Tính tương tính Trong dung dịch nước, phân tử protein có khả năng tác động như một acid, hoặc một kiềm yếu, bởi vì trong phân tử protein có các nhóm định chức quản và carboxyl có khả n
Trang 1Các đặc tính của
prôtêin
1 Trọng lượng phân tử
Ngay phần định nghĩa đã nhấn mạnh: đặc điểm của protein là trọng lượng phân tử rất cao Những nghiên cứu khác nhau gần đây cho thấy trọng lượng phân tử thực
của protein nằm trong khoảng 6.000 - 12.000 Tuy nhiên, trong điều kiện tự nhiên phân tử protein thường liên kết với nhau tạo thành những phần (gọi là
Trang 2mixen) có trọng lượng phân tử rất lớn đạt tới hàng triệu
Trọng lượng phân tử của một số loại
protein:
Albumin sữa : 17.400
Albumin trứng : 44.000
Globulin huyết thanh : 310.000
Hemoglobin người : 68.000
Enzym pepsin : 45.000
Enzym ribonuclease: 12.700
Siêu vi khuẩn cúm: 322.000.000
Có thể nói: protein là "đại phân tử" bởi vì thành phần của nó gồm hàng trăm, hàng nghìn nguyên tử liên kết với nhau chủ
yếu bằng liên kết đồng hoá trị
Trang 32 Trạng thái keo
Đầu thế kỷ XIX các nhà khoa học bàn cãi khá lâu về trạng thái nguyên sinh chất
(protoplasma) ở sinh thể, bởi vì cố những mâu thuẫn:
* Có thể nguyên sinh chất là trạng thái
lỏng Bởi vì tại sao các phản ứng hoá học tiến hành ở trong cơ thể với tốc độ
nhanh? Điều này đặc trưng cho môi
trường lỏng
* Nhưng tại sao cơ thể lại có khả năng
giữ những hình thù đặc biệt của mình?
Tính chất này chỉ có ở thể rắn
Mối mâu thuẫn đó được giải thích khi
người ta phát hiện ra trạng thái keo của protein
Trang 4Trạng thái keo của protein thể hiện ở các đặc điểm sau:
- Gây áp suất thẩm thấu rất thấp 30 -
40mm Hg (0,03 tấm)
- Khả năng khuếch tán ít
- Độ nhớt cao
Độ nhớt phản ánh cấu trúc (hình dạng, kích thước) của phân tử - Kích thước
càng lớn độ nhớt càng cao
Nếu lấy độ nhớt của nước làm chuẩn là 1 thì:
Độ nhớt của albumin trứng gà là 1,2 -
1,57
Độ nhớt của gelatin là 4,54 - 14,2
- Khả năng hấp phụ các chất khác khá
cao
Trang 5- Khả năng khuếch tán ánh sáng (hiện tượng Tindal) tức là khi cho 1 tia sáng qua dung dịch protein trên nền đục của dung dịch ta nhận rõ được những tia đó
3 Lưỡng tính và điểm đẳng điện
3.1 Tính tương tính
Trong dung dịch nước, phân tử
protein có khả năng tác động như một acid, hoặc một kiềm yếu, bởi vì trong phân tử protein có các nhóm định chức quản và carboxyl có khả
năng phân ly
Phân tử protein mang cả điện tích dương
và điện tích âm như vậy gọi là amphiol
Trang 6Khả năng phân ly của nhóm quan và
nhóm carboxyl thay đổi phụ thuộc vào điều kiện môi trường, cụ thể là độ pa
Khi độ pH thấp, ion H+ ở môi trường
nhiều thì nhóm COOH giảm sự phân ly Ngược lại, nếu môi trường kiềm, tức ton
OH nhiều thì NH2 sẽ bớt phân ly
Vì số lượng nhóm quan và carboxyl
trong phân tử protein khác nhau, cho nên nếu số lượng nhóm COOH trội hơn
nhóm NH2 thì sau khi phân ly, điện tích tổng số của hạt keo protein sẽ có dấu âm
và ngược lại
Trang 7Khi cho dòng điện một chiều đi qua môi trường đó thì những hạt keo nói trên sẽ di chuyển về điện cực tương ứng
Tuỳ đại lượng điện tích, tuỳ trọng lượng phân tử mà tốc độ di chuyển của mỗi loại protein khác nhau Đó là cơ sở của
phương pháp điện di trên giấy
3.2 Điểm đẳng điện
Như chúng ta đã biết, khả năng phân ly của các nhóm quan và carboxyl chịu sự chi phối của phản ứng môi trường, do đó bằng cách thêm acid hoặc kiềm ta có thể đạt tới một trị số pa, mà ở đó sự phân ly của NH2 và cỏoh bằng nhau Độ pH này
Trang 8người ta gọi là điểm đẳng điện của
protein (ký hiệu là pI)
Tại điểm đẳng điện các hạt keo có điện tích bằng O Một vài ví dụ về điểm đẳng điện của protein:
Casein 4,7 Zein ngô 6,2
Albumin 4,8 Miosin
cơ
5,0
Globulin 5,4 Histon 8,5
Có thể dựa vào điểm đẳng điện để tách riêng từng loại protein
3.4 Đặc tính hoà tan
Trang 9Trạng thái keo của protein bền vững là
nhờ có lớp vỏ thuỷ hoá bao bọc bên
ngoài các hạt keo và các điện tích làm
cho các phân tử protein ngăn cách và
không dính vào nhau Có nhiều yếu tố
ảnh hưởng đến tính tan của protein
- Ảnh hưởng của pH
Độ tan của protein thấp nhất ở pH = pI của nó, độ tan của protein tăng lên khi
pH nằm xa ơi vì khi pH = pI thì phân tử protein không tích điện nên chúng không
có lực đẩy tĩnh điện và dễ bị đông kết Khi pH khác ơi thì các phân tử protein tích điện cùng dấu và đẩy nhau cho nên không bị đông kết, do đó độ tan tăng lên
- Ảnh hưởng của nồng độ muối
Muối trung tính ở nồng độ thấp làm tăng
độ tan của nhiều loại protein Khi tăng
Trang 10nồng độ muối tới một giới hạn nhất định thì độ tan của protein giảm xuống và nếu nồng độ muối tiếp tục tăng lên thì protein
có thể đông kết hoàn toàn Tính chất này được ứng dụng để tách các loại protein theo phương pháp diêm tích
- Ảnh hưởng của dung môi
Khi cho các dung môi như cồn, đe, benzen, aceton, cloroform vào dung dịch protein thì độ tan của protein bị giảm và có thể dẫn đến đông kết do phá
vỡ lớp vỏ thủy hóa
- Ảnh hưởng của nhiệt độ
Trong khoảng nhiệt độ từ 0 đến 450C, độ tan của protein tăng khi nhiệt độ tăng Còn ở khoảng nhiệt độ từ 45 - 750C đa
số protein mất tính keo và có thể bị biến
Trang 11tính (trừ protein của một số loại sinh vật chịu nhiệt)
3.5 Hiện tượng sa lắng và biến tính
Trạng thái keo của protein bền vững là nhờ sự cân bằng các điện tích và lớp vỏ thuỷ hoá Khi trạng thái này bị phá vỡ bởi các yếu tố như nhiệt độ cao, muối các
kim loại nặng, dung môi hữu cơ thì
protein rất dễ bị sa lắng Hiện tượng sa lắng protein có thể thuận nghịch, tức là
nó có thể trở lại trạng thái ban đầu khi tác động của các yếu tố trên chưa thật sâu sắc Tuy nhiên, nếu sự tác động đó mạnh và lâu sẽ làm cho protein bị biến tính Khi bị biến tính protein sẽ mất hoạt tính sinh học của nó