phần kiểm tra, chấm và trả bài cũng nên áp dụng cho kỳ ôn thi tuyển sinh + GV cần có nhận xét đánh giá về kết quả của bài kiểm tra trước lớp, tuyên dương những học sinh có tiến bộ , khen[r]
Trang 1TÀI LIỆU SINH HOẠT CHUYÊN MÔN
RÈN HS YẾU VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TUYỂN SINH
Nội dung chương trình
- Trường Nam Tân tóm tắt thực trạng dạy và học ngoại ngữ hiện nay của
huyện, nguyên nhân và các biện pháp để giải quyết thực trạng đó.( Mời các trường bổ sung thêm ý kiến) Một số dạng bài và trọng điểm ngữ pháp ôn thi tuyển sinh + Các mệnh đề và giới từ
- Trường Nam điền trình bày phần: Thời của động từ, động từ khuyết thiếu
- Trường Nam Mỹ trình bày phần: câu bị động, mạo từ
- Trường Nam Thắng trình bày phần: câu TT- GT, V+ Ving/ V + to do
- Trường Nam Xá trình bày phần : Các cấp so sánh- tính từ và trạng từ
- Trường Nam Thịnh trình bày về phần: Câu DK loại 1,2 + mệnh đề Wish+ các cấu trúc
I Thực trạng.
Hiện nay, môn tiếng Anh đã được đưa vào dạy ở bậc phổ thông, từ THCS đến THPT, và cho đến năm nay thì TA đã được vào giảng dạy ở tất cả các trường Tiểu học trong toàn huyện Môn Ngoại ngữ là một môn thi tốt nghiệp bắt buộc hàng năm đối với cấp 3 và là môn thi thứ 3 vào PTTH đối với cấp 2 Tuy nhiên, một thực tế là chất lượng dạy và học môn Ngoại ngữ của các trường trong huyện còn thấp,tỷ lệ HS yếu kém còn cao, chất lượng thi tuyển sinh vào cấp 3 còn thấp so với mức bình quân chung của tỉnh
Biểu hiện của học sinh yếu kém về môn tiếng Anh phổ biến nhất là vốn từ nghèo nàn, không nắm được ngữ pháp,nói, viết chưa đạt yêu cầu ,kĩ năng làm bài yếu, chữ viết cẩu thả và sai chính tả
II Nguyên nhân
Tình trạng chất lượng dạy và học môn ngoại ngữ còn thấp do nhiều nguyên
nhân
1 Cơ sở vật chất:
Cơ sở vật chất ở nhiều trường còn thiếu chưa đáp ứng được nhu cầu giảng dạy của bộ môn này: băng, đài, máy chiếu , tranh ảnh, phòng bộ môn…
Trang 22 Đặc thù của bộ môn:
Học một ngoại ngữ bao giờ cũng phải đi theo trình tự Nghe - học nói – học chữ nhưng ở VN đa phần là dạy và học TA tập trung nhiều nào ngữ pháp Điều này cho thấy cách dạy và học TA ở nước ta cũng phần nào ảnh hưởng tới chất lượng dạy và học, không gây được hứng thú cho HS
Việc rèn kỹ năng nghe và nói chưa được chú trọng dẫn đến việc HS không hiểu được những điều GV nói, và HS cũng không diễn đạt được những điều mình muốn nói bằng TA kết quả là HS nhanh quên những điều đã học
Môn tiếng Anh đòi hỏi người học phải chịu khó tự học,kiên trì, đầu tư
nhiều thời gian, phải học thuộc lòng từ vưng,cấu trúc câu và ngữ pháp, phải có
phương pháp học phù hợp
Ngoại ngữ không giống môn Toán, đòi hỏi mọi người tự suy nghĩ và tự phát triển tư duy ở trong đầu mình Ngoại ngữ là môn kỹ năng, giống như học đàn, học võ Đã là môn kỹ năng thì phải rèn luyện thường xuyên, rèn luyện năm này qua năm khác Học TA theo phương châm mưa dầm thấm lâu, vốn từ vựng
và ngữ pháp phải được tích lũy dần dần, chứ không thể học theo kiểu chớp nhoáng, nếu chỉ để đến lúc gần thi mới học thì kết quả sẽ rất hạn chế
3 Học sinh:
Học sinh hầu như chỉ tập trung vào họcVăn và Toán, ít chú ý trau dồi môn Ngoại ngữ
Học sinh chưa nỗ lực vượt khó học tập, chưa có ý thức tự học Nhiều học sinh đến giờ học không chú ý tập trung, về nhà không chịu làm bài tập, không chịu khó rèn luyện học hỏi nên không thể tiến bộ được
Học sinh chưa nhận thức được tầm quan trọng của bộ môn, và học TA như
bộ môn bắt buộc trong nhà trường , vì thi nên phải học, chứ không học nó như một ngôn ngữ, một công cụ cần thiết trong cuộc sống
Học sinh chưa có phương pháp học tập khoa học, hầu hết là học thụ động, lệ thuộc vào các loại sách bài giải (chép bài tập vào vở nhưng không hiểu gì cả)
4 Lãnh đạo các nhà trường và phụ huynh:
Lãnh đạo các nhà trường ,phụ huynh, đã nhận thức được tầm quan trọng của môn học, song chưa coi ngoại ngữ như một công cụ cần thiết cho cuộc sống cho nên chưa có sự đầu tư thời gian tương xứng với yêu cầu của bộ môn, việc học
TA chủ yếu là đối phó với các kỳ thi
5 Về chương trình SGK.
Trang 3Chương trình học còn nặng nề, cung cấp kiến thức sự kiện là chính, nhiều học sinh không theo kịp chương trình, nội dung nhiều trong một tiết học nên giáo viên khó thực hiện đổi mới PP dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của HS vì sợ cháy giáo án
Hs chưa có nhiều thời gian để luyện tập vì bài dài, nội dung chương trình quá nặng… nhất là đối với chương trình lớp 8,9
6 Giáo viên:
Hiện nay giáo viên môn tiếng Anh luôn cần được rèn luyện, trau dồi khả năng nghe nói trong một môi trường có các chuyên gia nước ngoài Thế nhưng, yêu cầu này hầu như không thể đáp ứng được
Kỹ năng nghe và nói của GV còn hạn chế, nguyên nhân một phần là do GV chưa chịu khó rèn luyện, một phần là do chế độ thi cử buộc GV phải dạy theo kiểu thi gì thì dạy ấy dẫn đến 2 kỹ năng này của GV bị mai một
Trình độ giáo viên hiện nay theo tôi nghĩ là có đủ khả năng để giảng dạy, tuy nhiên một số thầy cô cũng chưa thực sự nhiệt tình, hoặc chưa tìm ra được những phương pháp rèn luyện, bồi dưỡng HS hiệu quả
Thời gian dành cho soạn bài còn ít, việc nghiên cứu tài liệu tham khảo để nâng cao nghiệp vụ chuyên môn còn hạn chế
Việc dạy cho học sinh tự học và sáng tạo hình như ít thực hiện, chỉ lo dạy hết giáo án, chương trình, nội dung đã qui định, lo cháy giáo án Giáo viên vẫn chưa sáng tạo ở khâu này
III.Giải pháp:
Để nâng cao chất lượng dạy và học TA thì cần cải thiện đồng bộ những nguyên nhân trên.Trong khuôn khổ và khả năng của chúng ta thì tôi nghĩ một
số biện pháp sau có thể phần nào góp nâng cao chất lượng đại trà cũng như chất lượng tuyển sinh:
Vấn đề mà hầu hết GV chúng ta trăn trở đó là làm sao để vực được những
HS yếu lên trung bình, TB lên TB khá , điều này cũng là vấn đề ở các bộ môn khác Tuy nhiên đối với bộ môn TA thì khó khăn hơn nhiều Bởi vì ở các bộ môn khác HS dù yếu hay kém khi nhìn vào một bài văn hay Toán chúng cũng
có thể đọc và hiểu được yêu cầu hay nội dung của bài đó Nhưng ở môn TA thì hoàn toàn khác, HS đã không có vốn từ vựng là coi như không có gì, vì thế dù bài có dễ chưa chắc HS đã làm nổi vì thế để vực được những đối tượng này là
cả một vấn đề
Trang 4Cũng tương tự đối với công tác tuyển sinh, không phải đợi đến lúc tuyển sinh chúng ta mới vạch ra kế hoạch hay là biện pháp, mà việc này phải được xây dựng từ khi HS bắt đầu vào lớp 6 và đầu mỗi năm học Những biện pháp đó phải được áp dụng trong suốt năm học
Qua việc đọc tài liệu các thầy cô gửi về và nghe các thầy cô trình bày tôi hoàn toàn nhất trí với một số biện pháp mà các thầy cô đã nêu:
- Khảo sát chất lượng học sinh để phân loại vào đâu năm học…(Đ/c Hảo – Nam Điền, Đ/c Nam Mỹ, Đ/c Thủy Nam Xá)
- Liên lạc với giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh để giúp đỡ con em tiến bộ(Đ/c Hảo – Nam Điền, Đ/c Hiền – Nam Thịnh)
- Phân nhóm học tập hoặc hình thức đôi bạn cùng tiến, xếp chỗ ngồi cho phù hợp( Đ/c Hảo – Nam Điền, Đ/c Thủy Nam Xá)
- Kiểm tra, chấm bài tỉ mỉ , sát sao trong việc chữa bài ở nhà (Đ/c Hảo – Nam Điền, Đ/c Hiền – Nam Thịnh)
Và sau đây tôi xin trao đổi cụ thể hơn về một số biện pháp mà các thầy cô vừa nêu và một số bổ sung một số cách tôi thường áp dụng trong quá trình giảng dạy:
+ Ngay từ tiết học đầu tiên của năm học GV phải hướng dẫn cách học và phương pháp học bộ môn cho HS, nhất là đối với HS lớp 6( cách tra từ điển, phương pháp học từ mới, chọn bạn để cùng luyện tập TA…) và nói cho Hs hiểu được tầm quan trọng và những lợi ích của việc học tốt môn TA
+ Đầu năm học tôi tham khảo ý kiến của GVCN hoặc giáo viên dạy năm trước để hiểu rõ hơn về tình hình học tập của từng HS và kiểm tra khảo sát chất lượng phân loại Hs để từ đó ta nắm được trình độ cụ thể của từng HS mà đề ra các biện pháp phù hợp
+ Ta cần chia số lượng HS cần giúp đỡ tiến bộ theo từng giai đoạn: VD – có 8
HS yếu cần giúp đỡ thì ta chia ra mỗi giai đoạn giúp đỡ 2 HS…, tương tự như thế đối với HS trung bình, với đối tượng này ta cố gắng giúp các em từ TB lên mức TB khá, với đối tượng khá và giỏi chúng ta cố gắng duy trì…
+ Trong các tiết học , GV cần xác định rõ mục tiêu , yêu cầu để từ đó ta tập trung rèn luyện cho HS, tránh tình trang dạy tràn lan Từ mục tiêu mà ta xác định được , ta sẽ có những yêu cầu cụ thể cho từng đối tượng HS
VD; Khi dậy bài B1 – Unit 11, mục tiêu yêu cầu của bài là:Sau khi hoàn thành bài học, HS sẽ;
Trang 5- hiểu được ND bài hội thoại ( TB: hiểu đại ý của HT, HS khá : hiểu tường tận )
- Nắm được một số từ nói về bệnh tật ( HS yếu: cold, flu; HS TB trở lên cần nắm được các từ mới đã học )
- Biết hỏi xem ai đó đã bị bệnh gì và biết cách trả lời câu hỏi ( HS yếu hiểu
và trả lời được câu hỏi nhưng ở mức độ chưa trôi chảy, HS Tb trở lên phải hỏi và trả lời được )
- Áp dụng bài HT đã học để xây dựng được những hội thoại tương tự.( HS khá)
+ Cần giảng bài một cách tỉ mỉ, cụ thể vì đa số đối tượng của chúng ta là HS yếu, kém và trung bình nhiều hơn HS Khá
+ Cuối mỗi tiết dạy phải giao bài về nhà, hướng dẫn cho HS làm bài các bài mà
ta vừa giao và yêu cầu HS chuẩn bị bài tiếp theo và có kiểm tra
+ Tích cực kiểm tra bài cũ, luôn ưu tiên khuyến khích những HS yếu , kém ( thưởng điểm, động viên kịp thời )
+ Thường xuyên gọi những HS yếu trả lời câu hỏi, lên bảng làm bài, chữa bài( cần lưu ý là những câu hỏi, và bài tập ấy phải phù hợp với trình độ của học sinh Vì mục đích của chúng ta là làm cho HS chú ý vào bài học, tham gia vào các hoạt động trên lớp)
+ Xếp chỗ ngồi cho phù hợp ( HS khá ngồi cạnh yếu để kèm cặp bạn, xếp những
em học yếu ngồi ở các đầu bàn để tiện cho việc GV đi kiểm tra chữa bài…) + Tích cực kiểm tra, chấm trả và chữa bài Vì nếu chúng ta tích cực kiểm tra thì
HS mới tích cực học tập Đôi khi học sinh thể hiện là chúng rất hiểu bài nhưng khi áp dụng vào bài làm thì chưa chắc đã tốt như chúng ta nghĩ, do đó tích cực kiểm tra sẽ giúp chúng ta hiểu rõ thực chất HS vận dụng được bao nhiêu kiến thức vào bài làm
+ Khi chấm bài GV cần chấm một cách tỉ mỉ, ghi lại những lỗi sai phổ biến vào
sổ chấm trả từ đó GV sẽ có những biện pháp cụ thể rèn những lỗi mà HS hay mắc.( Gv có thể ghi tên những em nào mắc những lỗi gì thì càng tốt để khi chữa bài Gv nêu đích danh tên HS đó lên thì HS sẽ nhớ lâu hơn và lần sau HS sẽ hạn chế được lỗi sai đó)
+ tiết chữa bài là tiết rất quan trọng, nếu chữa một cách tỉ mỉ và chi tiết thì phải mất 60 phút, có thể các thầy cô có những cách chữa bài hay hơn, nhưng tôi thường làm như sau: chép toàn bộ nội dung bài kiểm tra lên bảng phụ, phân tích
kỹ lưỡng những lỗi HS hay mắc , những câu HS hay làm sai ta gọi chính những
HS đó lên bảng làm lại, nếu có nhiều HS sai cùng một câu đó, GV cân nhắc xem
Trang 6đó là loại câu dành cho đối tượng nào thì gọi HS thuộc đối tượng đó lên làm lại, trong thời gian đó GV đi xung quanh kiểm tra bài của các HS dưới lớp…
+ sau khi chữa xong toàn bộ bài kiểm tra , GV sẽ trả bài cho HS xem và đối chiếu với bài mà GV vừa chữa ( phần kiểm tra, chấm và trả bài cũng nên áp dụng cho kỳ ôn thi tuyển sinh)
+ GV cần có nhận xét đánh giá về kết quả của bài kiểm tra trước lớp, tuyên dương những học sinh có tiến bộ , khen ngợi những HS vẫn giữ vững được kết quả tốt, nhắc nhở và động viên những HS chưa có nhiều tiến bộ…
+ Trong các giờ buổi chiều GV nên tập trung rèn kiến thức và kỹ năng cho HS cho thật chắc chắn,không cần nhiều về số lượng, chọn lọc các dạng bài , tuy ít nhưng có chất lượng…
+ Khi dạy đến một hiện tượng ngữ pháp mới GV phải lường trước được những lỗi mà HS thường mắc phải , GV nhấn mạnh điều này để tránh những lỗi sai tương tự ( VD: khi dạy về MĐ với Wish, học sinh thường mắc lỗi sau đây: viết lại câu với Wish nhưng học sinh vẫn viết cả I’m sorry/ what a pity…).Sau đó yêu cầu HS học thuộc lý thuyết, giáo viên sẽ tiến hành kiểm tra phần lý thuyết
đó kết hợp với bài tập áp dụng để ta biết được HS nắm bài và vận dụng vào bài tập đến đâu từ đó GV sẽ có hướng bổ sung hoặc điều chỉnh những thiếu sót của HS
VD: Đề kiểm tra 15’về wish sẽ gồm các phần sau
1 Lý thuyết
2 3 câu trắc nghiệm về động từ sau wish( nhận biết- HS yếu)
3 2 câu viết lại câu dựa vào tình huống đã cho( vận dụng – HS loại TB trở lên)
+ Điều quan trọng hơn cả là Gv phải xây dựng động cơ học tập cho HS, làm cho HS yêu thích bộ môn, tạo được không khí vui vẻ, tự nhiên trong các tiết học bằng các trò chơi, các hoạt động cặp, nhóm nhằm lôi kéo được tất cả các đối tượng tham gia và các em sẽ thấy là học tập là một niềm vui chứ không khô khan gò ép, tâm lý sợ học tiếng anh dần được cải thiện Trong thực tế thì những hoạt động này thường dễ thực hiện ở khối 6,7 hơn là khối 8,9…và lí do thì chúng ta đều biết : bài dài, nội dung thì khó, có những tiết gộp cả 2 kỹ năng nghe và nói nếu dạy không khéo rất dễ cháy giáo án…
+ Tăng cường sử dụng các thiết bị dạy học, đồ dùng tranh ảnh …
Trang 7+ Trong kỳ ôn thi tuyển sinh HS thường rất căng thẳng, mệt mỏi, Gv nên cho
HS tham gia một số hoạt động mang tính chất giải trí nhưng vẫn gắn liền với việc học TA như : cho HS nghe những câu truyện cười bằng TA , giải câu đố, trò chơi ô chữ….vừa để ôn từ vựng và cũng sẽ giúp các em thư giãn hơn
* Về vấn đề tuyển sinh:
+ Hệ thống lại các kiến thức cơ bản
+ Sau mỗi mảng kiến thức, tiến hành kiểm tra
+ Rèn các dạng đề, sau 3- 5 đề cho Hs làm một đề kiểm tra
A Các dạng bài cần lưu ý khi ôn thi tuyển sinh:
1 Chia động từ
3 Trắc nghiệm
4 Bài tập ghép đôi
5 Viết lại câu sao cho nghĩa không đổi
6 Săp xếp thành câu hoàn chỉnh
7 Dùng từ gợi ý viết thành câu hoàn chỉnh
8 Đọc đoạn văn và trả lời câu hỏi hoặc điền T- F, từ … chỉ điều gì?
9 Đọc đoạn văn và khoanh đáp án đúng
10 Dùng dạng đúng của từ trong ngoặc
- Trong 10 dạng bài trên chúng ta cố gắng rèn cho Hs làm tốt các dạng bài : Chia động từ, phát âm, trắc nghiệm, ghép đôi vì đây thường là những bài có nhiều câu vừa tầm với HS yếu trong quá trình ôn luyện ta nên tăng loại bài này cho đối tượng yếu kém
- Các dạng bài : viết lại câu…, sắp xếp…, dùng từ gợi ý… Thường là loại bài khó đối với Hs yếu, cho nên ta chỉ yêu cầu Hs làm các câu dễ, vì vậy khi làm
đề Gv lưu ý xen lẫn câu dễ cho đối tượng này
VD: 1 I enjoy watching TV._ I am interested in…
2 I/ wish/ I/ have/ car
- Đọc hiểu: Tập trung vào 10 chủ đề của chương trình lớp 9
Dạng bài đọc hiểu trả lời câu hỏi GV rèn kỹ cho HS trả lời tốt các câu hoỉ Yes/
No, và các câu hỏi có thể tìm thông tin ngay trong bài mà ít phải suy luận( Vì có
Trang 8khi chỉ cần chép câu trả lời trong bài ra nhưng Hs có thể sai chính tả, hoặc viết sai động từ…) Nếu là bài T-F hoặc từ … chỉ điều gì thì thường là không dễ với
HS yếu, cho nên ta phải dạy cho HS thủ thuật phán đoán
- Dạng bài đọc đoạn văn để chọn A, B, C, D
- Dạng bài dùng dạng đúng….đây là dạng bài khó chủ yếu là dành cho HS khá , giỏi Tuy nhiên trong đó sẽ có những từ mà HS cảm thấy quen, ta hướng dẫn cho
Hs là nếu biết từ nào gần gũi với từ đó thì điền vào( VD: từ trong ngoặc là
“quick” Hs có thể biết từ “quickly” )
B Ngữ pháp:
1 Thời : HTT, HTTD, QKT, QKTD, TL, TLG, HTHT, HTHTTD
2 Câu BĐ: HTT, QKT, TLT, HTHT, QKTD, HTTD
3 TT-GT: Câu trần thuật, câu hỏi Yes/ No, câu hỏi với Wh, câu mệnh lệnh/ yêu cầu/ đề nghị
4 Mệnh đề phụ tính ngữ và trạng ngữ
5 Câu ĐK loại 1 ,2
6 Các cấp so sánh: SS hơn và hơn nhất, so sánh ngang bằng…
7 ADJ _ADV
8 Các loại mệnh đề: so, because, although,…
9 V+ ing/ V+ to do
10.Cấu trúc: Do you mind/ Would you mind…?/ Let’s…/ suggest…
11.Modal verbs
12.ADJ + preposition( be interested in…)
*Các mệnh đề:
a Mệnh đề phụ tính ngữ/ trạng ngữ:
- KT: Nắm được cách dùng của các đại từ và trạng từ quan hệ ( vị trí, thay cho loại từ nào…)
- KN: Biết viết lại câu với các đại từ và trạng từ quan hệ ở dạng hết chính đến phụ
Trang 9- Các dạng bài thường gặp:Trắc nghiệm, điền từ phù hợp…,dùng từ gợi ý…., viết lại câu… Cần rèn tốt dạng bài trắc nghiệm, dạng bài viết lai câu chỉ cần rèn ở mức độ dễ
b Mệnh đề với Because/ ás/ since/ So
-Yêu cầu: Nắm được vị trí các liên từ Because/ ás/ since đứng trước mệnh đè chỉ nguyên nhân, So đứng trước mệnh đề chỉ kết quả, trước So thường có dấu phẩy
- Các dạng bài: Trắc nghiệm ( vì dạng câu này chủ yếu dựa vào ý của câu nên
đa phần dựa vào phán đoán, Viết lại câu( thường ra dưới dạng có liên quan đến mệnh đề so/ because
VD: I got up late , so I missed the train.( Viết lại với Because)
- thêm because vào mệnh đề không có So rồi bỏ so ở mệnh đè kia đi,cũng tương
tự khi bài yêu cầu viết từ mệnh đề so sang MĐ Because thì ta lại thêm Because vào mệnh đề không có So, rồi bỏ So đi
b Mệnh đề với although
- Yêu cầu: hiểu được Although dùng trong mệnh đề chỉ sự đối lập hay rơi vào các dạng bài trắc nghiệm, viết lại câu( hay viết lại câu ở loại có liên từ but)
- VD: It rained very heavily, but he came to school on time
Although it rained heavily, he came to school on time
- Đăt although vào MĐ không có but rồi bỏ but đi
c However/ Therefore
- Nắm được trước 2 từ này thường có dấu chấm, sau đó có dấu phẩy, However =
so, Therefore = but, thường rơi vào dạng bài trắc nghiệm dùng phán đoán là chủ yếu
d Mệnh đề danh từ
- Yêu cầu: nắm được công thức S + be + adj + that + S + V…
- Các dạng bài thường gặp : trắc nghiệm, viết lại câu
*Giới từ:
a Giới từ chỉ thời gian Yêu cầu HS cần nắm được
IN:
-Chỉ tháng: in July; in September
- Chỉ năm: in 2008, in the year of 2008
- Chỉ mùa trong năm: in summer; in the summer of 1990
- Chỉ một phần của ngày: in the morning; in the afternoon; in the evening
- Chỉ khoảng thời gian: in a minute; in two weeks
Trang 10AT:
- Vào một phần của ngày: at night
- Giờ của ngày: at 6 o'clock; at midnight
- Chỉ dịp lễ, sự kiện: at Christmas; at Easter
- Thời điểm nhất định: at the same time
ON:
- Vào ngày trong tuần: on Sunday; on Friday
- Vào ngày trong tháng: on the 25th of December*
- Vào ngày đặc biệt nào đĩ: on Good Friday; on Easter Sunday; on my birthday
- Vào một phần của ngày: on the morning of September the 11th*
BETWEEN:
- Thời gian giữa hai điểm thời gian: between Monday and Friday
FROM TO ; FROM TILL/
- Hai điểm thời gian tạo thành một khoảng thời gian nào đĩ:
from Monday to Wednesday
from Monday till Wednesday
SINCE:
- Từ một điểm thời gian:since Monday
FOR + khoảng thời gian
- Các dạng bài : trắc nghiệm, điền giới từ
b Giới từ chỉ địa điểm nơi chốn Yêu cầu HS cần nắm được
* In:+ dùng chỉ 1 khơng gian được bao quanh: trong- In the room/ a box/ the kitchen…
+ dùng trước tên 1 quốc gia, thành phố, châu lục( in VN/ NĐ/ Asia )
+ dùng trước 1 số cụm từ cố định thơng dụng( in bed/the hospital/the country/ the world/the river/ the sky/ the east…)
* AT : Ta dùng at khi ta muốn nói ai đó đang có mặt tại một sự kiện nào đó đang xảy ra (someone is at an event) như :
at a party at a meeting at a conference
at a concert at a football match at a cinema
at home at university at the seaside at school
at an airport at work at a station at sea (on a voyage)
*On :