiӋu ÿính tác phҭm này. Giáo sѭ Roberts chҩp thuұn lӡi thӍnh cҫu, nhӡ ÿó cuӕn sách ÿѭӧc thành hình. Bҧn chép tay ÿѭӧc hai thành phҫn danh dӵ cӫa Văn Phòng Nghiên Cӭu Dӏch Thuұt LTWA là Jeremy Russell và Glenn H. Mullin tӍ mӍ hiӋu ÿính. Xin chân thành cám ѫn công lao cӫa hai vӏ. Tôi ÿһc biӋt gӱi lӡi tҥ ѫn ÿӃn ông Rajiv Mehrotra, nhà ÿiӋn ҧnh New Delhi ÿã ÿӭng ra thӍnh cҫu và tә chӭc buәi nói chuyӋn, lҥi hӃt lòng khuyӃn khích nâng ÿӥ trong quá trình phә biӃn tұp sách này. CNJng xin cám ѫn dӏch giҧ Ven. Thupten Jinpa; cám ѫn Anila Ursula ÿã chép băng ghi âm ra giҩy; cám ѫn Namgyal Dolma và Tsering Norzom ÿã giúp ÿӥ rҩt nhiӅu vӅ phҫn vi tính; và xin cám ѫn Jim Woolsey, Norbu Chophel ÿã bӓ công xӃp bҧn in. CNJng xin nói thêm, lӡi giҧng cӫa ÿӭc Ðҥt-lai Lҥt-ma ÿѭӧc thay ÿәi chút ÿӍnh cho phù hӧp vӟi thӇ văn viӃt. Ðӭc Ðҥt-lai Lҥt-maLӡi Nhà Xuҩt Bҧn a11 11 phҫn lӟn giҧng bҵng tiӃng Anh, thӍnh thoҧng nhӡ ÿӃn thông dӏch viên. Chúng tôi cӕ gҳng hӃt sӭc ÿӇ giӳ giӑng văn cho thұt trung thӵc và nhҩt quán, ÿӗng thӡi không làm thҩt thoát nӝi dung cNJng không làm mҩt ÿi hѭѫng vӏ ÿӝc ÿáo trong tѭ tѭӣng cNJng nhѭ trong cách nói chuyӋn cӫa ÿӭc Ðҥt-lai Lҥt-ma. Thӭ tӵ bài giҧng và thӭ tӵ triӇn khai tѭ tѭӣng ÿӅu ÿѭӧc giӳ nguyên không thay ÿәi. Trong quá khӭ, có rҩt nhiӅu buәi nói chuyӋn giӳa ÿӭc Ðҥt-lai Lҥt-ma và giӟi trí thӭc Ҩn ÿӝ ÿã ÿѭӧc phә biӃn qua báo chí sách vӣ. Ðӭc Ðҥt-lai Lҥt-ma thѭӡng tiӃp xúc trao ÿәi vӟi các bҥn ngѭӡi Ҩn, cNJng thѭӡng ÿӃn thuyӃt trình ӣ các trѭӡng Ðҥi hӑc v.v... Thêm vào ÿó, có nhiӅu ngѭӡi Ҩn ÿӃn nghe ÿӭc Ðҥt-lai Lҥtma thuyӃt pháp, ÿһc biӋt là ngѭӡi Ҩn quanh vùng Hy Mã Lҥp Sѫn. Tuy vұy, cӱ tӑa ngѭӡi Ҩn trong các buәi nói chuyӋn trên nói chung chӍ chiӃm thiӇu sӕ so vӟi ngѭӡi Tây tҥng ÿӃn nghe. Vì vұy phҫn lӟn nhӳng gì ÿѭӧc giҧng thѭӡng thích ӭng vӟi phҫn ÿông cӱ tӑa không phҧi ngѭӡi Ҩn. Cӱ tӑa cӫa buәi nói chuyӋn tháng 10 năm 1986 thuӝc thành phҫn ngѭӡi Ҩn thành thӏ tân tiӃn. Vì vұy ÿӭc Ðҥt-lai Lҥt-ma trình bày Phұt pháp phù hӧp theo ÿó. Buәi nói chuyӋn ÿѭa ÿӃn kӃt quҧ vô cùng tӕt ÿҽp, và LTWA rҩt vui mӯng ÿѭӧc phә biӃn nӝi dung buәi nói chuyӋn lҫn ҩy ÿӃn vӟi thành phҫn ÿӝc giҧ ÿông ÿҧo qua cuӕn sách này. Cҧm tѭӣng chính khi nghe buәi nói chuyӋn là Phұt giáo tuy là tôn giáo nhѭng thұt sӵ là mӝt phѭѫng thӭc sӕng, ÿӇ mang lҥi hҥnh phúc, hòa bình, làm sao cho ÿӡi sӕng có ý nghƭa, làm sao ÿӇ hòa ÿӗng vӟi ÿӡi sӕng và môi trѭӡng xung quanh. Ðó là mөc ÿích chính cӫa phѭѫng pháp chӍ quán dҥy ӣ ÿây. Luôn luôn giӳ 12 aPháp Tu Tây Tҥng 12 trong tâm hình ҧnh sӕng ÿӝng cӫa Phұt và Bӗ tát, nuôi dѭӥng nguӗn cҧm hӭng cӫa năm ÿӭc tính Phұt - tӵ tҥi, tӯ bi, trí tuӋ, năng lӵc và lӧi ích chúng sinh - nhӡ ÿó ÿӡi sӕng chan hòa hҥnh phúc an bình; cuӝc sӕng trӣ nên thұt sӵ có ý nghƭa. Gyatsho Tshering Giám Ðӕc LTWA

Thái ÿӝ và Hành ÿӝng

Ðһc ÿiӇm Phұt giáo Tây tҥng

Phật pháp có hai loại giảng: thứ nhất là giảng cho tín đồ, trong trường hợp này, tín đồ thể hiện lòng thiết tha với giáo pháp và tôn kính thầy, đồng thời cần sám hối và cúng dường cả nội tâm lẫn ngoại vật trước khi nhận pháp Thứ hai là giảng giữa người giảng và người nghe, không có quan hệ thầy trò, vì vậy không cần câu nệ hình thức.

Chúng ta thường gặp khó khăn trong việc giao tiếp, đặc biệt là giữa những người khác nhau Buổi nói chuyện này không dựa trên bất kỳ kinh điển nào, mà tôi muốn chia sẻ về tinh thần của Phật pháp Nếu có gì thắc mắc, xin quý vị cứ tự nhiên đặt câu hỏi.

Để hiểu rõ về Phật giáo Tây Tạng, trước hết cần nắm vững những khái niệm cơ bản và triết lý của nó Phật giáo Tây Tạng không chỉ đơn thuần là một hệ thống giáo lý mà còn là một truyền thống văn hóa phong phú Mặc dù quy mô của nó có thể nhỏ bé, nhưng sự sâu sắc và đa dạng trong thực hành tâm linh là rất lớn Ngày nay, truyền thống Phật giáo Tây Tạng vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc bảo tồn những giá trị tâm linh và tri thức, góp phần vào sự phát triển của nền văn hóa thế giới.

Mặc dù nhà tôi đã nói, buổi nói chuyện này không mang tính hình thức, nhưng vì tôi là một sa môn, trước khi bắt đầu tôi xin được tán dương Đức Phật Cồ Đàm.

Là b̵c th̯y t͙i cao Ðã d̩y lý duyên khͧi

Không di t cNJng không sinh

Khôngÿo̩n cNJng không th˱ͥng

Phật giáo có hai tông phái chính là thiền tông và tiểu thừa Thiền tông tập trung vào việc chuyển hóa tâm thức, trong khi tiểu thừa chú trọng đến việc dạy dỗ cho số đông Thiền tông sử dụng nhiều phương pháp như thiền định, khí công và luân xa để phát triển tâm linh Phật giáo đã truyền bá sang Tây Tạng qua nhiều thế kỷ, mang theo ba lớp giáo pháp: tiểu thừa, thiền tông và mật tông, kết hợp lại thành một con đường tu tập thống nhất.

Lý do tôi theo đuổi con đường này là vì tôi tin tưởng vào giáo pháp mà tôi đã học Hằng ngày, tôi cố gắng thực hành những giáo lý đó, sống một cuộc đời có ý nghĩa và tích cực Tôi cảm thấy rằng việc áp dụng những giá trị này giúp tôi trở thành một người tốt hơn và đóng góp tích cực cho xã hội.

Phұt giáo Tây tҥng, tӹ kheo thӑ 253 giӟi, phҧi nghiêm giӳ

253 giӟi này Thêm vào ÿó, mӛi ngày tôi ÿӅu ngӗi thiӅn chӍ

(shamatha, zhi gnas) và thiӅn quán (vipashyana, lhag mthong) theo pháp tu tiӇu thӯa.

Tuy vững vàng, công phu chính của tôi là thực hành dựa trên nền tảng của ÿҥi bi (karuna, snying rje) và ÿҥi tӯ (maitri, byams pa), từ đó phát triển tâm bồ đề (bodhicitta, byangchub sems) và thực hành sáu hạnh toàn hảo, bao gồm Thí.

Giӟi, Nhүn, Tҩn, Ðӏnh và TuӋ là những yếu tố quan trọng trong việc thực hành Phật giáo Tôi cũng thực hành phương pháp quán tưởng Hӝ Phật Du Già, một hình thức tu tập thuộc giáo pháp của tông này.

Phật giáo Tây Tạng là sự kết hợp của ba lớp giáo pháp, tạo thành một hệ thống tu học phong phú và súc tích Giáo pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bao gồm hai phương diện chính: hành động và quan niệm.

Theo lời Phật dạy, cái gã là "quan niệm" phải là tinh thần bất bạo động, là tâm bất hại (ahimsa, tshe med zhi ba’l lam) Tâm bất hại có nghĩa là không gây hại và luôn mang lại lợi ích cho người khác Hầu hết mọi tôn giáo lớn đều nói tới tinh thần bất bạo động, đòi hỏi con người phải có trái tim nhân ái, nuôi dưỡng tâm tính tốt lành, và giữ tâm lòng nhân ái Mục tiêu của mọi tôn giáo lớn đều giảng nhau về điểm này, hướng tới bình an nhân loại.

Mỗi tôn giáo đều có một hệ thống triết lý riêng, và con người cần tự nhận thức để xác định khuynh hướng của bản thân phù hợp với hệ thống đó Dù có nhiều triết lý khác nhau, mục tiêu chính của tôn giáo vẫn là hướng tới sự giác ngộ tâm linh và sự thanh thản trong tâm hồn Mặc dù tồn tại nhiều hệ thống triết lý, mục tiêu chung vẫn là phát triển trí tuệ và nuôi dưỡng lòng nhân ái.

Hãy xem xét hai hệ thống triết lý hữu thần và vô thần Nhiều tôn giáo công nhận sự tồn tại của một đấng sáng tạo, nguồn gốc của vạn vật và con người Sống theo ý chí của đấng sáng tạo được cho là mang lại hạnh phúc và bình an.

Cá nhân con người không có gì đáng nói, nhưng ý tưởng sáng tạo mới thật quan trọng Mọi giá trị đều do ý tưởng sáng tạo mà có, vì vậy cá nhân con người không nên đi ngược lại ý tưởng sáng tạo Nói vậy nhiều người thấy hợp lý, sống thuận theo đó, nhằm tìm kiếm quân bình trong đời sống tinh thần và vật chất.

Lòng tin vào mối quan hệ giữa bản thân và cuộc sống thường bị ảnh hưởng bởi sự hoài nghi Khi nhận ra rằng hạnh phúc không nằm trong tay của người khác mà nằm trong chính mình, người ta có thể tìm thấy sự cân bằng trong tâm hồn và cuộc sống.

Phật giáo phù hợp với loài người, mặc dù có quan niệm rằng hạnh phúc là trái với ý Phật, nhưng đó không phải là nội dung cốt lõi của Phật giáo Phật dạy rằng chúng ta không nên cầu xin những điều mình không muốn, mà hạnh phúc mà chúng ta mong cầu là kết quả của nhân quả Do đó, con người có khả năng điều khiển vận mệnh của chính mình.

Thұt tánh cӫa Tâm

Kinh sách Phật giáo khẳng định rằng để xác định một sự vật có thật hay không, cần xem xét xem sự vật đó có phải là đại diện của nhận thức đúng đắn hay không Chân lý được xác định bởi nhận thức đúng đắn; nếu không phải do nhận thức đúng đắn mà có, thì điều đó không được coi là sự thật.

Hiện tượng có thể chia thành hai loại: một là hiện tượng có thể xảy ra hoặc không xảy ra; hai là hiện tượng luôn luôn tồn tại trong không gian.

Hiện tượng duyên sinh là hiện tượng có khi có, có khi không, được hình thành từ sự kết hợp của các yếu tố Trong khi đó, hiện tượng không duyên sinh luôn hiện diện và không phụ thuộc vào sự kết hợp của nhân duyên, do đó được xem là vô vi.

Hiện tượng hữu vi rất đa dạng, bao gồm các loại hữu vi hữu sắc như hình dáng và màu sắc, được gọi là sắc pháp trong Phật giáo Ngoài ra, còn có loại hữu vi vô sắc, không có hình dạng cụ thể, như tâm thức hay kiến thức Một loại khác hoàn toàn là khái niệm trừu tượng, ví dụ như thời gian hay cái tôi Do đó, hiện tượng hữu vi có thể là sắc, thực, hoặc không phải sắc và cũng không phải thực mà là khái niệm trừu tượng.

Sҳc là tҩt cҧ nhӳng gì có thӇ nhұn thӭc bҵng giác quan, nhѭ hình sҳc do nhãn thӭc nhұn biӃt, âm thanh do nhƭ thӭc nhұn biӃt, v.v

Thức có hai loại: tâm vững và tâm sở Tâm vững là loại tâm thức trực tiếp liên quan đến giác quan, trong khi tâm sở là những trạng thái tâm thức phụ thuộc vào tâm vững mà không dựa vào giác quan Tâm vững lại chia thành hai loại: một là tâm thức thuộc phạm vi ngũ căn, hai là tâm thức thuộc phạm vi của ý.

Tâm sinh có năm mươi mặt thể hiện sự đa dạng trong cảm xúc và hành vi Năm mặt này bao gồm lãnh đạo, liên tưởng, lo lắng, thao tác, mong muốn, và giao tiếp Mỗi mặt tâm này đều đi kèm với tâm vững, tạo nên sự ổn định trong các phản ứng tâm lý Bên cạnh đó, sáu tâm sinh còn liên quan đến năm tâm sinh chính, trong đó bao gồm các căn bản phiền não và những tình trạng tâm lý khác.

Tâm vương là phần quan trọng trong triết học, liên quan đến ngũ căn và tiềm thức, và được hình thành từ ba yếu tố chính, gọi là ba duyên tác Cuốn sách là biểu hiện của tri thức và cũng là duyên tác phát sinh ra tri thức đó Tông phái Tì bà sa (Vaibhashika) cho rằng tâm thức có thể sinh ra mà không cần đến biểu hiện, trong khi Tì Đạt Ma Câu Xá 2 nhấn mạnh rằng tri thức chỉ là nhận biết chứ không phải là tâm thức Các tông phái khác như Kinh lượng (Sautrantika) và các tông phái cao hơn lại khẳng định rằng tri thức phụ thuộc vào biểu hiện của tâm thức Có nhiều quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa biểu hiện và tâm thức, và tôi xin giải thích hiện tượng này theo hướng nhấn mạnh rằng biểu hiện nằm ngoài tâm thức.

Nhӡ có cuӕn sách trѭӟc mһt nên ta mӟi thҩy cuӕn sách

Vậy cuốn sách là một trong những yếu tố quan trọng tạo ra nhãn thức, và yếu tố này gọi là duyên 3 Ngoài ra, nhãn thức còn có khả năng nhận biết hình sắc mà không nhận biết âm thanh Căn cứ vào những yếu tố này, vai trò của nhãn thức trở nên rất quan trọng.

1 Ðӑc thêm vӅ tâm vѭѫng, tâm sӣ: HT Thích ThiӋn Hoa, Ph ̵ t H ͕ c Ph ͝

Thông, Khóa 9, t ұ p 1, bài 3-9 Ҩ n b ҧ n ÿ i Ӌ n t ӱ t ҥ i: http://www.thuvienhoa sen.org/phathocphothong-09.htm

2 Treasury of Manifest Knowledge, Ph ҥ n: abhidharmakosa D ӏ ch ngh ƭ a, Th ̷ ng pháp lu ̵ n.

Ba điều kiện để phát sinh nhãn thức bao gồm: tăng thượng duyên, duyên sinh và vô gián duyên Tăng thượng duyên là yếu tố chính, trong khi duyên sinh và tăng thượng duyên kết hợp lại tạo ra nhãn thức Ví dụ, khi nhìn thấy một vật nhưng không nhận ra, cho thấy sự tồn tại của yếu tố thứ ba - vô gián duyên, liên quan đến trải nghiệm tâm thức Dù có các yếu tố như nhãn căn, nếu não không hoạt động bình thường thì nhãn thức vẫn không phát sinh, do đó, não cũng là một yếu tố quan trọng Tuy nhiên, não không có khả năng tự phát sinh kinh nghiệm nhãn thức, mà còn cần đến yếu tố thứ hai là ý thức Còn có năm loại tâm thức phát sinh từ giác quan không nằm trong khái niệm cụ thể Khi nhìn một cuốn sách, dù là nhìn tổng quát, vẫn có phần tâm thức chú ý vào một góc nhất định Khi tâm trí bị thu hút bởi hình sắc, có thể không ghi nhận âm thanh, hoặc khi đang lắng nghe nhạc hay mà không nhìn thấy, sau đó không nhớ Điều này cho thấy ngoài tâm thức phát sinh từ giác quan còn có yếu tố tác động khác, đó là ý thức, mà ý thức có hai loại khác nhau.

3 mental consciousness có khái ni m 1 và ý thͱc v˱ͫt khái ni m 2 Ý thӭc vѭӧt khái niӋm còn gӑi là trӵc chӭng.

Có nhiều ý kiến khác nhau giữa các tông phái về việc kinh nghiệm trực chứng có thực sự tồn tại hay không Tuy nhiên, nhiều tông phái cho rằng có ba loại kinh nghiệm trực chứng: trực chứng qua giác quan, trực chứng tâm thức, và trực chứng thiền định Ba loại này thường xảy ra trong quá trình tham thiền.

Sáu tâm vững - tủy nhãn thức cho ý thức - luôn luôn đi liền với năm loại tâm sinh có mặt cùng khắp Các loại tâm sinh khác không phải lúc nào cũng có mặt Vì có nhiều chức năng khác nhau, tâm sinh được chia thành hai loại: một là nhân thức đúng, hai là nhân thức sai lệch.

Muӕn ÿҥt thành tӵu trên ÿѭӡng tu, chúng ta cҫn dӵa vào loҥi nhұn thӭc ÿúng ÿҳn Nhұn thӭc ÿúng ÿҳn ÿѭa ÿӃn hai kӃt quҧ,k͇t qu̫ không gián ÿo̩nvà k͇t qu̫ có gián ÿo̩n 5

Còn nhұn thӭc sai lӋch có ba loҥi Mӝt là không bi͇t ÿ͙i c̫nh, hai là bi͇t sai ÿ͙i c̫nh, ba là nghi ho̿c ÿ͙i c̫nh.

Không biết về địa cành có nghĩa là tâm thức tuy giao tiếp với địa cành nhưng không biết, không ghi nhận Biết sai địa cành có nghĩa là tâm thức tuy biết địa cành, nhưng biết một cách sai lệch méo mó Nghi học địa cành có ba loại, một là

Có năm kết quả: thứ nhất là nghi hoài sai, thiên lệch và điều đúng; thứ hai là nghi hoài đúng, nhưng lại dẫn đến sai lầm; thứ ba là nghi hoài cả hai, dẫn đến sự lẫn lộn Nhận thức sai lệch có nhiều mức độ khác nhau Để chuyển đổi nhận thức sai lệch thành nhận thức đúng đắn, cần trải qua nhiều chặng đường chuyển hóa tâm thức.

Bước đầu tiên của con đường chuyển hóa tâm thức là phải dừng lại để chạm tới bản thể vĩnh cửu Chúng ta thường bám chặt vào những nhận thức sai lầm Có nhiều phương pháp giúp chúng ta suy nghĩ và phân tích vấn đề sâu hơn, từ đó bắt đầu nghi hoặc về những điều mình thường làm tin tưởng Tâm nghi hoặc ngày càng gia tăng Nếu tiếp tục duy trì tư duy phân tích và thực tiễn, dần dần nghi hoặc sẽ dẫn đến hiểu biết chính xác và phát triển Tâm sẽ dần quen với chân tướng của thực tại, và đến một lúc nào đó sẽ vượt thoát khỏi khái niệm, có được kinh nghiệm trực chứng.

Trí tuӋ có thӇ ÿӃm thành ba loҥi, trí tu ÿ͇n tͳ s͹ nghe

[văn tuӋ],trí tu ÿ͇n tͳ s͹ hi͋u [tѭ tuӋ],trí tu ÿ͇n tͳ s͹ tu

Tâm thức được phân thành nhiều loại khác nhau, và để hiểu rõ về nó, trước tiên cần nhận biết và xác định các đặc điểm của tâm thức Tiếp theo, cần nhận diện các đặc tính của tâm thức trong các tình huống cụ thể Cuối cùng, cần hiểu rõ mối quan hệ giữa tâm thức và các đặc tính đó để có cái nhìn toàn diện hơn.

Hӓi ÿáp

Có nhiều phương pháp khác nhau để giải quyết vấn đề Bạn có thể tham khảo một số kinh nghiệm thông thường hoặc thử nghiệm những cách tiếp cận khác nhau để tìm ra phương pháp phù hợp nhất cho mình.

Các tôn giáo đều nhấn mạnh việc giúp con người sống tốt đẹp hơn Mặc dù có những điểm chung này, triết lý và phương pháp thực hành của mỗi tôn giáo lại khác nhau Chẳng hạn, Thiên Chúa giáo cho rằng con người có thể lên thiên đàng, trong khi Phật giáo dạy rằng con người có thể đạt được niết bàn để giải thoát.

Trong Phật giáo, niết bàn mang nhiều ý nghĩa, với Tỳ bà sa cho rằng niết bàn là trạng thái rỗng lặng mà các giác quan ngừng hoạt động khi rời khỏi thế giới Đây không chỉ là sự tách biệt khỏi não bộ mà còn là sự tách rời khỏi tâm thức Tông phái này khẳng định rằng tâm không thường trụ, và vì vậy, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni được xem như một nhân vật lịch sử không còn hiện hữu nữa.

Ngài Long Thӑ ngѭӧc lҥi khҷngÿӏnh niӃt bàn giҧi thoát là trạng huӕng tách lìa phiӅn não ô nhiễm Nhấp niӃt bàn giҧi thoát không có nghĩa là dọn dẹp tâm thức, mà vẫn phải có mặt người tham gia niӃt bàn Đây là điều ngài

Về mặt triết lý, công nhân có nhiều kiến giải khác nhau, và trong Phật giáo cũng tồn tại nhiều niềm tin khác biệt giữa các tông phái Hiện nay, nếu người theo Thiên Chúa giáo thực sự không biết có phương pháp tu nào trong Đạo Thiên Chúa có thể giúp họ hiểu rõ hơn về những kiến thức này, thì đây là một vấn đề cần được xem xét kỹ lưỡng.

Phұt giáo hay không, câu trҧ lӡi khҷng ÿӏnh là không

Từ góc độ Phật giáo, không có pháp tu nào tương đương với thiên đường của Thiên Chúa giáo Trong bối cảnh này, việc tu hành trong Phật giáo cần phải tuân theo những phương pháp và nguyên tắc riêng biệt, không thể so sánh trực tiếp với các tín ngưỡng khác.

Phұt giáo Còn nӃu trong lòng không thҩy hӭng thú vӟi pháp tu Phұt giáo thì nên tìm cho mình mӝt tôn giáo khác thích hӧp hѫn.

Hãy xem xét rằng trong Phật giáo, lý trí thường bị đánh giá cao Tuy nhiên, có lúc chúng ta có thể nghi ngờ và cho rằng những kinh nghiệm phi thường là điều không hợp lý và không đáng quan tâm Thực tế là những kinh nghiệm này có thật và không phải ai cũng có Chúng ta nên phân biệt và suy luận cẩn thận về những điều này để hiểu rõ hơn về sự thật.

Có một số kinh nghiệm cần dựa vào từng tâm thức thô lậu để có thể biết được, nhưng cũng có một số kinh nghiệm cần vận dụng những tâm thức vi tế hơn để hiểu rõ hơn Ví dụ, khi ngủ, tâm thức trong trạng thái ngũ luôn vi tế hơn tâm thức khi tỉnh, do đó lúc ngủ có thể có những kinh nghiệm mà khi tỉnh không thể có.

Khi chúng ta sử dụng tâm thức trong việc quan sát và trải nghiệm, tâm trí có thể trở nên trong sáng và nhạy bén Điều này cho phép chúng ta nhận thức sâu sắc hơn về những gì đang diễn ra xung quanh Dựa vào lý luận, chúng ta có thể suy ngẫm và kiểm chứng những kinh nghiệm khác nhau, từ đó nhận ra rằng có nhiều phương pháp khác nhau để hiểu rõ hơn về thực tại, giúp nâng cao trải nghiệm sống của chúng ta.

Hӓi Nếu bạn muốn hiểu về giấc mơ, điều quan trọng là phải có những kiến thức cơ bản về tâm lý học và các phương diện khác Giấc mơ không chỉ đơn thuần là những hình ảnh ngẫu nhiên mà thường mang ý nghĩa sâu sắc Đặc biệt, giấc mơ xảy ra vào ban đêm thường quan trọng hơn so với giấc mơ vào ban ngày Nếu bạn thực sự muốn khám phá ý nghĩa của giấc mơ, cần phải hiểu rõ các bước cần thiết để giải mã và điều khiển các cảm xúc liên quan đến giấc mơ của mình Việc phân tích giấc mơ có thể giúp bạn hiểu rõ hơn về bản thân và những khía cạnh tiềm ẩn trong tâm trí.

Trung Quán, tông phái cao nhҩt trong Phұt giáo, thì mӑi kinh nghiӋm tâm thӭc khi thӭc giҩc ÿӅu là hѭ vӑng cҧ.

Ngay khi tӍnhÿã hѭ vӑng, huӕng gì khi mѫ.

Hӓi.Vұy mѫ có khi chӍ là hѭ vӑng, làm sao phân biệt giữa hѭ vӑng và chân thұt? Khi nói về nhận thức, hѭ vӑng được hiểu theo Chân ÿӃ, tức là chân lý rất rõ ràng Ngược lại, theo TөcÿӃ, chân lý có thể có những khía cạnh khác nhau, tạo nên nhận thức đa dạng.

Nhận thức có hai hình thức: học trực tiếp và học gián tiếp Trong đời sống hàng ngày, chúng ta thường sử dụng loại nhận thức gián tiếp để so sánh bản thân với người khác Nếu bạn cảm thấy nghi ngờ khi so sánh như vậy, thì cũng không cần phải quá lo lắng.

Cӭ nhӟ nghƭ vӅ nghiӋp, vӅ cҧnh sӕng luân hӗi vӕn là khә não,ÿӇ giӳ bình tƭnh Rӗi tiӃp tөc phân tích tìm hiӇu.

Hӓi Làm thế nào để phân biệt khi nào tâm trạng đang hưng phấn và khi nào không? Để duy trì sự hưng phấn, bạn cần hiểu rõ tâm trạng của mình Có hai cách nhìn nhận quan trọng: một là cái nhìn đúng đắn thuộc phạm vi tốc độ, hai là cái nhìn đúng đắn thuộc phạm vi xuất phát.

Cái nhìn đúng đắn về thực phẩm vi xuât là nhận chân tánh Không của sự vật, cho thấy rằng sự vật chỉ là biểu hiện của những yếu tố tạm thời Sự vật không có tánh chất cố định, mà chỉ hiện hữu một cách tạm bợ, và việc cho rằng chúng có tánh chất thực sự là một sai lầm Để nhận ra sai lầm này, trước hết cần hiểu rằng sự vật không phải như ta thấy, mà hoàn toàn không phải là một thực thể có tánh chất cố định Khi nhận thức được chân tánh của sự vật, ta sẽ thấy rõ nhận thức của mình và sự vật chỉ là một nhận thức sai lầm.

Khi phiền não dấy lên trong tâm, cảm giác yêu thương hay ghét thường trở thành những phản ứng tự nhiên Chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng những cảm xúc này là sự phản ánh của tâm trí Nếu hiểu rõ bản chất của phiền não, chúng ta có thể giảm bớt cảm giác yêu ghét Trong giai đoạn này, chúng ta cần thực hành quán tánh Không.

Thӵc chҩt ÿѭӡng tu

Nhӏ ÿӃ

Giҧi thích vӅ thӃ giӟi hiӋn tѭӧng rӗi, bây giӡ tôi xin giҧi thích vӅ các giai ÿoҥn tu chӭng.

Mọi người đều khao khát hạnh phúc và tránh né đau khổ Phật giáo nhấn mạnh rằng mỗi cá nhân đều có quyền thực hiện hai mục tiêu này trong cuộc sống Hạnh phúc và đau khổ có nhiều dạng, nhưng nhìn chung có thể chia thành hai loại: thể xác và tinh thần Kinh nghiệm tinh thần thường quan trọng hơn so với kinh nghiệm thể xác.

Phұt dҥy có nhiӅu cách diӋt bӓ khә ÿau tinh thҫn, thành tӵu an lҥc Phѭѫng pháp diӋt khә ÿѭӧc Phұt nói trong DiӋt ÿӃ, là chân lý thӭ ba cӫa Tӭ DiӋu ÐӃ.

DiӋt ÿӃ là chân lý vӅ sӵ tұn diӋt cӫa khә ÿau, còn ÿѭӧc gӑi là giҧi thoát, là niӃt bàn Ðây là trҥng thái tâm thӭc hoàn toàn tách lìa mӑi hѭ vӑng phiӅn não.

Tâm vӕn có khҧ năng tách lìa hѭ vӑng phiӅn não Muӕn hiӇu ÿѭӧc ÿiӅu này, cҫn hiӇu vӅ hai chân lý là Chân ÿ͇ và

Tͭcÿ͇, nói cách khác, là chân lý rӕt ráo và chân lý qui ѭӟc

(khác vӟi Tӭ DiӋu ÐӃ) Tôi sӁ giҧi thích dѭӟi ÿây vӅ Chân ÿӃ và TөcÿӃ dӵa theo quan ÿiӇm cӫa tông phái Trung quán

Phұt giáo có bӕn tông phái: hai tông phái tiӇu thӯa là Tì bà sa luұn bӝ và Kinh lѭӧng bӝ; hai tông phái ÿҥi thӯa là

Duy thức và Trung quán là hai tông phái xuất phát từ giáo huấn của Phật, nhưng lại có những quan điểm khác biệt với nhau Mặc dù cả hai tông phái đều dựa trên giáo lý của Phật, nhưng cách tiếp cận và diễn giải của chúng lại không giống nhau.

Làm sao có thӇ biӃt kiӃn giҧi nào ÿúng hѫn? Chính ÿӭc

Phұt có ÿӅ nghӏ mӝt phѭѫng pháp tiӃp cұn nhѭ sau:

Kính gửi các bậc hiền tài, xin hãy lắng nghe lời Thầy dạy và phân tích tầm quan trọng của việc hiểu biết về kim hoàn và vàng Hãy tin tưởng vào những gì Thầy đã truyền đạt.

Phật giáo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân theo giáo pháp một cách chính xác, bao gồm bốn nguyên tắc cơ bản: 1 Hành động dựa trên giáo pháp, không phụ thuộc vào cá nhân người truyền đạt; 2 Hiểu rõ ý nghĩa, không chỉ dừng lại ở ngôn từ; 3 Nắm bắt ý nghĩa sâu sắc, không chỉ theo cách diễn đạt bề ngoài; 4 Dựa trên kinh nghiệm thực tiễn, không chỉ dựa vào kiến thức lý thuyết Do đó, Phật khuyến khích người tu hành tự phân tích và đánh giá các giáo lý của Ngài Việc sử dụng trí tuệ để phán xét quan điểm nào là chính xác là rất cần thiết, thay vì chỉ đơn thuần trích dẫn lời dạy của Phật.

Hai tông phái ÿҥi thӯa (Duy thӭc và Trung quán) công nhận tánh Không của sự vật, tức là pháp vô ngã, trong khi hai tông phái tiӇu thӯa (Tì bà sa luұn bӝ và Kinh lѭӧng bӝ) lại công nhận tánh Không của con người, tức là nhân vô ngã.

1 B ӕ n tông phái trong Ph ұ t giáo: Vaibhashika, Sautrantika, Chittamatra và Madhyamika

2 T ӭ Pháp Y: y pháp b ҩ t y nhân, y ngh ƭ a b ҩ t y ng ӳ , y li Ӊ u ngh ƭ a b ҩ t y bҩt liӉu nghƭa, y trí bҩt y thӭc. nhұn tánh Không cӫa sӵ vұt.

Tì bà sa luôn bền vững và Kinh lương bền khẳng định rằng sự vật có tính chất Duy thức cho rằng sự vật sinh ra từ tương tác của tâm thức Trung quán chia thành hai phái: Trung quán Y nói rằng tất cả mọi hiện tượng đều là tên gọi và khái niệm; Trung quán C duyên cho rằng mọi hiện tượng tuy vô ngã nhưng vẫn thực sự hiện hữu trên lãnh vực quy ước.

Theo lý thuyết, việc sử dụng tâm phân tích để truy tìm chân tướng của thực tại giúp chúng ta hiểu được Chân Ý (chân lý rất rõ ràng) Ngược lại, khi dùng trực giác để khám phá thực tại, chúng ta có thể nhận biết được Tốc Ý (chân lý quy nạp).

Sách, với hình thức vật lý là một tập hợp các trang giấy được gắn kết lại, không chỉ đơn thuần là một món đồ vật mà còn mang trong mình nhiều ý nghĩa sâu sắc Mỗi cuốn sách là sự kết hợp của nhiều thành phần như hình dáng, màu sắc và chức năng, tạo nên giá trị riêng biệt của nó Những thành phần này có thể được phân chia thành nhiều phần nhỏ hơn, từ bìa, trang giấy cho đến nội dung bên trong, và mỗi phần lại có thể được phân tích sâu hơn nữa Sách không chỉ là nơi lưu giữ thông tin mà còn là một tác phẩm nghệ thuật, phản ánh sự sáng tạo và trí tuệ của con người.

1 Madhyamika Svatantrika nhiӅu thành phҫn,ÿѭӧc gӑi chung là “sách”, còn chính cuӕn sách thұt sӵ là gì, càng tìm càng không thӇ kiӃm ra.

Mӑi sӵ vұt khác ÿӅu tѭѫng tӵ nhѭ vұy, tuy có thұt, nhѭng chӍ có trên lãnh vӵc qui ѭӟc cӫa Tөc ÿӃ Xét theo

Chân ÿӃ, sӵ vұt chӍ có thӇ hiӋn hӳu nhӡ mӕi tѭѫng quan giӳa các yӃu tӕ bên ngoài.

Tự nhiên là yếu tố chủ yếu trong môi trường sống của chúng ta Việc xác định một khái niệm cụ thể, như từ "sách", là một quá trình liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau Hơn nữa, sự phân biệt giữa các khái niệm này phụ thuộc vào nhận thức cá nhân, nơi mà ý thức về một khái niệm trước đó sẽ hình thành ý thức về khái niệm sau Không có một thực thể nào tồn tại độc lập mà không chịu ảnh hưởng từ những yếu tố khác xung quanh, và tên gọi chỉ là một phần trong mối liên kết phức tạp đó.

Thuyết về chiều dài và ngắn của ngón tay có thể hiểu như sau: ngón tay cái thường dài hơn ngón út, trong khi ngón giữa lại ngắn hơn so với ngón trỏ Sự so sánh này cho thấy rằng chiều dài ngón tay không chỉ phụ thuộc vào bản thân từng ngón mà còn vào vị trí tương đối của chúng trong bàn tay.

Suy nghiệm nhĩm trên sự thấy mãi hiện tướng không có tính chất độc lập, mà có sự phụ thuộc lẫn nhau Áp dụng lý luận này vào bản thân, có hai loại vô ngã: vô ngã liên quan đến con người và vô ngã liên quan đến các pháp Hai loại vô ngã này được gọi là nhân vô ngã và pháp vô ngã.

Ngã

Cái tôi, hay ngã, theo nhiều học thuyết không phải Phật giáo, được định nghĩa là một hiện tượng thường hằng, bao trùm và không thay đổi hay diệt vong, nằm ngoài thân tâm con người Tuy nhiên, Phật giáo không công nhận sự tồn tại của cái ngã như vậy.

Theo kinh ÿiӇn Phұt giáo, ngã có liên hӋ mұt thiӃt vӟi thân tâm chӭ không biӋt lұp bên ngoài

Năm hớp thể thành một ngươi gồm hai thành phần chính: vật lý và tâm lý, với giai là thân và tâm Từ bản năng sinh, con người tự nhiên cho rằng thân này thuộc về tôi Lý cũng có cảm giác rất tự nhiên cho rằng tâm cũng vậy, cũng thuộc về tôi Vì vậy mà thấy cái tôi với thân tâm không phải là một Tuy đây là cảm giác bẩm sinh, nhưng nếu dùng lý trí phân tích thì lý thấy cái tôi thực ra không nằm ngoài thân tâm.

Cái tôi không tồn tại, vì vậy không thể có sự hiện hữu của con người Mặc dù cái tôi có thể thật, nhưng lại không thể tìm thấy khi phân tích, điều này cho thấy cái tôi thật ra không hiện hữu hay bị che giấu Theo Trung Quán, đây chính là ý nghĩa của chữ danh, tức cái tên, không có nền tảng chắc chắn Do đó, chúng ta cần hiểu rằng mặc dù chúng ta thấy vật chất có tính tạm thời, nhưng cái thấy này lại không phù hợp với kết quả tìm thấy qua sự phân tích.

Vì sao việc tìm hiểu qua phân tích lối sống tin cậy? Bởi vì thông tin mà chúng ta tiếp nhận thường dính liền với tính cách, từ đó phát sinh nhiều phiên não nhạy cảm và chấp nhận Hiểu biết về nhân tánh giúp nhận diện sự vật và vấn đề một cách rõ ràng, giúp giảm thiểu sự phát sinh của những phiên não không cần thiết.

Mӑi trҥng thái tiêu cӵc cӫa tâm thӭc ÿӅu bҳt rӉ tӯ tâm chҩp ngã Tâm này hѭ vӑng méo mó Nhӡ phӫ nhұn tӵ tánh cӫa sӵ vұt, gӕc rӉ cӫa phiӅn não sӁ bӏ chһtÿӭt.

Muӕn ÿoҥn diӋt phiӅn não, cҫn bѭӟc qua ba chһng ÿѭӡng Trѭӟc hӃt, ÿӯng ÿӇ phiӅn não có cѫ hӝi phát sinh

TiӃp theo, ráng diӋt bӓ phiӅn não Sau cùng, ráng diӋt bӓ cҧ tұp khí cӫa phiӅn não còn sót lҥi trong tâm thӭc.

Bài viết này trình bày ba loại thành tựu quan trọng trong quá trình tu hành: Thứ nhất, thành tựu không còn bị ảnh hưởng bởi nghiệp chướng và tâm thức, giúp tái sinh trong thiền định; Thứ hai, thành tựu giải thoát khỏi não phiền, đạt được sự thanh thản; Thứ ba, thành tựu trí tuệ toàn giác của Phật, thông qua việc diệt trừ các chướng ngại của tâm trí Những thành tựu này được thể hiện qua ba môn vô lự học Giải Định Tụ.

Giải là cách hành động và lời nói của mình, không phải là phẩm chất ác nghiệp Như vậy, giải nên tránh được mọi xao lãng thô lỗ của tâm thức Định là tình trạng thu nhập tâm thức, thành tựu trạng thái tập trung tuyệt đối, diệt bỏ toàn bộ mọi xao lãng vì tính chất của tâm thức.

Nhұp Ðӏnh quán tánh Không thì ÿѭӧc TuӋ.

Ba môn vô lựu hắc Giải Định Tú có khả năng giải thoát người tu ra khỏi ba loại khổ Nhóm Giải mà thoát khỏi độc giải, lên sắc giải, diệt được loại khổ đau xác tinh thần Nhóm Định mà thoát khỏi sắc giải, diệt được loại khổ đau tinh thần thay đổi Nhóm Tú mà thấy được chân tướng của sinh tử, diệt được tất cả các loại khổ đau liên quan trong luân hồi.

C Hӓiÿáp Hӓi Trung quán Cө duyên cho rҵng thӃ giӟi hiӋn tѭӧng chӍ có qua khái niӋm NӃu thұt là nhѭ vұy, có phҧi ngay cҧ hiӋn hӳu khách quan cӫa sӵ vұt cNJngÿã bӏ phӫ nhұn? Ðáp Trung quán Cө duyên nói sӵ vұt chӍ là giҧ danh, ÿiӅu này không phӫ nhұn thӵc tҥi khách quan, không phӫ nhұn nhӳng hiӋn tѭӧng không có tên, mà chӍ khҷng ÿӏnh rҵng nhұn thӭc cӫa chúng ta thѭӡng không phҧi là nhұn thӭcÿúngÿҳn.

Trung quán Cө duyên luôn phản ánh rõ nét bản chất của sự vật, điều này không dễ dàng để nhận ra Điều này không có nghĩa là sự vật không tồn tại, mà thực chất là sự vật đó không mang tính chất cụ thể.

Ngài Long Thӑ trong bài kӋ mӣ ÿҫu Lu̵n Trung quán giải thích rằng mặc dù trên lãnh vực quy ước vũ trụ có sự tồn tại và biến đổi, nhưng nếu phân tích sâu sắc, sẽ nhận thấy sự vật hoàn toàn không có tự tánh Cái bàn, ví dụ, không có tự tánh bởi vì nó có thật, tồn tại nhờ nhân duyên Do đó, chính sự tồn tại của cái bàn chứng minh rằng nó không có tự tánh.

Duy thực tông khẳng định rằng, do không thể tìm ra chân lý khách quan, nên hiện tượng khách quan không thể tách rời khỏi tâm thức con người Theo quan điểm này, thế giới khách quan bên ngoài không có thực thể độc lập và không thể hiện hữu mà không có sự tham gia của tâm thức bên trong.

Hӓi Xin ngài giҧi thích sѫ qua vӅ cuӝc tranh luұn giӳa thánh tăng Ҩn ÿӝ Kamalashila và ÿҥi sѭ Trung hoa

Hashang. Ðáp Vào thӡi cӫa thánh Shantarakshita, có nhiӅu vӏ ÿҥi sѭ Trung hoa sӕng trên ÿҩt Tây tҥng, ÿѭӧc gӑi chung là

Hashang là một phần quan trọng trong tu viện Samye, nơi các nhà dịch giả và hành giả thực hành một tông phái hoặc thiền phái riêng biệt theo từng dãy nhà Các vườn Hashang được gọi là "Cõi Đỉnh Đỉnh Bất Đẳng 1", dành riêng cho những người tu thiền.

Vào thời kỳ trước, các vị Hashang đã thực hành thiền định một cách nghiêm túc Phương pháp tu của các vị không có gì sai, mà còn rất chuyên sâu và thiền định Kinh có nói rằng nếu không ly niệm, sẽ không thể giải thoát Vào thời của ngài

Kamalashila, nhiӅu vӏ Hashang hiӇu sai câu nói này, cho rҵng bҩt cӭ loҥi niӋm nào cNJng là khuyӃtÿiӇm cӫa tâm

Trong một tông Tài thượng Du già, khi mạn thâm nhập ánh sáng chân nhũ, người tu cần ly niệm, vì còn niệm thì khí vi không thể vững an trong dòng khí.

Trong giai đoạn này, việc tu tập cần phải chú trọng đến việc thu nhận năng lượng và làm sạch khí mạch trung tâm Điều này không chỉ giúp nâng cao nhận thức mà còn tạo ra sự phân biệt rõ ràng giữa các khái niệm Mỗi niềm vui đều có giá trị riêng, nhưng không phải niềm nào cũng dẫn đến sự phát triển tâm linh.

Hai pháp tu trӑng yӃu

Tәng quan Phұt giáo

Khai mӣ trí giác

Ðѭӡng ÿi cӫa Phұt

Ngày đăng: 25/06/2021, 03:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

hình thӭc, nhѭng vì tôi làm ӝt sa môn, trѭӟc khi bҳt ÿҫu tôi xin ÿӑc lӡi tán dѭѫngÿӭc Phұt Cӗ Ðàm:  - Pháp tu Tây Tạng dành cho Phật tử nhập môn
hình th ӭc, nhѭng vì tôi làm ӝt sa môn, trѭӟc khi bҳt ÿҫu tôi xin ÿӑc lӡi tán dѭѫngÿӭc Phұt Cӗ Ðàm: (Trang 11)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w