PHẦN ĐỌC HIỂU 3.0 điểm Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu: … Đất nước tôi ơi Những dòng sông đã cho tôi gương mặt Những chân trời đã cho tôi tiếng hát Đồng bãi cho tôi sức
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI KỲ THI KHẢO SÁT LỚP 12 LẦN THỨ HAI
TRƯỜNG THPT THĂNG LONG NĂM HỌC 2020 – 2021
ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề
(Đề thi có 02 trang)
I PHẦN ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
… Đất nước tôi ơi
Những dòng sông đã cho tôi gương mặt Những chân trời đã cho tôi tiếng hát Đồng bãi cho tôi sức vóc bàn tay Đồi núi cho tôi những bước đi dài Hoa và chim cho tôi mộng ước
Những trái tim đập dồn trong ngực
Là của người- lẽ sống của đời tôi Tôi cùng người chung lúa chung khoai Chung cơn bão, chung cánh rừng lửa đạn Chung ca nước dưới đường hào nắng gắt Chung lá cờ chung ngọn lửa ban mai Giữa đau thương, người đã nắm trong tay Địa chỉ của Niềm Vui
Những lý do của hy vọng Dạy tôi biết gieo trồng và cấy gặt Tôi tìm đời tôi trong số phận người Tìm lẽ phải nơi trán người bình tĩnh Hạt muối trong tôi biển người vô tận Chỉ khổ đau vì đau khổ của người Chỉ sướng vui trong vui sướng của người thôi…
(Người cùng tôi- Lưu Quang Vũ- Thơ tình, NXB Văn học, 2002) Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên (0,5 điểm)
Câu 2: Chỉ ra và nêu hiệu quả của phép lặp cú pháp trong đoạn thơ: Đất nước tôi ơi/ Những dòng sông đã
cho tôi gương mặt/ Những chân trời đã cho tôi tiếng hát/ Đồng bãi cho tôi sức vóc bàn tay/ Đồi núi cho tôi
những bước đi dài/ Hoa và chim cho tôi mộng ước (1,0 điểm)
Câu 3: Theo anh/ chị, “người” trong đoạn thơ trên chỉ ai? (0,5 điểm)
Câu 4: Anh/chị hiểu như thế nào về ý thơ: Tôi tìm đời tôi trong số phận người/ Tìm lẽ phải nơi trán người
bình tĩnh/ Hạt muối trong tôi biển người vô tận/ Chỉ khổ đau vì đau khổ của người/ Chỉ sướng vui trong vui
sướng của người thôi… (1,0 điểm)
II PHẦN LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm)
Từ nội dung đoạn trích phần đọc hiểu, anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ
về sự gắn bó của số phận mỗi cá nhân với đất nước
Câu 2 (5.0 điểm)
(…)Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và
một đĩa muối ăn với cháo, nhưng cả nhà đều ăn rất ngon lành Bà cụ vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn, gia
cảnh với con dâu Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này:
Trang 2-Tràng ạ Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem
Tràng chỉ vâng Tràng vâng rất ngoan ngoãn Chưa bao giờ trong nhà này mẹ con lại đầm ấm, hòa hợp như thế Câu chuyện trong bữa ăn đang đà vui bỗng ngừng lại Niêu cháo lõng bõng, mỗi người được
có lưng lưng hai bát đã hết nhẵn
Bà lão đặt đũa bát xuống, nhìn hai con vui vẻ:
- Chúng mày đợi u nhá Tao có cái này hay lắm cơ
Bà lão lật đật chạy xuống bếp, lễ mễ bưng ra một cái nồi khói bốc lên nghi ngút Bà lão đặt cái nồi xuống bên cạnh mẹt cơm, cầm cái môi vừa khuấy khuấy vừa cười:
- Chè đây – Bà lão múc ra một bát – Chè khoán đây, ngon đáo để cơ
Người con dâu đón lấy cái bát, đưa lên mắt nhìn, hai con mắt thị tối lại Thị điềm nhiên và vào miệng Tràng cầm cái bát thứ hai mẹ đưa cho, người mẹ vẫn tươi cười, đon đả:
- Cám đấy mày ạ, hì Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem Xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy Tràng cầm đôi đũa, gợt một miếng bỏ vội vào miệng Mặt hắn chun ngay lại, miếng cám đắng chát
và nghẹn bứ trong cổ Bữa cơm từ đấy không ai nói câu gì, họ cắm đầu ăn cho xong lần, họ tránh nhìn mặt nhau Một nỗi tủi hờn len vào tâm trí mọi người
Ngoài đình bỗng dội lên một hồi trống, dồn dập, vội vã Đàn quạ trên những cây gạo cao chót vót ngoài bãi chợ hốt hoảng bay vù lên, lượn thành từng đám bay vần trên nền trời như những đám mây đen Người con dâu khẽ thở dài, thị nói lí nhí trong miệng:
-Trống gì đấy, u nhỉ?
-Trống thúc thu thuế đấy Đằng thì nó bắt giồng đay, đằng thì nó bắt đóng thuế Giời đất này không chắc đã sống qua được đâu các con ạ – Bà lão ngoảnh vội ra ngoài Bà lão không dám để con dâu nhìn thấy bà khóc
Người con dâu có vẻ lạ lắm, thị lẩm bẩm:
-Ở đây vẫn phải đóng thuế cơ à?
Im lặng một lúc thị lại tiếp:
-Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa đâu Người ta còn đi phá
cả kho thóc của Nhật, chia cho người đói nữa đấy
Tràng thần mặt ra nghĩ ngợi Cái mặt to lớn bặm lại, khó đăm đăm Miếng cám ngậm trong miệng hắn đã bã ra chát xít Hắn đang nghĩ đến những người đi phá kho thóc Nhật
Tràng hỏi vội trong miếng ăn:
-Việt Minh phải không?
Ừ, sao nhà biết?
Tràng không trả lời Trong ý nghĩ của hắn vụt hiện ra cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau
đi trên đê Sộp Đằng trước có lá cờ đỏ to lắm
Hôm ấy hắng láng máng nghe người ta nói họ là Việt Minh đấy Họ đi cướp kho thóc đấy Tràng không hiểu gì sợ quá, kéo vội xe thóc của Liên đoàn tắt cánh đồng đi lối khác
À ra họ đi phá kho thóc Nhật cho người đói Tự dưng hắn thấy ân hân, tiếc rẻ vẩn vơ, khó hiểu Ngoài đình tiếng trống thúc thuế vẫn dồn dập Mẹ và vợ Tràng đã buông đũa đứng dậy
Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới…
(Trích Vợ nhặt, Kim Lân)
Anh/ chị hãy trình bày cảm nhận về đoạn trích trên Từ đó, nhận xét về tư tưởng nhân đạo của nhà văn Kim Lân
…… HẾT……
Trang 3
TRƯỜNG THPT THĂNG LONG
ĐÁP ÁN ĐỀ THI KHẢO SÁT LẦN II NĂM HỌC 2020- 2021
Môn Ngữ văn 12
2 Hs chỉ ra phép lặp cú pháp trong đoạn thơ: “… cho tôi… “ (0,25)
Nêu hiệu quả: nhấn mạnh những gì nhân dân, đất nước đã cho tôi; bày tỏ sự trân trọng, biết ơn chân thành, tấm lòng gắn bó của tôi với đất nước…; tạo nhịp điệu cho lời thơ phù hợp với cảm xúc… (0,75)
1,0
3 HS cần xác định được “người” trong văn bản để chỉ nhân dân (có thể chấp nhận cách
hiểu là đất nước)
0,5
4 Học sinh cần bày tỏ được cách hiểu của mình về ý thơ, diễn đạt lưu loát, đảm bảo các
ý:
-Đoạn thơ bộc lộ tình cảm chân thành, sự gắn bó số phận của nhà thơ với số phận đất nước
-Tìm thấy được chân lý cuộc đời (lẽ phải) từ trí tuệ nhân dân
-Những gì tốt đep, tinh túy của mỗi con người đều được chắt lọc, kết tinh từ biển người
(nhân dân) mà ra
-Chia sẻ mọi niềm vui, nỗi buồn với nhân dân, vui hay buồn đều vì nhân dân, thấy niềm vui, nỗi buồn của mình trong vui buồn, sướng khổ của nhân dân
1,0
1 Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về 2.0
b.Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: sự gắn bó của số phận mỗi cá nhân với đất
nước
0.25
c.Triển khai vấn đề cần nghị luận
Hs có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo nội dung chính:
*Giới thiệu ngắn gọn vấn đề
*Bàn luận:
- Mỗi cá nhân là một cá thể nhỏ bé, riêng lẻ nhưng lại là thành tố tạo nên một cộng đồng, một quốc gia, dân tộc Một đất nước được hình thành bởi sự liên kết chặt chẽ của nhiều cá nhân
- Mọi sự kiện, vấn đề của đất nước đều liên quan mật thiết, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của mỗi cá nhân Lợi ích cá nhân nằm trong lợi ích dân tộc
- Sự lớn mạnh, văn minh, tiến bộ, phát triển của đất nước là do sự đóng góp, hi sinh của nhiều cá nhân mà thành Mỗi cá nhân lại được thừa hưởng những thành quả chung đó từ nhân dân, đất nước
- Sự đóng góp tích cực dù nhỏ bé của mỗi cá nhân sẽ có sức lan tỏa, tạo nên sự thay đổi cho cho cả cộng đồng, dân tộc Ngược lai, sự trì trệ, lười biếng, bảo thủ của cá nhân ít nhiều sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của đất nước Nếu không biết chia sẻ, gánh vác, không tìm thấy sự gắn bó với sự nghiệp chung của đất nước thì đó
là biểu hiện của sự ích kỉ, thờ ơ, vô trách nhiệm
*Bài học và liên hệ bản thân:
0.25 0.5
0.25
Trang 4- Nhận thức được số phận mỗi cá nhân nằm trong vận mệnh dân tộc
- Trân trọng, biết ơn những thành quả mà nhân dân, đất nước đã dành cho mỗi cá nhân
- Có ý thức trách nhiệm rèn luyện, học tập, có hành động đóng góp tích cực, thiết thực cho nhân dân, đất nước
d.Chính tả, ngữ pháp:
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt
0.25
e Sáng tạo:
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ
0.25
a Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận:
Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khia được vấn đề, kết bài khái quát được vấn
đề
0.25
b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: cảm nhận về đoạn trích đã dẫn trên Từ đó,
nhận xét về tư tưởng nhân đạo của nhà văn Kim Lân
0.5
c Triển khai vấn đề cần nghị luận:
Hs có thể triển khai theo nhiều cách nhưng cần vận dụng tốt thao tác lập luận phân tích và các thao tác bổ trợ, đảm bảo cá nội dung cơ bản sau:
* Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, vị trí đoạn trích, vấn đề nghị luận:
- Tác giả Kim Lân
- Tác phẩm Vợ nhặt: tình huống truyện, nội dung chính
- Vị trí đoạn trích
* Cảm nhận về đoạn trích: (2,5)
- Bức tranh hiện thực tàn khốc về nạn đói 1945:
+Bữa cơm ngày đói thật thảm hại trong ngày đón con dâu phản ánh chân thực số phận
bi đát của người nông dân trong nạn đói Ất dậu năm 1945; ( Hs cần phân tích các chi
tiết về mâm cơm, nồi chè khoán )
+ Tâm trạng của các nhân vật bà cụ Tứ, Tràng và người vợ nhặt trong bữa cơm ngày đói (Hs cần phân tích các chi tiết để làm rõ tâm trạng vui buồn lẫn lộn của bà mẹ già,
tâm trạng tủi hờn của vợ chồng Tràng khi ăn miếng cám nghẹn bứ, chát xít);
+Khép tác phẩm là âm thanh tiếng trống thúc thuế báo hiệu nạn đói tiếp tục đe doạ;
hình ảnh âm thanh tiếng quạ báo hiệu cái chết; hình ảnh đám người đói biểu tượng
cho cái đói khủng khiếp… đó là một phông nền ảm đạm, tăm tối…
- Vẻ đẹp tâm hồn của những con người trong hoàn cảnh khốn khổ:
+ Bà cụ Tứ- người mẹ giàu lòng yêu thương con, hết lòng vun đắp cho hạnh phúc con trẻ; người mang niềm tin, sự lạc quan vào tương lai tươi sáng
Bà lão “vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn ”, “nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng ngày sau”, “cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên ” Dù chẳng trọn vẹn nhưng
cũng phần nào gieo vào lòng đôi vợ chồng trẻ niềm tin vào ngày mai Một ngày mai tươi sáng hơn đang chờ họ Bà cụ Tứ nghĩ thế và chắc chắn sẽ là như thế! Bà tạo ra không khí ấm cúng, hạnh phúc, bữa ăn ngày đói trở thành bữa cơm của niềm vui Hơn
ai hết, bà biết rằng chỉ có niềm tin mới giúp cho con người vượt qua thực tại đói khổ, xây dựng hạnh phúc Chính tình thương của mẹ đã mang đển hạnh phúc cho Tràng, đem lại lối thoát cho vợ Tràng và tất yếu tình thương ấy sẽ mãi mãi nâng đỡ họ
0,5
0,5
1,5
Trang 5Lời khuyên của bà với con: -Tràng ạ Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy
mà có ngay đàn gà cho mà xem là lời khuyên rất thực tế, là suy nghĩ của một bà lão
nông dân sắp gần đất xa trời, không lo nghĩ cho mình mà chỉ lo cho con Nuôi gà cũng chính là nuôi niềm hy vọng cho ngày mai
Bằng kinh nghiệm sống và tình yêu thương con, cụ Tứ biết rằng bữa cơm này có ý nghĩa tinh thần rất quan trọng, thực tại đói khổ hiện ra qua hình ảnh bữa cơm sẽ đẩy hai con bà vào nỗi bi quan, sẽ phủ một nét u ám lên hạnh phúc mới chớm của những
đứa con Có lẽ vì thế, bà lão đã chuẩn bị công phu cho bữa cơm, dự tính trước được việc mỗi người được hai lưng cháo lõng bõng đã hết, nên đã chuẩn bị một nồi chè khoán Bà lão lật đật chạy xuống bếp, lễ mễ bưng ra một cái nồi khói bốc lên nghi ngút…
Hs cần phân tích được: cái dáng lật đật, lễ mễ, cái hành động vừa khuấy khuấy vừa tươi cười đon đả mới đáng kính và xót xa làm sao! Phải chăng bà muốn níu kéo hạnh phúc mong manh, trì hoãn cái giây phút làm no khốn khổ! Nghe tiếng trống thúc thu thuế Bà lão ngoảnh vội ra ngoài Bà lão không dám để con dâu thấy mình khóc Hạnh phúc quá
mong manh, bị đe dọa tứ phía nên càng phải giữ gìn Cái đói hiện lên không thể che giấu được nhưng càng tô đậm tấm lòng thương con vô bờ của người mẹ nghèo
+Người vợ nhặt
Sáng ngày đầu tiên ở nhà chồng, trong vai trò của một nàng dâu mới, người đàn bà dậy sớm thu dọn, quét tước nhà cửa sạch sẽ gọn gàng: đem quần áo ra sân hong, kín đầy hai ang nước, dọn sạch đống mùn trên lối đi thị tỏ ra là một người vợ đảm đang, chăm chỉ, biết vun vén cho gia đình Sự thay đổi ở người đàn bà rõ rệt đên mức Tràng
cũng nhận thây “nom thị hôm nay khác lắm” hiền hậu đúng mức, không còn vẻ gì chao chát, chỏng lỏn giống như khi Tràng gặp thị ở ngoài tỉnh Sự xuất hiện của người đàn
bà đã khiến ngôi nhà của Tràng tràn ngập niềm vui Theo Tràng làm vợ nhặt, chị ta đâu chỉ tìm chốn nương thân tạm bợ trong lúc cơ nhỡ, đói khát Trở thành vợ, thành nàng dâu người phụ nữ trở về với bản chất tốt đẹp của mình, có ý thức về đạo lý và nhân cách
Nhận bát cháo cám từ tay mẹ chồng, lúc đầu đôi mắt người đàn bà tối sầm lại nhưng rồi thị điềm nhiên và vào miệng dù miếng cám chát xít và nghẹn bứ Cử chỉ rất nhỏ này
thể hiện nét đẹp ở người đàn bà: biết cư xử ý tứ, trân trọng nghĩa tình của người mẹ, làm vợi đi nỗi cay cực chua xót của người mẹ nghèo khi phải cho con ăn cháo cám, thể hiện sự trân trọng, biết ơn đối với mẹ chồng
Với câu chuyện trong bữa ăn về những người đi phá kho thóc ở Thái Nguyên, Bắc Giang, chị ta là người đầu tiên đã nhen nhóm lên niềm hi vọng về sự đổi đời…
=> Tóm lại, nếu lúc trước: sự nghèo khổ biến người đàn bà thành chao chát, chỏng lỏn thì lúc này thị trở lại đúng với bản chất của mình, một người đàn bà hiền hậu đúng mực, đảm đang, biết chăm lo, vun vén cho gia đình
+Tràng
Lễ phép, vâng lời, cư xử chuẩn mực góp phần tạo bầu không khí gia đình đầm ấm Chàng trai tính cách tưởng đơn giản, trẻ con, nay đã chín chắn, trưởng thành (thấy
ân hận, tiếc rẻ vẩn vơ… khi nhớ lại chuyện người ta đi phá kho thóc Nhật…)
Hình ảnh lá cờ đỏ bay phấp phới trong óc Tràng mang tính biểu tượng, khép truyện
nhưng mở ra nhiều ý nghĩa Trong tâm trí Tràng là hình ảnh lá cờ đỏ, lá cờ của Việt Minh, của cách mạng Chính cách mạng sẽ làm nên sự hồi sinh cho mỗi cuộc đời Hình
Trang 6ảnh thể hiện niềm tin vào sự đổi đời của người nông dân trước hiện thực đói nghèo, tăm tối vẫn còn vây bủa
* Cả ba con người đều có ý thức vun đắp cho hạnh phúc mới chớm nở trong gia đình
bé nhỏ này Hoàn cảnh đói khổ không làm người ta xa nhau mà càng gần nhau, đối xử với nhau bằng tất cả sự yêu thương, trân trọng
- Nghệ thuật:
+ Dựng cảnh, tạo tình huống, sắp đặt thời gian nghệ thuật độc đáo (Buổi sáng hôm sau Tràng đưa người vợ nhặt về, bữa ăn gia đình đầu tiên đón nàng dâu mới)
+ Lối trần thuật tự nhiên, hấp dẫn làm nổi bật sự đối lập giữa hoàn cảnh và tính cách nhân vật
+Tạo không khí và dựng thoại hấp dẫn, ấn tượng
+ Nhân vật được khắc hoạ sinh động đặc biệt là ngòi bút miêu tả tâm lý nhân vật tinh
tế (qua ngôn ngữ, hành động, ánh mắt…)
+ Ngôn ngữ: Bình dị, đời thường nhưng có chắt lọc kỹ lưỡng, có sức gợi và đậm màu sắc Bắc Bộ
* Tư tưởng nhân đạo của Kim Lân:
+ Sự đồng cảm xót thương với số phận của người lao động nghèo khổ
+ Lên án tội ác dã man của thực dân Pháp và phát xít Nhật đã gây ra nạn đói khủng khiếp đẩy con người đến bờ vực của cái đói, cái chết
+ Trân trọng tấm lòng nhân hậu, yêu thương nhau, khao khát hạnh phúc bình dị, niềm lạc quan tin tưởng vào tương lai của những người lao động nghèo Trong cảnh ngộ bi đát, con người không chịu buông xuôi, khuất phục số phận mà luôn vươn tới sự sống cao đẹp, hướng tới tương lai Tối tăm, đói nghèo cũng không hủy diệt được tình người
và phẩm giá con người
+ Dự báo cho những người nghèo khổ con đường đấu tranh để đổi đời, vươn tới tương lai tươi sáng
*Đánh giá: đoạn trích đã cô đọng giá trị tư tưởng của truyện ngắn Vợ nhặt Người đọc
hiểu được tấm lòng của nhà văn Kim Lân dành cho người nông dân Việt Nam, những người mà suốt cuộc đời cầm bút ông đã từng yêu thương họ, tin tưởng vào vẻ đẹp tâm hồn, khao khát sống mãnh liệt của họ Qua đó, ngòi bút tinh tế cũng như sự thấu hiểu tâm lí, đời sống người nông dân của nhà văn Kim Lân hiện lên rất sâu sắc và sáng tạo
0,5
0,5
e Sáng tạo:
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ
0,5
Lưu ý: Học sinh có thể làm bài theo trình tự phân tích các nhân vật rồi rút ra giá trị nội dung và nghệ thuật,
chấp nhận cả những cách trình bày khác đáp án nhưng phải đảm bảo yêu cầu về nội dung