1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thi pháp thơ nôm nguyễn trãi

149 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhà nghiên cứu văn học, phê bình và lý luận văn học đã nghiên cứu rất nhiều những trước tác và sáng tác của Nguyễn Trãi như một nghệ sĩ ngôn từ của văn học trung đại Việt Nam, các nh

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

THI PHÁP THƠ NÔM NGUYỄN TRÃI

LU ẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả luận án Hoàng Thị Thu Thủy

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 3

A DẪN NHẬP 5

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 5

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 7

2.1 Tìm hiểu về con người Nguyễn Trãi qua thơ Nôm của ông: 9

2.2 8 ý kiến nghiên cứu về thiên nhiên và đời sống trong thơ Nguyễn Trãi 11

2.3 Thể loại, ngôn ngữ 12

2.4 Về một số bài thơ trong QATT 14

3 PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

3.1 Phạm vi nghiên cứu 14

3.2 Phương pháp nghiên cứu 15

4 DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 19

4.1 Giá trị khoa học 19

4.2 Giá trị thực tiễn 20

5 KẾT CẤU LUẬN ÁN 20

B NỘI DUNG 22

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VĂN BẢN QUỐC ÂM THI TẬP 22

1.1 TÌNH HÌNH VĂN BẢN QATT 22

1.2 VĂN BẢN LÀM CHỖ DỰA CHỦ YẾU ĐỂ NGHIÊN CỨU THI PHÁP QATT 26

1.2.1 Lưu ý một số từ cổ trong văn bản QATT cổ liên quan đến thi pháp của câu thơ, bài thơ 29

1.2.2 Lưu ý đến một số chú thích, giải nghĩa có liên quan đến điển: 36

Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỔNG QUÁT VỀ THI PHÁP THƠ NÔM NGUYỄN TRÃI 39

2.1 NÉT KHU BIỆT CỦA THI PHÁP THƠ NÔM NGUYỄN TRÃI 39

2.2 THI PHÁP VỀ CÁI HÀNG NGÀY 49

2.3 KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT 54

2.3.1 Thi pháp không gian nghệ thuật trong Quốc âm thi tập 55

Trang 5

2.3.2 Thi pháp thời gian nghệ thuật trong Quốc âm thi tập 65

Chương 3: THI PHÁP "QUỐC ÂM THI TẬP" VỚI CÁC PHƯƠNG DIỆN: THỂ THƠ, ÂM VẬN, NGÔN NGỮ 71

3.1 THI PHÁP "QUỐC ÂM THI TẬP" Ở PHƯƠNG DIỆN THỂ THƠ 71

3.2 THI PHÁP "QUỐC ÂM THI TẬP" Ở PHƯƠNG DIỆN ÂM VẬN 82

3.2.1 Nhịp điệu: 82

3.2.2 Vần thơ trong "Quốc âm thi tập" 95

3.3 THI PHÁP NGÔN NGỮ TRONG QATT: 100

3.3.1 Từ vựng 100

3.3.2 Biện pháp tu từ cú pháp 116

3.3.3 Tính nhạc trong QATT 130

C KẾT LUẬN 134

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 139

Trang 6

A DẪN NHẬP

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.

Nguy ễn Trãi là nhà tư tưởng, anh hùng dân tộc, nhà văn hóa dân tộc, nhà nghệ sĩ

ngôn từ vĩ đại của văn học Việt Nam

Những điều như vậy được thể hiện trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng nước Đại Việt khỏi ách đô hộ của nhà Minh và trong sự nghiệp xây dựng nước Đại Việt sau chiến thắng, được thể hiện ở những trước tác và sáng tác của Nguyễn Trãi: Lam Sơn

thực lục, Chí Linh phú, Quân trung từ mệnh tập, Băng Hồ di sự lục, Bình Ngô đại cáo, chiếu và biểu viết dưới triều Lê, Dư địa chí, Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập (QATT) Nguyễn Mộng Tuân đánh giá Nguyễn Trãi: "Kinh bang hoa quốc cổ vô tiền" (Xây dựng làm vẻ vang cho nước xưa nay chưa từng có)

Nguyễn Trãi tỏa sáng trong thời đại của mình và tiếp tục tỏa sáng trong thời đại chúng ta đang sống "Nhớ Nguyễn Trãi là nhớ người anh hùng cứu nước, đồng thời là

nhớ nhà văn lớn, nhà thơ lớn của nước ta Từ bài Bình Ngô đại cáo qua các bức thư

gửi tướng tá quân xâm lược, đến thơ chữ Hán và chữ Nôm ngòi bút thần của Nguyễn Trãi đã để lại cho chúng ta những tác phẩm gồm nhiều thể văn và tất cả đều đạt đỉnh cao của nghệ thuật, đều hay và đẹp lạ thường! Nhiều tài hoa như vậy dồn lại ở một con người thật là hiếm có" [30]

Cuộc đời, những trước tác và sáng tác của Nguyễn Trãi là đối tượng nghiên cứu

của hàng loạt ngành khoa học: tư tưởng, đạo đức, chính trị, lịch sử, văn hóa, văn

học.v.v

Các nhà nghiên cứu văn học, phê bình và lý luận văn học đã nghiên cứu rất nhiều

những trước tác và sáng tác của Nguyễn Trãi như một nghệ sĩ ngôn từ của văn học trung đại Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã chú ý đúng mức đến vấn đề thể loại, đến văn chương được viết bằng chữ Hán và văn chương được viết bằng chữ Nôm, đến văn chương chính luận, văn sử bút, văn địa chí và văn chương hình tượng; sự thống nhất,

sự đồng dị của chúng ở những trước tác và sáng tác của ông Các nhà nghiên cứu cũng

thấy rõ nơi con người trước tác và sáng tác Nguyễn Trãi có nhà tư tưởng, nhà chính

tr ị, nhà thơ; ba nhà ấy là thống nhất trong Nguyễn Trãi, nhưng không phải không có

Trang 7

lúc lâm thời được chia tách Và, ngay cả ở Nguyễn Trãi với tư cách nhà thơ thì các nhà nghiên cứu và phê bình lý luận văn học cũng có thể phân biệt nhà thơ sáng tác bằng ngôn ngữ Hán - Việt và nhà thơ viết bằng tiếng mẹ đẻ - tiếng Việt đó không hẳn chỉ là

sự phân biệt về phương diện ngôn từ mà Ức Trai đã sử dụng để sáng tác thi ca

Tiếp cận với Nguyễn Trãi như một nghệ sĩ ngôn từ của văn học trung đại Việt Nam, các nhà nghiên cứu, phê bình và lý luận văn học đã thu được những thành tựu

lớn Tuy nhiên, Nguyễn Trãi là một trong những tác gia thuộc loại lớn nhất của văn

học Việt Nam vẫn đang ở trong quá trình văn học nước nhà từ cơ tầng văn hóa Đông

Nam Á giao lưu với tư tưởng Ấn Độ, tư tưởng Trung Hoa và văn học Trung Hoa, xây

d ựng thành công văn học thành văn của dân tộc, một tác gia như thế tạo ra trước mắt

các nhà nghiên cứu, phê bình và lý luận văn học con đường vô tận để đi trên con đường ấy, nếu muốn hiểu ngày càng đầy đủ hơn, ngày càng đúng hơn Ức Trai Hơn thế

nữa, cần phải tiếp cận với Nguyễn Trãi như một nghệ sĩ ngôn từ của văn học trung đại

Việt Nam, bằng những phương pháp nghiên cứu mới có khả năng giúp chúng ta khám

phá những điều này hay điều kia chưa được phát hiện ở sự nghiệp văn chương của Ức Trai

Kế thừa những thành tựu lớn của các công trình nghiên cứu đi trước và bằng

những suy nghĩ như trên, chúng tôi chọn cho luận án của mình đề tài: Thi pháp thơ Nôm Nguy ễn Trãi

Thơ Nôm của Ức Trai có quan hệ nội tại với những trước tác và sáng tác khác

của Nguyễn Trãi, nhưng không ở đâu như ở thơ Nôm của Ức Trai chúng tôi thấy rõ ràng nhất Nguyễn Trãi - nhà thơ Cho nên, đến với những tác phẩm văn chương khác

của Nguyễn Trãi đều có ý nghĩa đặc thù trên các phương diện lịch sử, xã hội mang tầm

cỡ quốc gia của một con người với tư cách là một nhà chính trị, văn hóa, ngoại giao, bác học, khoa học, tư tưởng Còn đến với QATT của Nguyễn Trãi là đến với con người cá nhân nhà thơ, đến với tâm hồn, xúc cảm của nhà thơ trong quãng 14 năm

cuối đời Đây cũng là một trong những lí do mà chúng tôi thấy là cần thiết và quan

trọng Hiểu được tâm hồn, xúc cảm của người khác không phải là chuyện dễ, mà tâm

hồn, xúc cảm được biểu hiện qua thơ lại càng là sự khó khăn và tinh tế vô cùng

Chúng tôi cho rằng sự phối hợp giữa lí thuyết thi pháp - đi sâu hơn vào lĩnh vực nghệ thuật, với khả năng thẩm định văn chương vào văn bản QATT- được xem là văn

Trang 8

bản cổ nhất của văn học Việt Nam, sẽ làm sáng rõ sức sống lâu bền và sức tỏa sáng

của QATT nói lên sức mạnh nghệ thuật tự nó, vốn có và tiềm ẩn trong thi pháp của nó

QATT vô cùng quý giá đối với dân tộc ta Tập thơ là minh chứng hùng hồn cho ý

thức trở về cội nguồn, ý thức dân tộc hóa văn chương, nhân dân hóa thơ ca của Nguyễn Trãi Tập thơ còn là minh chứng về xúc cảm, tâm hồn của một "vĩ nhân" trong

lịch sử, là sự cách tân về bút pháp, ngôn ngữ và cấu tứ ; đó cũng là một kho chất liệu cho ta nghiên cứu lời nói, câu viết của tổ tiên ta ngót 500 năm trước

Chúng tôi cũng từng thao thức, trăn trở với những câu thơ mới đọc qua còn có

cảm giác trúc trắc, tắc nghẹn, nhưng càng suy nghĩ, nghiền ngẫm càng cảm nhận được tâm hồn Ức Trai, tâm hồn một vĩ nhân trong lịch sử có một số phận hết sức éo le "Văn

tức là người" (Le style c'est l'homme - Buffon, XVII siècle), QATT là tấm gương phản chiếu tâm hồn của Nguyễn Trãi Một con người suốt đời sống theo phương châm "tiên

ưu, hậu lạc" ("Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc dư" - Phạm

Trọng Yêm - Bài kí lầu Nhạc Dương - Lãng Nhân - Hán văn tinh túy Sài Gòn, 1965, trang 224)

Là một giáo viên dạy văn ở trường sư phạm, chúng tôi nghĩ rằng hiểu sâu sắc về

một tác giả, một tác phẩm, có những thao tác khoa học hợp lí, xác đáng để phân tích tác phẩm văn học, nhất là tác phẩm văn chương vừa cổ, vừa khó, vừa có giá trị mở màn, đột phá, vừa có vị trí đỉnh cao là một công việc khó khăn, phức tạp

Năm trăm năm đã qua, QATT vẫn đầy vẻ đẹp và sức sống, làm rạng danh và sáng

tỏ tâm trạng Ức Trai - "Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo" (Ức Trai lòng dạ văn chương sáng - Lê Thánh Tông)(1) Sự tồn tại của QATT xứng đáng cho các công trình

tiếp tục khảo cứu, nghiên cứu về nó Mỗi một công trình sẽ có giá trị "bóc dần" rêu bụi

của thời gian, trả lại cho QATT sự lấp lánh diệu kỳ của văn chương một con người

"Tinh vi, thâm thúy, sáng sủa, đẹp đẽ" (Nguyễn Năng Tĩnh)

Theo tư liệu hiện có, QATT của Nguyễn Trãi là thi tập được viết bằng chữ Nôm

cổ nhất của văn học Việt Nam mà chúng ta còn giữ được Đánh giá QATT, GS.Đinh Gia Khánh viết: "Là một người đã từng lăn lộn trong phong trào đấu tranh rộng lớn

(1 ) Câu này được đối với câu dưới: “Vũ Mục hung trung liệt giáp binh” trong bài Minh lương

Trang 9

của dân tộc, đã từng sống gần nhân dân trong phần lớn cuộc đời mình, là một nhà văn hóa dân tộc rất có ý thức về những giá trị tinh thần của đất nước Việt và con người

Việt, Nguyễn Trãi đã có đóng góp lớn vào sự phát triển của văn hóa dân tộc

Trong lĩnh vực văn học, thì sự đóng góp ấy lại còn thể hiện rõ rệt ở việc đẩy

mạnh sự phát triển của thơ Nôm Kế thừa những thành tựu của các tác phẩm đời Trần, QATT của Nguyễn Trãi đã khẳng định vị trí ngày càng quan trọng của văn học chữ Nôm trong dòng văn học viết

Trong thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, tính dân tộc đã thể hiện rất rõ ở chỗ phản ánh thiên nhiên của đất nước ta và sức sống của ông cha ta Với thơ Nôm, ông đã có

thể phản ánh một cách cụ thể và sinh động hơn thiên nhiên ấy, cuộc sống ấy" [63: 400] Bài nghiên cứu của Xuân Diệu: "Quốc âm thi tập tác phẩm mở đầu nền thơ cổ điển Việt Nam" [133: 578 - 638] vào năm 1980 quan tâm trên nhiều phương diện: văn

bản (20 bài trùng giữa QATT và Bạch Vân Quốc ngữ thi tập), con người Nguyễn Trãi -

"con người "trần thế nhất trần gian", con người thông thường càng làm tăng thêm giá

trị cho con người khác thường, chính cái phần con người thông thường làm cho vĩ nhân mới hoàn chỉnh là một vĩ nhân trọn vẹn" [133: 613]; bàn đến câu thơ 6 chữ, Xuân

Diệu cho rằng: "Nhà thơ biết cách đặt các từ gốc bên nhau, rồi vì sức mạnh bên trong

của nội dung tạo ra một từ trường, cho nên các chữ hút nhau, không cần các thứ keo hồ

trợ từ" [133: 622] và tác giả bình luận đến một số từ Nôm được sử dụng trong QATT

của Nguyễn Trãi vừa biểu hiện ý thức dân tộc vừa biểu hiện giá trị nghệ thuật

Nhìn một cách tổng quát thì các công trình nghiên cứu về QATT đan xen nhau trên các phương diện vào những quãng thời gian tiếp nối nhau Số bài nghiên cứu về văn bản QATT khá tập trung vào giai đoạn đầu, số bài nghiên cứu về con người Nguyễn Trãi, Nguyễn Trãi với thiên nhiên, và các bài thơ riêng lẻ trong tập thơ tập trung trong thời gian gần đây với sự vận dụng thi pháp rõ nét Phần lịch sử nghiên cứu

về văn bản chúng tôi xin được phép trình bày rõ trong chương 1 của luận án, những công trình nghiên cứu còn lại chúng tôi tạm nhóm vào một số đề mục và lược qua theo trình tự thời gian (ở đây chúng tôi chỉ lưu ý đến những ý kiến có liên quan đến đề tài

của luận án)

Trang 10

2.1 Tìm hi ểu về con người Nguyễn Trãi qua thơ Nôm của ông:

Có 7 bài viết từ năm 1962 đến 1997, trong 7 bài nghiên cứu này chúng tôi tiếp thu cách đánh giá về con người cá nhân Nguyễn Trãi của các tác giả Trần Đình Hươu, Nguyễn Hữu Sơn, Trần Đình Sử và Trần Ngọc Vương Trần Đình Hượu (1995) cho

rằng: "Trong cả cuộc đời, khi còn chống Minh cũng như khi đã làm quan trong triều đình, bao giờ Nguyễn Trãi cũng coi Nho giáo là đạo lí chính, nhưng tư tưởng Nho giáo cũng không bao giờ độc chiếm tâm hồn ông Từng thời gian, từng phạm vi khác nhau, bên cạnh Nho giáo bao giờ cũng có một cái gì khác, thường là trái với Nho giáo, hoặc

là tư tưởng quyền mưu, hoặc là tư tưởng Lão - Trang, hoặc là nếp sống theo truyền

thống dân tộc Thành phần phụ gia đó làm cho tư tưởng của ông thành đa dạng, phong phú và trở thành gần gũi với chúng ta hơn nhiều Nếu hình dung Nho giáo là một đường thẳng thì tư tưởng Nguyễn Trãi là một đường quanh co cùng hướng, lượn quanh, không bao giờ trùng mà cũng không bao giờ quá xa đường thẳng Đó là một sự

lựa chọn; Nguyễn Trãi lựa chọn cho mình và cho cả dân tộc" [58: 116]

"Thơ tâm sự chữ Hán và chữ Nôm là phần hay nhất mà cũng là phần nhiều nhất trong thơ Nguyễn Trãi Ta gặp ở đây những lời tự bạch hầu như trong nửa cuối cuộc đời ông, từ những ngày còn đảm đương nhiều trọng trách của triều đình, bận bịu trăm công ngàn việc đến những ngày "nhàm chán" [ ] Ta gặp rất ít bài có tâm sự vui vẻ,

phấn chấn, đắc ý hành đạo mà lại gặp nhiều bài dằn vặt, đau xót khi ông bị nghi kị, lâm vào cảnh ngộ nguy hiểm Rất nhiều [bài] bộc lộ tâm sự chán nản, bực bội khi phải

sống lẻ loi, lạc lõng giữa triều đình Hầu hết là thơ ca tụng cảnh nhàn, ca tụng cảnh đẹp thiên nhiên, mối đồng tình với những con người thanh cao biết coi thú nhàn dật là quý, ngàn vàng khó đổi được Dầu đó là phần chủ yếu, tâm tình của ông không chỉ tập trung vào lạc thú thanh nhàn Đằng sau - và là sâu hơn lạc thú đó - là nỗi lòng day dứt làm nhà thơ bạc đầu:

"Bui một tấc lòng ưu ái cũ Đêm ngày cuồn cuộn nước chầu đông"

Điều hầu như luôn làm ông bận tâm, ray rứt là vấn đề xuất xử" [58: 104, 105]

Hoặc: "Trong cách hình dung của chúng ta, Nguyễn Trãi là anh hùng, là nhà chính khách, là con người hành động, nhưng Nguyễn Trãi còn là con người có tâm hồn rất nghệ sĩ Ông thích ngồi dưới giàn hoa làm thơ, đốt lò hương đánh đàn, thích chèo

Trang 11

thuyền đêm trăng, thích cảnh đẹp Cả hai con người khác nhau đó đã hình thành từ rất

sớm ở ông" [58: 106]

Bài viết của Nguyễn Hữu Sơn vào năm 1995 cho rằng: "Xét về nội dung tư tưởng, dễ thấy ở Nguyễn Trãi xuất hiện cả ba mẫu hình con người nhà nho (theo cách phân loại của giáo sư Trần Đình Hượu): hành đạo, ở ẩn và tài tử Song nếu nhìn nhận ở

tư cách nhà nghệ sĩ lại thấy mỗi phương diện trên đều được Nguyễn Trãi giải bày trong nhiều biến thái khác biệt, thậm chí đối nghịch nhau" [133: 732]

Trần Đình Sử (1997) cho rằng: "Cá nhân Nguyễn Trãi được thể hiện nổi bật trong

bản thân sự lựa chọn day dứt giữa các tư tưởng, các con đường lập thân, dưỡng thân và

nhất là bảo thân " [133: 723]

Trần Ngọc Vương (1997) nhấn mạnh quan hệ giữa nhà nghệ sĩ và nhà tư tưởng trong QATT: "Nhà tư tưởng phát ngôn và hành động cho đạo Nho, nhà nghệ sĩ mang

nặng nỗi ưu đời mẫn thế nhà tư tưởng của triết học Lão - Trang và người nghệ sĩ ca

tụng thú thanh nhàn, hòa mình vào tạo vật" [133: 741] Bàn đến sự thống nhất giữa các mâu thuẫn hay là ý nghĩa bi kịch của Nguyễn Trãi, tác giả đã lí giải một cách xác đáng

bi kịch của Nguyễn Trãi là "xung đột giữa hai định hướng văn hóa" [133: 759], trong

mối xung đột đó thì "Nguyễn Trãi cô đơn, cô đơn đến tuyệt đối giữa những đại thần,

và sự nhẫn nại đến phi thường của Nguyễn Trãi là để thực thi cho bằng được một thiên

chức "tác chuẩn thằng" (tạo ra mực thước, chuẩn mực) cho những kẻ tư văn của đất

Việt" [133: 761]

Lê Chí Dũng trong công trình nghiên cứu "Tính cách Việt Nam trong thơ Nôm

luật Đường" (Nxb Văn học, Hà Nội, 2001) đã phân tích và nhấn mạnh: "Như vậy trong thơ Nôm luật Đường của Nguyễn Trãi hội đủ 3 loại hình tượng: hình tượng người anh hùng đem hết sức bình sinh "phò đời, giúp nước", hình tượng người ẩn sĩ sống thanh cao, lánh xa vòng danh lợi, hình tượng chàng trai hữu tài, hữu tình, cảm nhận sâu sắc

và tinh tế mọi biến dịch tinh diệu của thiên nhiên, của cuộc sống con người, duyên dáng và tinh nghịch " (trang 40)

Trang 12

2.2 8 ý ki ến nghiên cứu về thiên nhiên và đời sống trong thơ

Bài viết của Nguyễn Thiên Thụ (1973) trong mục IV: "Thiên nhiên đã khoác

những chiếc áo màu khác nhau tùy theo từng thời gian: cỏ, cây, hoa, lá, núi rừng, sông

hồ, bầu trời đã thay đổi theo từng mùa, từng tháng Sự thay đổi đó đã làm cho lòng người đổi thay và lòng thi nhân thêm cảm xúc" [133: 675]

Đặng Thanh Lê (1980) lưu ý đến không gian nhỏ bé bình dị nơi quê nhà Nguyễn Trãi: "Nguyễn Trãi còn hướng ngòi bút vào những cảnh vật nhỏ bé, bình dị vẫn thường

dấu mình trong cuộc sống hàng ngày quen thuộc như nắng chiều, mây sớm, dậu cây,

bờ cỏ nhân vật trữ tình ở đây trở thành chủ thể cảm thụ, chiếm lĩnh vẻ đẹp của thiên nhiên từ góc độ một con người hòa mình vào xứ sở quê hương, nơi sinh trưởng" [133: 693]

Nguyễn Hữu Sơn (1985) trong bài viết "Cảm quan mùa xuân trong thơ Nôm Nguyễn Trãi" cho rằng: "trong thơ Nguyễn Trãi, mùa xuân được cảm nhận như là biểu tượng của vẻ đẹp toàn mỹ, hoàn chỉnh, phổ biến" [133: 535], tác giả so sánh số lượng thơ xuân trong thơ Quốc Âm và thơ xuân trong thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi để đi đến nhận định: "Chỉ với thơ Quốc Âm, với thứ chữ Nôm - thứ tiếng nói của tâm hồn dân tộc - thì Nguyễn Trãi mới có điều kiện cảm nhận và diễn đạt được toàn bộ ý tưởng

của mình trước cuộc sống và cảnh đẹp của mùa xuân đất Việt" [133: 539] Ý kiến của

La Kim Liên (1997) về trăng trong QATT là những đánh giá có giá trị khái quát, tổng

kết về quan hệ giữa trăng và thi nhân

Tác giả Trần Ngọc Vương bàn về nhà tư tưởng và nhà nghệ sĩ trong QATT cũng

đề cập đến mối quan hệ giữa thi nhân với thiên nhiên: "Có thể nói, khi đối diện với

cảnh vật, Nguyễn Trãi có hai cách cảm thụ chủ yếu: kéo nó vào với mình và hòa mình vào với nó Nguyễn Trãi vật thể hóa những khái niệm trừu tượng, cảm tính hóa những nguyên lý Nho gia khi ông là người hành đạo và những người bạn muôn thuở ở trong thơ các nhà nho ẩn dật cũng được Nguyễn Trãi gọi về họp mặt đầy đủ trong thơ ông: mai, tùng, cúc, trúc, thông am quạnh, lều con, hương trầm Nguyễn Trãi không

dựng lên những cảnh dữ dội hay những cảnh triền miên, vụn vặt Cảnh trong thơ ông thường "bén áo, xâm khăn" với con người" [133: 753, 757]

Trang 13

"Cho nên có thể nói thơ Hàn luật theo điệu Đường trong thời Nguyễn Trãi tuy đã thông dụng nhưng không chiếm ưu thế trên văn đàn 183 bài thơ còn lại của Quốc âm thi tập là những bài thơ ít nhiều có thể cách tự do Nói cho đúng hơn, đó là những bài thơ tám câu hoặc bốn câu mà cấu trúc đối xứng thì ít nhiều giống thơ luật, nhưng số

âm trong câu thì lại có thể sáu hoặc bảy (lục ngôn xen kẻ với thất ngôn) Việc kết hợp

một cách linh hoạt những câu sáu và câu bảy như thế đã tạo cho thơ nôm Nguyễn Trãi

âm điệu riêng" [63: 412]

Có 3 bài viết liên tiếp nhau của tác giả Phạm Luận vào những năm 1980, 1991,

1997 (bài viết 1997 có sự cộng tác của tác giả Nguyễn Phạm Hùng) Bài viết năm

1980 thống kê: 159 bài bát cú có 391 câu 6 tiếng, 25 bài tứ tuyệt có 35 câu 6 tiếng [133: 842], sau khi phân tích việc xen câu 6 tiếng tạo nên sự thất niêm, tác giả cho

rằng: "khi hình thức thể thơ trở thành đơn điệu với nội dung thì nhà thơ phải tìm đến

những hình thức thể thơ khác, kiểu câu thơ khác trong cố gắng để xây dựng một lối thơ Việt Nam, Nguyễn Trãi đã đưa vào thể thơ Nôm câu 7 tiếng với lối ngắt nhịp 3

4 và câu 6 tiếng Đó là kết quả những tìm tòi sáng tạo của người Việt Nam, mà người đặt

mốc đầu tiên là Nguyễn Trãi" [133: 847, 849]

Bài viết tiếp theo vào năm 1991 tác giả nhấn mạnh đến tiết tấu của câu thơ Trung

Quốc và câu thơ Việt Nam, câu thơ Trung Quốc có thể xem là câu thơ ngũ ngôn luật, được thêm vào đằng trước một bước thơ, gồm hai âm tiết, câu thất của ta lại là câu 6

âm tiết có âm tiết đầu tự làm một bước thơ, rút gọn một từ vẫn không phương hại đến

cả câu, và vì vậy câu thơ Việt Nam luôn có nhịp chẵn, tác giả cũng khảo sát có 215 lần trong 145 bài có gieo vần lưng và vần trắc Bài viết vào năm 1997 chung với tác giả Nguyễn Phạm Hùng có lưu ý mấy vấn đề cơ bản sau:

- Cách hiệp vần trong thơ: QATT từ đầu đến cuối đều sử dụng vần bằng (trừ bài

126 và 200), như vậy xét về vị trí hiệp vần, thơ trong QATT không có gì khác với thơ

Trang 14

chữ Hán làm theo luật Đường của tác giả, chữ hiệp vần trong QATT chệch xa luật chữ

hiệp vần theo Quảng Vận Do ngôn ngữ QATT từ thuần Việt chiếm một tỉ lệ cao, hơn

nữa ông lại ưa thích dùng những vần thuần Việt vào vị trí các "nút tiếng vọng" [133: 864]

- Thể thơ thất ngôn xen lục ngôn: số câu số chữ ở mỗi bài không cố định, "câu

lục ngôn không phải do Nguyễn Trãi sử dụng câu lục trong thơ dân gian Việt Nam Nó được hình thành từ chính câu thất ngôn luật Đường Mỗi câu lục ngôn được tạo ra chỉ

bằng một cách là giảm một chữ ở câu thất ngôn luật Đường Chữ giảm ở câu thất ngôn tuy theo từng bài, có thể là một trong các chữ thứ nhất, thứ ba, thứ năm, thứ sáu Duy

chữ thứ 7 và chữ thứ 2 của câu thất ngôn thì bất cứ trường hợp nào cũng không thể

cơ bản - những nhân tố chính để khẳng định một ngôn ngữ dân tộc - thì lại đã đồng hóa rất nhiều từ ngữ Hán vào kho từ vựng của mình Trong sự đồng hóa này, phải thấy công lao của nhiều tác giả thơ văn nôm Nguyễn Trãi là một trong những người đã góp

phần công lao xứng đáng Ông đã cố gắng Việt hóa những phần vay mượn của Hán

học." [63: 402]

"Thành tựu lớn nhất của Nguyễn Trãi không phải là ở chỗ đồng hóa kho từ vựng

và văn liệu Hán học mà là ở chỗ xây dựng ngôn ngữ văn học dân tộc trên cơ sở ngôn

ngữ của nhân dân và ngôn ngữ của văn học dân gian" [63: 404]

"Những khả năng của ngôn ngữ Việt mà Nguyễn Trãi biết khai thác một cách tài tình đã làm cho hình tượng thơ nhịp nhàng, uyển chuyển và đầy màu sắc dân tộc

Với Nguyễn Trãi, ngôn ngữ văn học Nôm đã tiến một bước đáng kể so với ngôn

ngữ văn học Nôm đời Trần Thơ Nôm Nguyễn Trãi nhiều khi kết hợp được tính giản

dị, chân chất với tính mĩ lệ, tinh tế" [63: 408]

Trang 15

Bùi Văn Nguyên thống kê có 50 câu trong QATT có yếu tố của tục ngữ, 20 câu

có yếu tố của ca dao và kết luận: "từ trong lao động nghệ thuật của mình, các nhà thơ dân tộc ưu tú nói trên, lại dần dần nâng cao giá trị văn học của tiếng Việt lên làm cho

tiếng Việt ngày càng phong phú, càng có vị trí xứng đáng trên văn đàn, ngay với tiếng nói của nhiều nước tiên tiến trên thế giới" [133: 815] Hoàng Tuệ đề cao cống hiến của Nguyễn Trãi trong QATT ở các phương diện: từ vựng, ngữ pháp, và kế thừa tục ngữ,

ca dao "nếu như về tiếng Việt, thế kỷ XIX, Nguyễn Du sẽ tạo nên được niềm tự hào, thì ở thế kỷ XV, điều mà Nguyễn Trãi đã xây dựng nên được là niềm tin [133: 826]

Có 7 trong số 254 bài được các tác giả Trương Chính, Xuân Diệu, Trần Thanh

Mại, Lã Nhâm Thìn, Quang Huy, Phạm Tú Châu, Trần Đình Sử, Lê Trí Viễn, Đoàn

Thu Vân, Bùi Văn Nguyên, Cao Hữu Lạng, Lê Chí Dũng phân tích, bình giảng: Vô đề, Tùng (2 bài viết), bài 208 [134], bài 170 [134], Ngôn chí VII, Bảo kính cảnh giới 43,

Mộc cận Những bài viết của các tác giả: Lê Trí Viễn (bài 170, Tùng, 1994); Trần Đình

Sử (Tùng - 1995), Lê Chí Dũng (Ba tiêu - 2001) và Trần Ngọc Ninh (Mộc cận - 1973) đều sử dụng các thao tác thi pháp thơ để phân tích, bình giảng Các tác giả đều rất chú

ý đến yếu tố ngôn ngữ, hình ảnh, nhịp điệu, kết cấu và đặc biệt Trần Ngọc Ninh đã sử

dụng nhiều thao tác của thi pháp cấu trúc đưa lại cho người đọc cảm nhận về cái đẹp trong bài thơ "Mộc cận": từ hình ảnh bóng hoa dưới nước, hình ảnh "chiều mai nở, chiều hôm rụng" để nói đến sự vô thường, đến rồi lại đi, có sinh và có tử Từ câu 1 đến câu cuối cùng, bài thơ đưa ta đi từng đợt, từ cái đẹp của cảnh đến cái chân lý của cuộc đời chỉ 4 câu mà mở rộng được chân trời triết lí bao la

Trang 16

3.2 Phương pháp nghiên cứu

Nguyễn Trãi được xem là người mở đầu, ngươi tạo dựng, người khai sơn phá

thạch, người cha, thiên tài mẹ (génie - mère) của nền thơ tiếng Việt Trước Nguyễn Trãi cũng đã từng có những bài thơ tiếng Việt, nhưng nó còn lẻ tẻ, rụt rè, đôi khi tính xác thực của văn bản còn chưa rõ ràng (chẳng hạn bài thơ của Điểm Bích chép trong Tam tổ thực lục làm về Huyền Quang, hay bài thơ "Ăn cỗ đầu người" của Nguyễn

Biểu, bài thơ của Trần Trùng Quang , thơ nôm của Nguyễn Sĩ Cố, Hàn Thuyên, Hồ Quý Ly được ghi nhưng đã mất) Chỉ với hơn 200 bài thơ nôm của QATT, lâu đài thơ

tiếng Việt mới chính thức được đặt viên đá đầu tiên Và đây là một bước đột phá về thi pháp, hiểu theo nghĩa rộng nhất của thuật ngữ này

Thi pháp học hôm nay cơ hồ đã trở thành một cơn sốt, nhất là trong việc làm luận

án Định nghĩa về nó có nhiều Từ cổ xưa, như Arixtốt, Lưu Hiệp đều có cách quan

niệm về "thi pháp học" Đến thời chúng ta, có nhiều định nghĩa từ "hàn lâm" đến thông

tục: "Theo cách hiểu thông thường hiện nay trên thế giới, thi pháp là phương pháp tiếp

cận, tức là nghiên cứu, phê bình tác phẩm văn học từ các hình thức biểu hiện bằng ngôn từ nghệ thuật, để tìm hiểu các ý nghĩa biểu hiện hoặc chìm ẩn của tác phẩm: ý nghĩa mỹ học, triết học, đạo đức học, lịch sử, xã hội học.v.v Cấp độ nghiên cứu thi pháp học các hình thức nghệ thuật (kết cấu, âm điệu, nhịp câu, đối thoại, thời gian, không gian, cú pháp.v.v.) yêu cầu đọc tác phẩm như một chỉnh thể, ở đó các yếu tố ngôn từ liên kết chặt chẽ với nhau, họp thành một hệ thống, để biểu đạt ý tưởng, tình

cảm, tư duy, nhân sinh quan tức là cái đẹp của thế giới, con người " [49: 9, 10] Nhưng hiểu một cách dung dị nhất, thì thi pháp là những phương tiện hình thức

để đạt tới nội dung, chuyên chở nội dung, mang tính nội dung, tính quan niệm, Và nói chung, thi pháp là tất cả những sáng tạo và cách tân của một tác phẩm, một tác giả,

một trào lưu ; và tất cả là để làm cho người ta thấm thía cái hay của thơ Nói thi

pháp dưới bất cứ khía cạnh nào, cũng đều là để hiểu (và cảm) được cái hay của một câu thơ, một bài thơ, một trào lưu thơ Khái niệm thi pháp gắn liền với phương diện hình thức nghệ thuật, hình thức nghệ thuật không tồn tại tự nó mà luôn nằm trong sự

thống nhất chặt chẽ, biện chứng với nội dung nghệ thuật Nội dung bao giờ cũng là nội dung của một hình thức nhất định và nếu nói nó quy định hình thức thì lại có thể nói hình thức cũng quy định nội dung Bởi vì nếu không có hình thức ấy thì đã không diễn

Trang 17

đạt được nội dung ấy Hình thức và nội dung luôn luôn ở trong nhau, xâm nhập lẫn nhau, làm nên nhau Không thể nào tách rời nội dung khỏi hình thức; người ta chỉ tách

rời hình thức ra khỏi nội dung trong nghiên cứu, trong tư duy trừu tượng - tư duy nghiên cứu, đòi hỏi phải "trừu xuất" hình thức ra khỏi nội dung và ngược lại Đó là

một sự "cô lập" nhất thời, còn trong thực tế tác phẩm, người ta không thể nói về cái này mà không nói về cái kia Nội dung thì vô hạn, hình thức thì hữu hạn, và quan hệ

giữa hình thức và nội dung không phải là quan hệ đối xứng, mà vẫn có tính độc lập tương đối Một hình thức có thể biểu hiện nhiều nội dung và một nội dung có thể được

biểu hiện qua nhiều hình thức Có những cấp độ nội dung cũng như nhiều cấp độ về hình thức, nhiều khi một cấp độ nội dung nào đó chỉ gắn kết với một cấp độ hình thức nào đó mà thôi Một nội dung gắn kết với một hình thức hoặc ngược lại

Sáng tác văn học là một sự chọn lựa Tại sao chọn thể loại này, nhịp thơ này, chữ này mà không lại là cái khác.v.v Điều đó bị chi phối bởi một số quan niệm nghệ thuật về con người, về thế giới, về truyền thống và sáng tạo mà có khi chính người sáng tác cũng không ý thức được hết, cũng không tự giác ý thức Nhưng là người nghiên cứu, chúng ta phải đi tìm các quan niệm ấy, cái lý lẽ ấy Chúng ta phải dò tìm

sự thể hiện nội dung qua hình thức Chúng ta nghiên cứu hình thức là để nghiên cứu

nội dung một cách hoàn thiện

Như đã nói trên, thi pháp là một hệ thống của một cấu trúc hình thức (bề nổi hay chiều sâu) nhưng nó là một biểu hiện của nội dung, liên quan đến nội dung Và vì thế, trên thế giới, ngày nay ta thấy có hai trường phái lớn về thi pháp, ta tạm gọi là thi pháp

vĩ mô và thi pháp vi mô M.Bakhtin (1895 - 1975) có thể xem là người đại diện kiệt

xuất cho trường phái thứ nhất Trong khi nghiên cứu về "Sáng tác của F.Rabelais và

nền văn hóa trào tiếu thời trung cổ và Phục hưng" hay "Thi pháp Dostoievski", ông đều xuất phát từ lịch sử - thực tại - thế giới quan là những phạm trù triết học - mỹ

học, những phạm trù nội dung và từ đó đi tìm những đặc trưng thi pháp như "tiếng cười nhị chức năng", "chủ nghĩa hiện thực dị hợm" (groteque); hay thi pháp nhân vật, thi pháp ngôn ngữ và cái bao trùm lên là tiểu thuyết đa thanh, đối thoại, vai trò của tư tưởng M.Bakhtin phân biệt thơ và tiểu thuyết: "Thơ là tiếng nói độc bạch (monologique), chẳng hạn một bài thơ diễn đạt một nỗi oán than, một niềm vui, một

Trang 18

nỗi nhớ, một suy tưởng Tiểu thuyết là đối thoại (dialogique), nhiều tiếng nói, nhiều

bè, hòa hợp với nhau, cãi nhau, đối chọi nhau" [49: 15, 16]

Trong khi đó, Jakobson lại là tiêu biểu cho trường phái thi pháp vi mô với tác

phẩm kinh điển "Thi học và ngữ học", Jacobson xuất phát từ việc định nghĩa và vạch

ra mô hình của một thông điệp (message) - người gởi người nhận - bối cảnh - tiếp xúc

- mã và cố gắng đi tìm cách trả lời cho vấn nạn: làm thế nào mà một thông điệp mang chức năng thi ca? Sau đó Jacobson đã phân tích những vấn đề tinh vi nhất, khó khăn nhất của những kết hợp bên trong cấu trúc của một từ, một ngữ đoạn, một câu thơ, cường độ, trường độ, độ tối - sáng, nhịp, nhịp yếu - nhịp mạnh, vai trò của cái nhỏ

nhất như morfème (hình vị) trong một bản văn Như thế có thể nói Jacobson là đại

biểu cho thi pháp cấu trúc ngữ học, thi pháp vi mô Sau những phân tích "soi kính

hiển vi" của ông vào các bài thơ của Bondelaire, thơ sonnet Shakespeare, người ta càng hiểu ý đồ của ông hơn trong việc ông muốn đi đến tận cùng, đi đến cái nhỏ nhất

mà có nghĩa trong thơ "thơ - còn gọi là trục lựa chọn, thay thế, tương đồng, quy chiếu, trục của các ẩn dụ thơ sử dụng nhiều hình ảnh, nhiều từ tương đương, nhiều từ đồng nghĩa để diễn tả một tâm trạng, một suy tư (giọt lệ, giọt châu, giọt hồng, giọt

tủi để nói nước mắt, sự đớn đau) " [49: 16] Jacobson xem thơ là sự thực hiện chức năng thơ (poetic function) của ngôn ngữ trong quá trình sáng tạo nên tác phẩm nghệ thuật ngôn từ, trên cả hai trục: lựa chọn (selection), và kết hợp (combination) Tác giả còn lưu ý vận dụng lí thuyết thi pháp khai thác các đặc trưng của thơ: cấu trúc trùng điệp (âm thanh, nhịp điệu, ngữ nghĩa ), kiến trúc đầy âm vang, nhiều khoảng trắng trên không gian in thơ, chất nhạc tràn đầy

Sau Jacobson đã có nhiều người kế tục và phát triển nhưng ông vẫn là người mở đầu - kinh điển, mặc dù không phải lí thuyết của ông, lập luận của ông được người ta

chấp nhận dễ dàng mà không phản biện, tranh luận(1

) Sau khi "nhận diện" trên nét lớn về thi pháp học như thế, chúng ta ứng dụng lý thuyết này vào trường hợp thơ Nôm Nguyễn Trãi và xem xét chúng dưới góc độ thi pháp, cố gắng tìm ra những nét riêng biệt làm thành cái chất riêng của thơ Nguyễn Trãi

bằng tiếng Việt

(1) Xin xem: JONATHANCULLER STRUCTURALIST POETICS – Structuralison and the Study of Literature, Linguistics, Cornell University Press, Ithaca, New York, 1975

Trang 19

Lí thuyết thi pháp của Jacobson có gặp ở Nguyễn Trãi một điểm là người làm thơ ngày xưa thường chọn từ, chọn ngữ đắc địa để sáng tác, thế nên mới có khái niệm

"nhãn tự" - con mắt thơ, hay nói như Đỗ Phủ: "Ngữ bất kinh nhân, tử bất hưu" (nói mà không làm người sợ, chết không nhắm mắt) Tuy nhiên, ở QATT không vận dụng thi pháp Jacobson đến mức phân tích hình vị, vì tiếng Việt không phải như vậy, nhưng gặp

gỡ ở việc lựa chọn từ ngữ trên hai trục lựa chọn và kết hợp Phương Đông trong sáng tác thơ thường liên quan đến việc tìm tứ thơ, mà đã nói đến tứ thì cũng phải tìm kiếm các công cụ hình thức để thể hiện cái tứ của mình, điều này có liên quan đến việc lựa

chọn thể loại

Trần Ngọc Ninh trong bài viết "Nguyễn Trãi huyễn thực và sắc không" cho rằng:

"Sau J.Cocteau, người ta thường nói rằng thơ là một ngôn ngữ; và sau R Jacobson, người ta sẽ nói rằng có một ngữ pháp của thơ ở Việt nam, vào đầu thế kỉ thứ 15, Nguyễn Trãi, nhà thơ thứ nhất của dân tộc đã thực hiện được một sự hòa hợp kì diệu

giữa hình thức và nội dung trong thơ của ông " [104: 15, 16]

Vận dụng lí thuyết thi pháp, chúng tôi còn vận dụng các phương pháp: so sánh

"so sánh tức là nghiên cứu": so sánh với cái trước nó, cái đồng thời với nó và cái sau

nó, trong không gian (khu vực địa lý, vùng, thí dụ: Trung Hoa, Nhật, Đông Á hay Đông Nam Á ), và trong thời gian; phương pháp lịch sử đưa tác phẩm trở về với thời đại đã sản sinh ra nó Văn chương là tấm gương phản chiếu thời đại, thời đại thế nào thì có văn chương như thế Văn học cũng là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, nên QATT còn mang dấu ấn về tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của cá nhân Nguyễn Trãi, và phương pháp lịch sử cũng là điều kiện để đánh giá hết tầm vóc và vị trí của QATT, cho phép người nghiên cứu thấy được sự tương đồng của QATT với các tác

phẩm đương thời, hay sự đột biến (về ngôn ngữ, thể tài ) với các tác phẩm cùng thời, trước đó và sau nó

Trên cơ sở những thao tác như thế, phương pháp thống kê cũng là để tìm ra

những tần số xuất hiện của hình tượng, ý tứ từ đó đi sâu vào mạch ngầm và hệ thống

của văn bản để xem tác giả có một quan niệm, một cái nhìn như thế nào? Căn cứ vào

những số liệu, cứ liệu khách quan, thực chứng để nêu lên và giải quyết vấn đề Mọi sự

thống kê, phân loại đều nhằm vào mục đích thể hiện một tư tưởng, một giá ưị nghệ thuật đằng sau những con số (trường hợp câu lục ngôn trong 163/ 226 bài là một ví

Trang 20

dụ ) Chúng tôi cố gắng vận dụng những mặt mạnh của thi pháp học cấu trúc vào việc nghiên cứu vần điệu, giọng điệu, ngôn từ , không phải bằng cách tách rời nó khỏi nội dung - tư tưởng, mà chính là để làm rõ thêm những nhân tố của hình thức ấy đã làm tôn vinh nội dung

Chúng tôi thống nhất về mặt phương pháp luận, vì thi pháp QATT là thi pháp của

226 bài thơ trong một tập thơ, vì vậy việc tiếp cận với tác phẩm này luôn tiến hành trên cơ sở hệ thống, tính đa dạng trong xúc cảm của một cá nhân nhà thơ Vì vậy tính

hệ thống như là một đặc điểm mang ý nghĩa phương pháp luận của thi pháp học có cơ

sở từ bản thân đối tượng của khoa học này

Chia tách ra các phương pháp như vậy để nhìn nhận vấn đề cho rõ ràng, thực chất các thao tác này luôn luôn kết hợp với nhau, kết hợp trong nhau và với mục đích là khám phá giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm QATT trong mối quan hệ thống

nhất, biện chứng

Khoa học - nhất là khoa học xã hội bao giờ sự sáng tạo cũng dựa trên cơ sở kế

thừa, nên những đóng góp trong luận án của chúng tôi là đóng góp trên phương diện

kế thừa thành quả của những người đi trước Kế thừa thành quả của người đi trước là thuận lợi cho luận án, đồng thời cũng là khó khăn cho người viết luận án, bởi vì khoa

học đòi hỏi có những đóng góp mới mẽ, sáng tạo, không chấp nhận sự vay mượn hay

sự lặp lại

Bắt đầu từ vấn đề văn bản QATT, tức là đến với QATT từ văn bản đích thực của

nó, chúng tôi vận dụng lý thuyết thi pháp, cùng với các thao tác khoa học, để tiến hành nghiên cứu tổng thể QATT trên các phương diện: quan niệm nghệ thuật về con người, không gian và thời gian nghệ thuật, cùng với các vấn đề về thể loại, âm vận, ngôn

ngữ và dự kiến đạt được những kết quả sau đây:

- QATT là bước ngoặt quan trọng trong nền thơ ca nước nhà, mở màn đột phá cho thơ ca Việt Nam sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ, tạo đà cho thơ ca Việt Nam phát triển trên cơ sở trở về với cội nguồn dân tộc Dùng tiếng Việt để sáng tác, ngôn ngữ trong

Trang 21

QATT đạt đến mức dân dã nhất, tinh túy nhất và cũng dân tộc nhất trên tất cả các phương diện: ngữ âm, tự vựng, cú pháp

- Tập thơ là bước đột phá mở đầu cho việc vượt qua những quy phạm trong thơ

ca cổ điển, tìm đến với "cái hàng ngày", dân dã, bình dị, mộc mạc của đời sống Việt Nam: từ ao rau muống, lãnh mồng tơi, ao niềng niễng, đến con vằn, con vện Thi pháp về cái hàng ngày được Nguyễn Trãi đột phá vào thế kỷ XV, vậy mà phải 3, 4 thế

kỷ sau mới có người kế thừa nó

- QATT là tập thơ phần lớn sáng tác vào giai đoạn éo le cuối đời, nên âm điệu

chủ đạo của tập thơ là âm điệu buồn Tập thơ thể hiện quan niệm triết lý của nhà thơ

về nhân sinh thế sự, về thế thái nhân tình, và ở phương diện đó còn bộc lộ một tâm

hồn, "một trái tim xúc cảm, rung động, giàu yêu thương, đầy trách nhiệm với dân, với nước

- Trên cơ sở khảo sát, đối chiếu, so sánh, chúng tôi thấy rằng với 163/226 bài có xen câu thơ lục ngôn là một đóng góp lớn của Nguyễn Trãi trên phương diện thể loại

Phải chăng con người vốn dĩ "Bình sinh độc bão tiên ưu chí" (bình sinh có chí lo trước), vốn dĩ rất ý thức về nền văn hiến đất nước muốn góp phần dân tộc hóa một thể thơ ngoại lai để không thay đổi được nhiều thì chí ít cũng cấu trúc lại đôi chút hình hài

để phả vào đó cái hồn Việt Nam? Các thiên tài bao giờ cũng cống hiến cho đất nước, cho nhân dân những thành tựu có ý nghĩa khám phá

- QATT là tập thơ Nôm cổ nhất còn sót lại với một số lượng lớn (226 bài), nên

việc đọc, hiểu, cảm thụ, phân tích sẽ vấp phải một số vấn đề về từ cổ, về điển tích, điển cố Do vậy, luận án có ý nghĩa trong việc đề xuất một phương hướng tiếp cận với

tập thơ bắt đầu từ vấn đề văn bản

- Luận án thành công sẽ là đóng góp cho công tác học tập, nghiên cứu QATT trong nhà trường

5 KẾT CẤU LUẬN ÁN.

Luận án ngoài phần dẫn nhập, phần nội dung gồm 3 chương: Một số vấn đề về văn bản; quan niệm nghệ thuật về con người, không gian và thời gian nghệ thuật; thi

Trang 22

pháp QATT với các phương diện: thể thơ, âm vận, ngôn ngữ; phần kết luận có ý nghĩa

tổng kết những nét chính về thi pháp QATT

Chương 1 có giá trị như là cơ sở lí luận, là bàn đạp để tiếp tục tiến hành nghiên

cứu các chương tiếp theo Bởi vì nghiên cứu văn học phải có cơ sở từ thực lực của chính văn bản đó, mà văn bản QATT lại có vấn đề, nên chúng tôi đã điểm qua lịch sử văn bản QATT, giới hạn phạm vi khảo sát văn bản, đề cập đến "một số từ cổ, chú thích" được các nhà nghiên cứu văn bản QATT quan tâm Chương này về cơ bản là

tiếp nhận và thừa hưởng thành quả của những người đi trước, chương này chỉ trình bày trong 21 trang

Chương 2 là tiền đề cho chương 3, đây là chương khó viết nhất trong luận án, bởi theo phần lịch sử vấn đề chúng tôi đã trình bày, thì những vấn đề này được nhiều nhà nghiên cứu đề cập rải rác đây đó, việc nghiên cứu tiếp tục rất cần đến sự sáng tạo Chương 3 mới là chương cơ bản của luận án, chương này đến 76 trang Ở chương này chúng tôi khảo sát QATT trên các phương diện: thể thơ, âm vận, ngôn ngữ

và đã cố gắng vận dụng linh hoạt, phù hợp các thao tác thi pháp Đây cũng là chương

mà người viết có một số đóng góp nhất định trong luận án

Trang 23

Kiệm đã làm công việc này trong suốt mười năm, nhưng Ức Trai thi tập do Trần Khắc

Kiệm sưu tầm, biên tập và đề tựa năm 1480 về sau cũng bị mất

Đến thế kỷ XIX, dưới thời vua Minh Mệnh và vua Tự Đức, các nhà nho Nguyễn Năng Tĩnh, Dương Bá Cung và Ngô Thế Vinh cùng nhau sưu tập tác phẩm của Nguyễn Trãi và cho xuất bản vào năm 1868 với cái tên Ức Trai di tập, gồm 7 quyển, trong đó QATT được in ở quyển cuối cùng

Gần một trăm năm sau, năm 1956, QATT do Trần Văn Giáp và Phạm Trọng Điềm phiên âm và chú giải ra đời Công trình này là một cống hiến lớn đối với việc nghiên cứu và thưởng thức thơ Nôm của Nguyễn Trãi, mặc dù hai tác giả của nó không tránh khỏi những sai sót về phiên âm và chú giải

Năm 1969, tiếp tục công việc của Trần Văn Giáp và Phạm Trọng Điềm, Đào Duy Anh hiệu đính và chú thích QATT

Năm 1987, một tác giả là người Pháp lai Việt, Paul Schneider (tên Việt là Xuân Phúc) - tác giả của cuốn "Từ vựng lịch sử chữ Nôm" (in ở Nice-Pháp), đã dịch QATT sang tiếng Pháp với nhan đề Nguyễn Trãi et son recueil de poèmes en langue nationale (xuất bản tại Nice, 1987) Sách này ngoài 573 trang gồm bản dịch và lời chú thích, còn

in đủ 254 bài thơ nôm, theo bản Phúc Khê 1868 Sách do Paul Schneider làm đi vào

ngữ âm lịch sử, sử dụng rất nhiều tư liệu cổ, nên chú thích được rất nhiều từ ngữ trong QATT; đây là điều mới so với sách của Trần Văn Giáp và Phạm Trọng Điềm hay sách

của Đào Duy Anh Nhưng dù sao, Paul Schneider cũng không phải là người bản ngữ, nên việc lý giải của tác giả hơi lạ, có nhiều chỗ đi quá xa, không tương hợp với văn hóa Việt Nam

Trang 24

Năm 1994 Bùi Văn Nguyên lại phiên âm và chú giải QATT với sách Thơ quốc

âm Nguyễn Trãi Trong luận án của mình chúng tôi sẽ đề cập đến một số chú giải của công trình này

Kế thừa thành tựu của những người đi trước, dựa vào các cứ liệu của ngữ âm và

từ vựng, về chữ Nôm và Hán học, nhóm các tác giả Mai Quốc Liên, Kiều Thu Hoạch, Vương Lộc đã hoàn thành Nguyễn Trãi toàn tập (tân biên, tập III) Công trình này đã

hiệu đính lại một số từ ngữ, một số chú thích trong QATT, đồng thời có văn bản Nôm

in theo bản Phúc Khê, 1868, rất tiện lợi cho việc tra cứu, đối chiếu Trong quá trình làm luận án chúng tôi sẽ đối chiếu bản QATT do Đào Duy Anh hiệu đính và chú thích

với bản QATT được hiệu đính và chú thích bởi nhóm tác giả Mai Quốc Liên, Kiều Thu

Hoạch, Vương Lộc, vừa tham khảo các bản QATT khác của các soạn giả Trần Văn Giáp, Phạm Trọng Điềm, Bùi Văn Nguyên

Như vậy, tính từ 1956 đến nay đã xuất hiện nhiều bản QATT do nhiều soạn giả phiên âm, chú thích; điều đó tạo nên những sai lệch nhau đáng kể về sự đọc và sự hiểu

thơ Nôm Nguyễn Trãi giữa các bản QATT Những sự khác nhau về phiên âm và chú thích thơ quốc âm của Ức Trai như thế đưa lại những hệ lụy gì đối với việc nghiên cứu

và cảm thụ thơ Nôm Nguyễn Trãi?

Cho đến nay đã có 10 ý kiến trao đổi về nguyên tác của QATT, về từ ngữ, về chú

giải.v.v Trước hết, chúng tôi lưu tâm đến sự trùng nhau bộ phận giữa QATT với Bạch Vân quốc ngữ thi tập Theo Bùi Văn Nguyên trong thơ Quốc âm Nguyễn Trãi có 33 bài trùng nhau, ít thì ở 1 câu, nhiều thì cả 8 câu, và nêu ý kiến: "Nguyễn Trãi ở thế kỷ

XV không thể có thơ trùng với Nguyễn Bỉnh Khiêm ở thế kỷ XVI có khả năng là cả

33 bài gọi là trùng nói trên, chính là thơ của Nguyễn Trãi, do người đời sau chép lẫn vào thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm" Nhưng người khác lại cho rằng sự trùng nhau bộ

phận giữa QATT với Bạch Vân quốc ngữ thi tập nói trên cho thấy, thơ Nôm Nguyễn

Bỉnh Khiêm đã kế thừa thơ Nôm Nguyễn Trãi Trong thực tế, có thể xảy ra chuyện Nguyễn Bỉnh Khiêm kế thừa trực tiếp Ức Trai trên 33 bài thơ ở những mức độ khác nhau như ở trên đã mô tả; tuy nhiên, hai ý kiến ấy cho đến nay, chỉ là giả thiết, khi mà chúng ta chưa tìm lại được ức Trai thi tập do Trần Khắc Kiệm sưu tầm, đề tựa và in năm 1480 Và, vì chưa tìm lại được Ức Trai thi tập xuất hiện năm 1480, và vì các bản QATT mà chúng ta hiện có đều dựa vào bản QATT do Nguyễn Năng Tĩnh, Dương Bá

Trang 25

Cung và Ngô Thế Vinh cùng nhau sưu tập và cho xuất bản năm 1868, sau Bạch Vân

quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585), nên nhà nghiên cứu văn học

có quyền đặt giả thiết ngược lại với ý kiến của Bùi Văn Nguyên; có thể có sự lẫn lộn

giữa thơ Nôm của Nguyễn Trãi và thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm, hiện nay chưa thể nói đến dấu vết ảnh hưởng trực tiếp của thơ quốc âm Ức Trai đến thơ quốc âm của

Bạch Vân cư sĩ Những ý kiến trái ngược nhau như thế là song song tồn tại, không ý

kiến nào có thể tồn tại như một chân lý tuyệt đối, lấn lướt những ý kiến khác

Cách sưu tầm văn học của ông cha ta và nghề in Việt Nam trong thời trung đại không cho phép chúng ta ngày nay đủ dũng cảm để khẳng định rằng 254 bài thơ Nôm trong QATT do Nguyễn Năng Tĩnh, Dương Bá Cung và Ngô Thế Vinh sưu tập và xuất

bản năm 1868, tất cả những bài thơ Nôm ấy, đích thực là của Nguyễn Trãi; do đó, 254 bài thơ Nôm trong các bản QATT đều dựa vào bản Bối Khê 1868 xuất hiện từ 1956 đến nay cũng không thể coi tất cả là do Ức Trai sáng tác

Để giải tỏa sự bế tắc về vấn đề xác định những bài thơ nào trong QATT mà chúng ta hiện có là của Nguyễn Trãi cần phải làm gì?

Nguyễn Tài Cẩn trong bài viết: "Thử phân định thơ Nôm Nguyễn Trãi và thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm" đã xác định: Muốn giải quyết vấn đề tác giả của những bài

thơ trùng nhau giữa hai tác giả Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm cần có sự hợp tác

liên ngành, vì đây là vấn đề phức tạp, cần phải có sự cân nhắc ở mọi phương diện Sau khi nêu ra một số ví dụ giữa các dị bản, Nguyễn Tài Cẩn cho rằng nên đi vào các chi

tiết cụ thể trong thói quen sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Trãi,

từ việc sử dụng từ, cách kết hợp từ tổ, cách dùng 2, 3 từ liên đới với nhau, hoặc hô ứng

với nhau trong cùng một câu, thói quen bố cục toàn bài của mỗi tác giả Sau khi nêu

ra một số thao tác như vậy, tác giả đi đến kết luận: "Muốn cân nhắc về một nét khu

biệt nào đây phải so sánh với hơn 390 bài thơ còn lại của Nguyễn Bỉnh Khiêm và của

Nguyễn Trãi; muốn cân nhắc về hơn 120 nét khu biệt đã dựng thành danh sách, tính ra

phải đọc gần 5 vạn lượt bài Hơn nữa, trước khi tìm ra được hơn 120 nét khu biệt đó

thì cũng phải khảo sát thăm dò khoảng vài trăm hiện tượng ngôn ngữ, nghĩa là số

lượng lượt bài phải đọc để cân nhắc còn nhân lên gấp đôi gấp ba" [133: 885] (Những

chữ in nghiêng là do chúng tôi muốn nhấn mạnh)

Trang 26

Nêu ra một số nhận định trên để thấy rằng nghiên cứu thi pháp QATT phải có cơ

sở từ những văn bản được xác nhận có giá trị thực lực, loại trừ những văn bản còn tồn nghi do có nhầm lẫn về câu chữ giữa hai tác giả Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm Bùi Văn Nguyên [102] đối chiếu 254 bài thơ Nguyễn Trãi (theo bản phiên âm

của Phạm Trọng Điềm và Trần Văn Giáp) với 178 bài thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm (theo

bản phiên âm của Bùi Văn Nguyên - [102]) thì có 33 bài trùng nhau: 9 bài trùng từ 1 đến 7 câu, 24 bài trùng 8 câu, trừ một số chữ sai biệt không đáng kể

Chúng tôi chọn "Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm" do Đinh Gia Khánh chủ biên (Nxb VH, Hà Nội, 1997) so với QATT ở NTTT (tân biên, tập III) [134] thì thấy có 28 bài trùng nhau như sau:

Trang 27

Chỉ ra 28 bài trùng là để giới hạn phạm vi khảo sát văn bản của luận án – chỉ nghiên cứu 266/254 bài (trư 28 bài vừa chỉ ra)

Ngoài vấn đề văn bản thực lực, còn có vấn đề phiên âm, chú thích, do chữ Nôm được xây dựng từ chữ Hán, dựa trên tiếng Hán đời Đường, mang âm Hán Việt lại cấu

tạo theo nhiều cách, mang nhược điểm của một thứ chữ tượng hình cấu tạo rườm rà,

rắc rối, một chữ có thể đọc theo nhiều cách tùy theo ngữ cảnh , nên đây cũng là yếu

tố tạo nên tình trạng không thống nhất về phiên âm, giải nghĩa, chú thích

Nguyễn Đình Hòa sau khi điểm qua các công trình trong nước cũng như dịch ra

bằng tiếng nước ngoài về QATT cho rằng: "Có được nguyên bản chữ Nôm cùng mấy

bản phiên âm ra quốc ngữ và phiên dịch ra Pháp ngữ, Anh ngữ, những nhà Nôm học tha hồ có dịp thảo luận về thoại này, thoại kia" [133: 584]

Hoài Thanh cũng nói rằng: "Đọc thơ Nôm Nguyễn Trãi, người đọc nhiều khi cứ nơm nớp không biết thơ của Nguyễn Trãi có đúng như vậy không Trong bản chú thích

của mình, Đào Duy Anh chốc chốc lại nói: Chữ Nôm này có lẽ là do chữ đã viết lộn thành, vì vậy chúng tôi nghĩ nên phiên âm câu " [133: 697]

Năm 2000, NTTT (tân biên, tập III) ra đời đã đặc biệt lưu ý đến vấn đề văn bản QATT Nhóm các tác giả nghiên cứu đã xác định: " Nguyễn Trãi toàn tập là công trình khó nhất, vì đó là công trình văn bản học khó nhất trong các công trình văn bản

học Hán Nôm Có người sẽ nói rằng: Đã có người trước làm rồi, thì có gì là khó nữa? Xin thưa: Chính vì đã có người đi trước làm rồi, mình làm mới khó khăn, vì bao nhiêu

vấn đề mà người đi trước để lại, do nhầm lẫn hoặc do phương pháp, mình phải vượt,

phải giải quyết Mà những người đi trước là những bậc đại gia, cho nên những chỗ nào

mà họ để lại cũng là những quan ải hiểm yếu, vượt qua có khi gãy lưng, bạc đầu" [134:

Lời nói đầu]

THI PHÁP QATT.

Văn bản học là một ngành đặc thù Ở Trung Quốc việc nghiên cứu văn bản bắt đầu từ đời Hán, đến đời Thanh thì ngành học này rất phát triển, ở Nga, việc nghiên cứu các văn bản văn học Nga cổ bằng tiếng Slavơ cổ rất phát triển ở thế kỷ XIX và đã có nhiều nhà văn bản học lỗi lạc Ở Việt Nam, với Trần Khắc Kiệm, Hoàng Đức Lương,

Trang 28

Lê Quí Đôn - đời Lê, Bùi Huy Bích, Phan Huy Chú, Dương Bá Cung đời Nguyễn,

việc sưu tầm, giám định các văn bản cổ đã được chú trọng Trong nhiều thập niên gần đây, công tác này đã trở thành một ngành khoa học chuyến biệt Các trung tâm nghiên

cứu văn học và khoa học xã hội đã tập trung các chuyên gia đầu ngành lần lượt giám định lại tác phẩm của các tác gia lớn trong nền văn học quá khứ (Thơ văn Lý - Trần, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du, Cao

Bá Quát ) Trong quá trình khảo cứu, hiệu đính, chú thích, các tác giả đã phần nào trả

lại diện mạo cho các tác phẩm từng chịu số phận "tam sao thất bổn"

Đất nước ta từng vay mượn văn tự (chữ Hán), sáng tạo ra văn tự dựa trên loại văn

tự vay mượn (chữ Nôm), rồi chuyển sang dùng loại văn tự mới (theo hệ chữ Latinh -

chữ quốc ngữ), đất nước ta cũng từng bị quân xâm lược hủy diệt về văn hóa: "Một khi binh lính vào nước Nam, trừ các sách vở và bản in của đạo Phật, đạo Lão thì không thiêu hủy, ngoài ra, hết thảy mọi sách vở văn tự, cho đến những loại ca lý dân gian, hay sách dạy trẻ nhỏ, loại sách có câu thượng đại nhân, khưu ất kỷ một mảnh, một

chữ, đều phải đốt hết Khắp trong nước, phàm những bia do Trung Quốc dựng từ xưa đến nay thì đều gìn giữ cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá hủy tất, một chữ

chớ để còn" [143: 7], nên sự biến động về văn bản là không tránh khỏi

Trong văn bản có vấn đề chân - ngụy, thực - giả Trong nghiên cứu văn bản học,

việc "biện biệt chân ngụy" là một vấn đề rất lớn "Kinh dịch" do ai làm ra, vào đời nào? trong Trang tử những chương "Ngoại thiên" và "Nội thiên", chương nào đích

thực là của Trang tử? Ở nước ta, ai là tác giả đích thực của "Hoàng Lê nhất thống chí",

của "Lê Thánh Tông di thảo"? Ai là dịch giả "Chinh phụ ngâm", Phan Huy ích hay Đoàn Thị Điểm? Và Hồ Xuân Hương, "nàng là ai", nàng là nàng hay là của những Hồ Xuân Hương mượn tên nàng? Và phải chăng nàng Ngọc Hân đã làm nên lời ca bi ai tuyệt diệu "Ai tư vãn" để khóc chồng mình? Trong văn học quá khứ, bản quyền tác giả không được tôn trọng; tác giả không hưởng "nhuận bút"; lại còn bao nhiêu hệ lụy khác, có khi phải bị rơi đầu vì cái gọi là "văn tự ngục" (án văn tự) Trường hợp QATT cũng là một hiện tượng phức tạp về văn bản vì tác phẩm ấy bị thất truyền do họa tru di,

chỉ sau khi được Lê Thánh Tông hạ chiếu rửa oan, khôi phục danh dự và chức tước (1467) mới được sưu tầm lại Sưu tầm lại rồi thất truyền và sưu tầm lại; sự lẫn lộn giữa thơ văn ông với thơ văn người khác là có thể có Chẳng hạn, sự lẫn lộn về một số bài

Trang 29

thơ Nôm của ông với thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiếm, có một số bài thơ chữ Hán còn

phải tồn nghi, (trong tiểu sử, Nguyễn Trãi không hề đi Trung Quốc, mà có một số bài

viết trên đất Trung Quốc được người đời gán cho Nguyễn Trãi)

Ngoài chân - giả, còn có nạn sao chép đi sao chép lại làm biến dạng văn bản, và

người ta hay gọi là "tam sao thất bổn" (ba lần sao chép thì mất bản gốc) Những lỗi

lầm văn bản học trong sao chép văn bản là một vấn đề phức tạp, nó liên quan đến nhiều mối quan hệ Và trong văn bản học, việc đi tìm những bản sao càng nhiều càng

tốt, để đối chiếu và lập ra những "phả hệ" của những bản sao ấy, trên cơ sở đó nghiên

cứu và xác lập lại văn bản gốc - văn bản gần nhất đối với nguyên tác Việc đi tìm

những bản Kiều ở ta càng là một minh chứng cho việc làm đó Tác phẩm của Nguyễn Trãi được truyền đến chúng ta ngày nay chủ yếu là bộ "Ức Trai di tập" (7 quyển, Dương Bá Cung, 1868), nhiều chữ Nôm trong đó đã được viết theo lối viết triều Nguyễn, tuy vẫn còn bảo lưu được vốn từ cổ thời tiếng Việt thế kỉ XV

Một điều ai cũng nhận thấy là khi đọc thơ tiếng Việt của Nguyễn Trãi, chúng ta thường gặp không biết bao nhiêu là từ ngữ cổ Thơ Kiều, thơ Chinh phụ ngâm đối

với ngày nay đã là khó hiểu Nhưng thơ Nguyễn Trãi còn cổ, còn khó hiểu hơn một

bậc Nhiều từ ngày nay không còn được sử dụng trong tiếng Việt, nhiều từ chỉ còn trong các lớp từ địa phương, nhiều từ phải vận dụng ngữ học so sánh mới tìm ra nét

nghĩa Người ta nói đến "bể dâu lịch sử", ở đây ta có thể nói đến "bể dâu cửa từ ngữ"

Đọc thơ của Nguyễn Trãi mà không có những chú thích, lý giải thì nhiều khi đành bó tay

Đề tài của luận án là nghiên cứu thi pháp của 226 bài thơ nôm Nguyễn Trãi - tức

là nghiên cứu một cách có hệ thống hình thức nghệ thuật của tập thơ trong tính thống

nhất giữa hình thức và nội dung Do vậy, chúng tôi không đi vào vấn đề văn bản học,

mà dựa trên thành quả nghiên cứu văn bản học của nhiều nhà nghiên cứu, để nêu lên

một số vấn đề thuộc về phạm trù văn bản có liên quan đến thi pháp Điều này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tìm hiểu thơ ông - bởi vì nếu không chú ý đến đặc điểm này chúng ta sẽ tiếp cận với thơ Nguyễn Trãi như tiếp cận đối với các tác gia thế

kỷ sau, khi mà tiếng Việt đã trưởng thành và phát triển, thì như thế chúng ta sẽ khó lòng hiểu cho hết vẻ đẹp, ý nghĩa của văn chương Ức Trai: "Ức Trai lòng dạ văn chương sáng" (Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo - Lê Thánh Tông)

Trang 30

Hiểu biết về văn bản QATT ở phương diện thi học là tiền đề cho luận án đi đúng hướng, tức là khám phá hết cái phần tinh tế của câu thơ, bài thơ Cách tiếp cận của chúng tôi là bắt đầu từ một số tiếng cổ (những tiếng này thường có nhiều cách chú giải khác nhau) trên cơ sở xác nhận nghĩa cơ bản của từ đó, đưa nó trở về văn cảnh của câu thơ, của nhiều bài thơ có dùng tiếng đó, rồi xem xét trên phương diện ngữ âm, niêm

luật của bài thơ, để thấy cái hay của câu thơ - đơn vị cơ bản của bài thơ Chúng tôi cũng lưu ý đến một số chú thích, chú giải có ý nghĩa ở phương diện thi học

pháp của câu thơ, bài thơ

Đọc bài 2 (Ngôn chí), chúng tôi thấy có một số từ cổ cách phiên âm không giống nhau giữa các văn bản QATT Ở câu thơ thứ nhất:

rằng: ba từ này khó hiểu, thử hiểu nghĩa: "Nguyễn Trãi gọi bạn cũ đời Thương Chu thì

chỉ có thể là Y Doãn và Chu Công tự xét mình chưa có thể so sánh với Y Doãn và Chu Công được Nguyễn Trãi khiêm tốn tự cho mình "chưa sánh đôi" được với bạn đời xưa Vậy "các chư đôi" nghĩa là: đều là chưa sánh đôi với được." [132: 704] Hiểu

cả câu theo cách trên là: "Thương Chu bạn cũ đều là chưa sánh đôi với được"

Bùi Văn Nguyên lại giải thích theo kiểu khác: "Bạn cũ của Nguyễn Trãi đời Hồ, lúc này có người làm việc với nhà Minh, như ngày xưa bề tôi nhà Thương có kẻ chạy theo nhà Chu, Nguyễn Trãi nói: "các chư đôi" là nói không thể theo bạn cũ, kiểu bợ đỡ

giặc Minh, mà phải đi ở ẩn chờ thời; đó là tiếp câu thừa đề, câu thứ hai" [102: 33] Hai cách giải thích này đưa đến cách hiểu câu thơ trong mối quan hệ với bài thơ

có khác nhau Nếu theo cách giải thích của Đào Duy Anh thì ý của câu thơ thứ nhất không lôgic với câu thơ thứ hai, vì luật thơ thường có sự chuyển tiếp giữa câu phá đề

và câu thừa đề "Thương Chu bạn cũ đều là chưa sánh đôi với được" sao lại an tâm mà

Trang 31

"Xá lánh thân nhàn thuở việc rồi" - "thuở việc rồi" (rồi: xong, hoàn thành); khi việc đã xong, đã hoàn thành

Theo cách giải thích của Bùi Văn Nguyên thì ý thơ đi quá xa với nội dung của cả bài, Nguyễn Trãi đã từng bị giam lỏng ở thành Đông Quan, đã từng ở ẩn chờ thời, nhưng lại rơi vào trạng thái bức xúc, dở dang: "Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải" (Thủ vĩ ngâm), hay "Quân thân chưa báo lòng canh cánh" (Ngôn chí, 8) Vả lại, "ở ẩn

chờ thời" sao lại "Xá lánh thân nhàn thuở việc rồi" và "cởi tục", "tìm thanh" khi đã

thấm thía "mùi tục lụy"

Trong NTTT (tân biên) lại phiên là: "gác chưa đôi": gác lại chưa tranh cãi, từ

"đôi" được hiểu là đôi chối, đôi co, và hiểu cả câu: Hãy gác lại chưa tranh cãi về

những người bạn hiền thần giúp dựng nghiệp Thương Chu Đây là kiểu ẩn dụ để biểu

thị thái độ không đồng tình của tác giả với cách "xử lý" của Lê Lợi với các hiền thần

Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, và kể cả với Nguyễn Trãi Trong bài "Oan thán", Nguyễn Trãi có viết: "Hư danh thực họa, thù kham tiếu, Chúng báng cô trung, tuyệt

khả liên" (Danh hư họa thực, buồn cười nhỉ, Chúng nịnh mình trung, đáng xót thôi - Nguyễn Khuê dịch)

Biết gác lại chưa bàn về những người bạn cũ giúp dựng nghiệp Thương Chu thì

mới có sự thanh thản khi "Xá lánh thân nhàn thuở việc rồi", và có cốt cách của một ẩn

sĩ lánh đời:

" Cởi tục trà thường pha nước tuyết Tìm thanh trong vắt tận chè mai" [134]

Phép đối ở hai câu thơ này chưa chuẩn, bởi "trà" là danh từ không đối được với

"trong" là tính từ, nên có ý kiến phiên chữ "trà thường" là: "chung vét" - "chung" là cái chén nhỏ: chung trà "Chung vét tận": uống cạn chung

Chữ " " cách phiên âm của các tác giả cũng không đồng nhất Trần Văn Giáp

và Bùi Văn Nguyên đều phiên là "tiễn", Bùi Văn Nguyên giải thích: "Tiễn": thích hợp, thích ứng; Đào Duy Anh lại phiên là "Tịn" và giải thích: tịn: tức là hết, hết chè hồng mai nên phải uống với nước tuyết NTTT (tân biên) lại phiên là "Tiện": sẵn có hoặc

muốn - "Đi tìm cái thanh cao thì sẵn có chén chè hồng mai (theo ý muốn) [134: 639]

Trang 32

Câu thơ thứ 7 nên đọc là: "Bui có một niềm chăng nỡ trễ" thì chúng ta mới hiểu đúng tâm sự của Ức Trai Vì một nguyên nhân nào đó, mà phải gác mọi chuyện lại, lánh thân nhàn với lối sống ẩn sĩ, nhưng đạo quân thần thì không thể trễ nãi chút nào,

mà luôn canh cánh trong lòng Nguyễn Trãi Người xưa khi dã "lánh đục tìm trong" thường quay lưng với thế sự, nhưng Nguyễn Trãi tuy nói đến "nhàn" mà "quân thân tại

niệm thốn tâm đan" Tuy có làm bạn với thiên nhiên, cây cỏ để khuây khỏa nỗi lòng, nhưng tấm lòng đau đời, lo nước vẫn "Đêm ngày cuồn cuộn nước chầu đông"

Chỉ trong một bài thơ 8 câu (Ngôn chí, 2) có biết bao nhiêu điều "hệ lụy" về cách phiên âm và giải nghĩa về các từ cổ, thì trong suốt 226 bài thơ trong QATT còn biết bao nhiêu vấn đề cho người nghiên cứu quan tâm ? Đưa ra một vài từ cổ và lưu ý đến

sự phiên âm, giải nghĩa các từ cổ đó để thấy rằng: nghiên cứu thi pháp của cả tập thơ

là nghiên cứu thi pháp trên văn bản thực lực của tập thơ đó

Có hai t ừ " " trong bài 207 là sự thú vị cho chúng tôi khi tra cứu vào sự chú thích của các tác giả Đào Duy Anh, Paul Schneider và của nhóm tác giả trong

NTTT (tân biên) Đào Duy Anh và Paul Schneider phiên là: "đon dùng" Paul

Schneider còn dịch nghĩa cả câu: "Fleurs et lune se hâtent de jouir des instants propices" (Hoa và trăng vội vã hưởng thụ những giờ khắc tốt lành) Ở phần "tự điển

tiếng cổ" (Glossaire) được giải nghĩa "đon" là se hâter de, s'empresser de (vội vàng,

hối hả, sốt sắng)

Như vậy, theo cách hiểu của Paul Schneider là "trăng và hoa" - khách thể thẩm

mĩ, "vội vã hưởng thụ những khoảnh khắc tốt lành" chứ ở đây không liên quan đến chủ

thể thẩm mĩ Mà xưa nay, thiên nhiên là đối tượng (khách thể) thẩm mĩ của con người,

và con người có mối quan hệ với ngoại giới

"NTTT" (tân biên) lại phiên là "ron ròng" và tra vào từ điển Génibrel thì thấy từ

"ron" có nghĩa là "ramesser", réunir (góp nhặt lại, họp lại) Còn "ròng" ngoài nghĩa tinh chất (vàng ròng, bạc ròng ) còn có nghĩa "ròng rã, liên tục" Cả câu thơ được

hiểu: "Cảnh hoa nguyệt dồn lại ròng rã được bao khoảnh khắc tốt lành" - cảnh đẹp của

trăng và hoa chẳng được là bao (con người có ý thức về điều đó không ?)

Cách phiên âm và chú giải này vừa phù hợp với từ cổ, vừa lôgic với ý tứ của cả bài Do "Thương cảnh vì nhân cảnh hữu tình", nên "Xuân ba tháng thời thu ba tháng" - con số "ba" lặp lại hai lần như nhấn mạnh khoảnh khắc ngắn ngủi của thời gian và

Trang 33

cũng vì thế mà "hoa nguyệt" - khách thể thẩm mĩ của con người cũng tồn tại ngắn ngủi

biết bao - "Hoa nguyệt ron ròng mấy phút lành" Câu thơ mang tính triết lý về các

phạm trù hữu hạn và vô hạn, cũng như con người từng ngậm ngùi trước "ngày vui

ngắn chẳng tày gang"

Thi nhân, nghệ sĩ là người ý thức về cái đẹp, đưa cái đẹp đến cho mọi người, và trong ý nghĩa đó còn nhắc nhở mọi người đừng thơ ơ, vô tình với cái đẹp, vì "hoa nguyệt ron ròng mấy phút lành"

Trong QATT có một số tiếng ghi bằng hai mã chữ, nên hiểu nó như thế nào?

Bài 109 có câu thơ: "La ngàn non nước một thằng hề"

Từ "La ngàn" được Trần Văn Giáp, Đào duy Anh phiên là "lê la", "La làn non

nước một thằng hề" - Lê la non nước một thằng hề Là một ẩn sĩ sống nhàn: "Thong

thả dầu ta ngoài thế giới", sao lại "lê la" (dù "lê la" - nghĩa cổ có khác nghĩa hiện đại thì cách chú này cũng là suy diễn và tiếng "la" trở thành một từ láy "lê la"), chú như

vậy có làm mất đi phong thái của một bậc quân tử như Nguyễn Trãi hay không ?

Từ "La ngàn" ở bài 109 này có âm tiết "la" giống với tiếng "la đá" trong các bài 21: "Dấu người đi la đá mòn", hoặc bài 54: "Cối cây la đá lấy làm nhà", hoặc bài 87:

"La đá hay mòn nghĩa chẳng mòn"

NTTT (tân biên) dựa vào một số cứ liệu ngữ âm học để giải thích: "La ngàn non nước" là "Thiên sơn vạn thủy", nếu hiểu "La ngàn non nước" là "thiên sơn vạn thủy", thì lột tả được thần thái "tiên phong đạo cốt" của Nguyễn Trãi, khi Nguyễn Trãi đã

chọn cách sống: "Mừng cùng vượn hạc quen lòng thắm", thì đi cùng "thiên sơn vạn

thủy" với "một thằng hề" là phù hợp (chứ sao lại "lê la"?)

Và điều thú vị là âm tiết "la" nhiều khi lại mang nghĩa, khi nó nằm trong cặp câu đối ngẫu, ví dụ:

"Chĩnh vàng chẳng tiếc danh thì tiếc,

La đá hay mòn nghĩa chẳng mòn"

"Đá" đối với "vàng", "chính" (một danh từ, chỉ về một vật dụng - "Chuông khánh còn chẳng ăn ai, Nữa là mảnh chĩnh ném ngoài bờ tre" - "Chuyện Tấm Cám") lại đối được với "la", và "la" được xem như là một từ có mang nghĩa

Trang 34

Tương tự như vậy, có trường hợp "Bà ngựa" ( ) trong bài "Thủ vĩ ngâm"

"Ngựa" được ghi bằng hai mã chữ (vốn là cách ghi từ cổ ma-gơ, hiện đang còn thấy trong các ngôn ngữ vùng khu bốn cũ, như tiếng người Patakkan chẳng hạn) Vì không

nắm được luật đó, nên mới có chuyện phiên là "Bầy ngựa" (Trần Văn Giáp, Paul Schneider), "Ng ựa cái" (Bùi Văn Nguyên)

"Bà ngựa" là thói quen tự nhiên trong ngôn ngữ (người ta nói "bà ngựa" cũng như nói "ông voi") "Bà" là âm tố mờ không có nghĩa Thế nhưng, ở trong thế đối xứng

của câu thơ 3, 4 trong bài "Thủ vĩ ngâm" thì "bà ngựa" được xem như tiểu đối được

với "con đòi", nên cũng có thể hiểu cả cách thô thiển "bà" cũng đồng đẳng như "con"

"Con đòi trốn, dường ai quyến,

Bà ngựa gầy, thiếu kẻ chăn."

Thế nhưng, ở QATT còn có hiện tượng hai âm tiết được ghi bằng một mã chữ:

"Khách đến vườn còn hoa lác, Thơ nên cửa thấy nguyệt vào" (Bài 35)

Tiếng "lác" nếu hiểu nghĩa là "lác đác" thì nghĩa của từ này cũng phù hợp với bài 164:

"Giậu cúc thu vàng nảy lác Sân mai tuyết bạc che đầu"

Giậu cúc mùa thu nảy lác đác màu vàng Sân mai (mùa đông) tuyết bạc che đầu

Ý của hai câu thơ cân đối với vẻ đẹp cổ điển

" " có thể phiên là "lác" hoặc "rác", từ điển Génibrel có ghi:

" " lác: dịch "lác đác" là rare (hiếm, còn ít) và dịch "lác rác" cũng là rare

Paul Schneider còn đề xuất thêm một cách đọc khác là "lạc" (rụng) thì có lẽ

không phù h ợp Lí do, tự dạng của "Lác" ) khác tự dạng của "lạc" ( ); QATT có

bài 105 dùng từ "Rụng" - "Ngắm hoa tàn, xem ngọc rụng" Ý thơ "khách đến, hoa

rụng" đã từng có trong thơ Đỗ Phủ (trong bài "Khách chí"), và thơ cổ điển thường có

xu hướng "ôn nhu đôn hậu", thì không biết câu thơ "Khách đến vườn còn hoa lạc" có đúng với ý của Nguyễn Trãi không ?

Ở trường hợp khác, cách giải thích một từ có trong hai bài lại không giống nhau

Ví dụ: Tiếng "Ốc" ở bài 91 được hiểu là: "Tưởng nghĩ", theo Paul Schneider: "Ngõ

Trang 35

ốc": tưởng (S'imaginer), nghĩ (penser) - "Tưởng nghĩ khiêm nhường là mĩ đức" [134: 846] Nhưng ở bài 195 lại chú là "Gọi" [134: 1076] Cả hai cách chú thích lại phù hợp

với ý tứ của mỗi bài thơ

Dẫn chứng thêm như vậy để thấy cái khó của văn bản QATT, nếu không đọc kỹ, không hiểu rõ nghĩa của một số từ cổ trong một số bài thì các thao tác còn lại chỉ là vô ích

Đưa một từ cổ về đúng vị trí nguyên thủy của nó là phải có cái lý của sự tồn tại

Một từ tự nó tồn tại độc lập khi nó là ngôn ngữ giao tiếp, nhưng ở câu thơ, bài thơ nó

phải chịu các mối quan hệ về ý, về tứ, về từ loại; nó còn mang tính hệ thống khi từ đó được sử dụng nhiều lần trong cùng một tập thơ và cùng một tác giả Đọc đúng một từ,

giải thích đúng một từ là mục đích của các nhà văn bản học Phân tích được cái đúng, cái hay, cái chuẩn là nhiệm vụ của người nghiên cứu văn chương Hai công việc này cùng song song tồn tại

Từ " " trong các bài 111, 113, 116, 124 từ này nên chọn cách phiên âm, chú thích nào để thấy được sự thống nhất của Nguyễn Trãi trong sử dụng ngôn ngữ Có lẽ nên phiên âm và chú thích theo cách của NTTT (tân biên): "biêu" (theo "Tự điển de

Béhaine) và nghĩa là "ngọn cờ, nêu danh, ngọn nêu, tiêu chí " Xác định "Biêu" là

một tiếng cổ khoảng thế kỷ XV, XVI, XVII (Sách "Truyền kỳ mạn lục" chữ "đệ" (khoa đệ: thứ bậc trong thi cử) được dịch sang Nôm là "biêu" như "Quả lĩnh tiến sĩ đệ" dịch

là "ắt lãnh biêu tiến sĩ", "Trạc tiến sĩ đệ" dịch là "tót được biêu tiến sĩ")

Và còn bổ sung nghĩa của "biêu", do "biêu" thông với "tiêu" ( ) nên còn hàm các nghĩa "tiêu chuẩn, phù hiệu, phong độ, cách điệu, biểu dương, chuẩn mực, nêu danh, khuôn mẫu"

Đưa các nghĩa trên vào bài 111, 113, 116, 124 đều lọn nghĩa

Ví dụ: Bài 111; "Một lòng trung hiếu làm biêu cả" - "Một lòng trung hiếu làm tiêu chí lớn" Trung hiếu là tiêu chí lớn trong suốt cuộc đời của Nguyễn Trãi - khi được

thời cũng như khi thất thế, Nguyễn Trãi bao giờ cũng lòng tự dặn lòng: "Bui có một

niềm trung hiếu cũ, Mài chăng khuyết nhuộm chăng đen" Hay ở bài 124: "Lấy biêu phú quí đổi biêu hèn" Người quân tử biết "khiêm nhường, trung hiếu" là đức tính tốt đẹp thì cũng sẵn sàng từ bỏ "phú quí" để "lánh đục tìm trong"

Trang 36

Nhiều khi một từ cổ xuất hiện trong nhiều bài, nhưng khi phiên và chú thích lại chưa thống nhất, nên ở bài này thì lọn nghĩa, bài khác thì chưa được

Chữ Nôm thế kỷ XV vừa khó đọc, vừa khó hiểu so với ngôn ngữ hiện đại, thơ Nôm Nguyễn Trãi càng khó hơn, bởi văn bản QATT đã hơn cả "ba lần" (tam sao) bị chép đi chép lại, cho nên có từ tưởng là bình thường, mà lại thu hút sự chú ý của các nhà làm văn bản QATT: Trần Văn Giáp, Phạm Trọng Điềm, Đào Duy Anh, Vũ Văn Kính, Bùi Văn Nguyên, Paul Schneider, nhóm làm "NTTT" (tân biên), kể cả sự chú ý

của các nhà nghiên cứu quan tâm đến văn bản QATT: Đỗ Văn Hỷ, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Quảng Tuân, Cao Xuân Hạo, Trần Xuân Ngọc Lan, Hoàng Xuân Hãn, Trần

Đình Hòa, Nguyễn Khắc Kham "Song viết" ( ) hay "Song nh ật" ( ) ? Hai từ này không chỉ xuất hiện trong QATT trong các bài 10, 13, 18, 24, 49, 58, 156, 164; mà còn xuất hiện trong cả "Hồng Đức quốc âm thi tập", "Bạch vân quốc ngữ thi"

Nguyễn Quảng Tuân và Nguyễn Khắc Kham đều phiên là "song nhật" với nghĩa ngày chẵn, ngày của các quan được nghỉ, không phải vào chầu vua nên được nhàn nhã, thong thả Với nghĩa đó, thử đưa vào câu thơ "Con cháu chớ hiềm song nhật ngặt" thì

đã thấy ngay là không ổn

"Song vi ết": mỗi người phiên âm hai chữ này đều có cách giải thích riêng của

mình: "th ật là" (Hoàng Xuân Hãn), "gia tài, của thừa kế, di sản" (Paul Schneider);

"rông vát": phiêu lãng b ồng bềnh, ngao du nhàn tản, sống cuộc sống lang bạt, nay đây mai đó (Nguyễn Tài cẩn) Đào Duy Anh đề ra một giải pháp là chọn những từ ngữ

tương đương để thay thế vào các bài cho lọn nghĩa Với tất cả các cách chú giải trên,

chỉ có cách của Paul Schneider là có thể lọn nghĩa cho các bài: 10, 13, 18, 24, 49, 143,

156, 164, nhưng đến bài 58 lại bị vướng, và ở bài 58 lấy nghĩa giải thích của Nguyễn Tài Cẩn thì phù hợp

Thật đúng là "Xem như thế thì thấy chữ "song viết" là một chữ vô nghĩa mà nó

có cái vận mệnh lạ lùng đã cho nó một sức hấp dẫn đặc biệt, khiến người ta trong khi chép lại tập thơ Quốc âm của nguyễn Trãi, hễ gặp chữ nào khó hiểu mà có tự dạng ít nhiều tương tự với nó thì người ta dùng nó để giải quyết" (Đào Duy Anh)

Và chừng nào chưa có thêm các chứng cứ có hệ thống trên các sách Nôm cổ Việt Nam thế kỷ XV, XVI, XVII thì "song viết" vẫn còn đó, chưa xong

Trang 37

1.2.2 Lưu ý đến một số chú thích, giải nghĩa có liên quan đến điển:

Dụng điển là thi pháp của thi ca cổ điển, "gợi cổ hiểu kim" - câu thơ càng gọn, càng kiệm lời, ý thơ càng sáng càng sâu sắc

Nguyễn Trãi thì vừa "bác cổ", vừa "thông kim", vừa là nhà nho, vừa mang tư tưởng Phật giáo, Đạo giáo, vừa dùng ngôn ngữ văn chương bác học, vừa vận dụng lời

ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân, nên giải nghĩa các điển trong QATT đòi hỏi một

sự liên hệ sâu xa về các loại kiến thức

Dùng điển là nghệ thuật của người sáng tác văn chương, người làm văn bản học

giải mã được điển thì khác nào "Bá Nha gặp Tử Kỳ", và người đọc như "đốn ngộ" trước những câu thơ giản dị mà sâu sắc, ý vị

Ở bài 41, có hai câu 7, 8:

"Vương Chất tình cờ ta ướm hỏi,

thấy tiên đâu"

" " Paul Schneider phiên là "Rìu b ủi bủi" và chú là: "cán rìu đã mục nát

thành bụi" (Manche de cognee en poussìere) Cách phiên và chú này phù hợp với điển

"Vương Chất: người đời Tấn vào núi đốn củi, thấy hai đứa trẻ đang ngồi đánh cờ Chất

bỏ rìu đứng xem Khi xong ván cờ, Chất lấy rìu để về thì cán rìu đã mục nát về đến nhà thì đã mấy trăm năm rồi, Chất lại trở vào núi rồi thành tiên"

Nhóm làm "NTTT" (tân biên) lại phiên là: "rêu bủi bủi", nghĩa là: rêu xanh đã

thành cát bụi Hai câu 7, 8 mượn ý ở bài "Tái đáo Thiên Thai của Tào Đường" "Tái đáo Thiên Thai phỏng ngọc Chân, Thương đài bạch thạch dĩ thành trần" (Lại đến Thiên Thai hỏi nàng Ngọc Chân thì rêu xanh đã trắng thành cát bụi)

"Rìu bủi bủi" hay "rêu bủi bủi" thì cũng đều là lẽ vô thường của cuộc đời Dù có lánh khỏi bụi trần, thoát tục tìm tiên thì "rêu xanh đá trắng đã thành cát bụi" hay "cán rìu đã mục nát" nào có "thấy tiên đâu" ?

Nếu phiên là "Lèo phơi phới" (lèo buồm thuyền đi xa tắp - Trần Văn Giáp); "rêu

phơi phới: chỉ thấy cửa động rêu xanh phơi phới" (Đào Duy Anh); hay "diều phơi

phới" (diều giấy bay phơi phới - Bùi Văn Nguyên) thì đều chưa thấy hết cách dụng điển sâu sắc của Nguyễn Trãi

Trang 38

Bài 150 có câu thơ: "Hột cải tình cờ được mũi kim", xưa nay, vẫn chú rằng: Chữ Hán có câu: "Từ thạch dẫn châm, hổ phách thập giới"; nghĩa là "Nam châm thì hút chiếc kim, hổ phách thì hút hột cải", ý này thường dùng để ví tính tình hợp nhau, tình nghĩa gắn bó - ý nói: do duyên phận mà tình cờ gặp nhau

"Đại Niết bàn kinh" có điển: "giới tử đầu châm": "ném hạt cải lên chín tầng trời

mà đáp đúng mũi kim" - ý nói sự kì diệu của duyên phận

Câu thơ: "Hột cải tình cờ được mũi kim" chính là xuất phát từ điển: "giới tử đầu

châm" Truyện Kiều cũng có câu: "Cũng là phận cải duyên kim"

Giải được đúng điển thì câu thơ tự nhiên, sáng tỏ và có ý vị thâm trầm của triết

học

Ngoài việc vận dụng các điển về Phật, về Nho, về Đạo, về Thương, Chu, Phạm Lãi, Trương Lương, Đào Tiềm "Vua nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn" Nguyễn Trãi còn vận dụng rất nhiều lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân (từ trong ca dao,

tục ngữ ) nên câu thơ, ý thơ thường giản dị mà sâu sắc

Câu thơ "Kìa thừng nọ dai nào có đứt" (Bài 174), hay "Dợ nọ có dai nào có đứt" (Bài 176) chính là xuất phát từ cách nói dân gian: "kia thẳng nọ dùi", hay: "Mình dùi

anh thẳng mình ơi, Mình dùi anh thẳng cả đời yêu nhau"

Bi kịch của cuộc đời Nguyễn Trãi là vậy, vẫn biết là "kia thẳng nọ đùi", vẫn biết

là "Thương Chu bạn cũ gác chưa đôi", và đã "Chỉn xá lui mà thủ phận", thế nhưng nhiệt tâm yêu nước thương dân đêm ngày cuồn cuộn đã kéo Nguyễn Trãi khỏi chốn

"lâm tuyền" và sung sướng viết "Biểu tạ ơn", để rồi phải chịu cái chết thảm khốc

Về việc chú giải còn có rất nhiều vấn đề khác nữa, chúng tôi tin rằng, ngoài chú

giải đã có trong sách, người đọc còn vận dụng kinh nghiệm, kiến thức của mình để liên

hệ đến ý tứ sâu xa của điển, đó là qui luật của quá trình tiếp nhận văn chương

Theo Trần Ngọc Vương: "Nhưng đứng trước Quốc âm thi tập, chúng ta còn phải hoang mang nhiều chỗ, vì nhiều lẽ Trước hết, đó là công tác văn bản Các chuyên gia Hán Nôm còn chưa thống nhất về việc phiên âm ở nhiều từ ngữ Việc xác định ngữ nghĩa của Quốc âm thi tập đúng là một khoảng rộng rãi cho nhiều sai lầm chủ quan được phép xuất hiện Liệu chúng ta có "đồ chừng" tư tưởng tình cảm của Nguyễn Trãi

đi quá nhiều không, bởi ở những nhân vật như vậy, "sai một ly" là chệch "đi một dặm",

mà thời gian và biến cố đã quánh lại thành một lần võ quá rắn? " [133: 738]

Trang 39

Từ ý kiến trên ta thấy việc phiên âm, chú giải là rất phức tạp Phức tạp từ phương

diện ngữ âm lịch sử (tiếng Việt cách ta 5 thế kỷ), phức tạp từ phương diện hệ thống (một từ có trong nhiều bài nhiều khi nghĩa chưa thống nhất); phức tạp từ phương diện

biến âm, phương ngữ (biến phụ âm đầu, lẫn lộn phương ngữ hiện nay và từ cổ ) và sự

rắc rối xuất phát từ chỗ một từ tự nó không tồn tại độc lập mà nó phải nằm trong cấu trúc câu thơ, bài thơ - tức là liên quan đến niêm luật của bài thơ (đặc biệt khi từ đó

nằm trong câu ở vị trí đối ngẫu).v.v và v.v

Chưa kể, QATT có cái khó của một văn bản đã từng bị thất lạc, rồi tìm kiếm, tìm

kiếm rồi thất lạc, rồi sao đi chép lại, rồi nét mờ chữ không rõ, rồi suy đoán, rồi tự ghi theo ý mình Còn thêm, người làm thơ như Nguyễn Trãi chắc chắn khi dùng từ phải

"thôi xao" biết bao nhiêu lần, nên người phiên nó, chú giải nó cũng phải "thôi xao" để

may ra giữ lại được giá trị nguyên thủy của một từ, một câu, và lôgic với cả bài

Và chúng tôi, sau khi đi vào khảo cứu một số từ cổ, một số điển cố, chúng tôi

thấy rằng, việc hiểu ngôn ngữ QATT - tức là hiểu đúng các từ cổ, các điển cố là đã làm cho câu thơ được hiểu đúng, được trở về với chính nó trong cái vẻ thâm trầm sâu sắc

của ngôn từ chữ nghĩa

Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên của văn chương, ngôn ngữ QATT vừa là sự thú vị,

vừa là sự hấp dẫn và cũng vừa là sự thách thức đối với chúng tôi Hiểu đúng một chữ,

hiểu đúng một câu thơ, hiểu đúng một bài thơ là đã làm cho văn bản đó trở nên rõ ràng, mạch lạc, tinh tế

Nhận thức vấn đề như vậy, nên chúng tôi đi vào "Một số vấn đề về văn bản QATT" trước khi đi vào nghiên cứu thi pháp QATT ở các phương diện quan niệm nghệ thuật về con người, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, ngôn ngữ, thể loại,

nhịp điệu tức là nghiên cứu sự thống nhất giữa hình thức và nội dung trong QATT

Trang 40

Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỔNG QUÁT VỀ THI PHÁP THƠ

TRÃI.

2.1.1 Thơ tiếng Việt của Nguyễn Trãi, là "hồn Đại Việt - giọng Hàn Thuyên", là thơ nôm - là "nôm na" tiếng mẹ - tiếng của ruộng đồng, ca dao, tục ngữ, của "bè rau

muống" quê nhà

Vậy thì đầu tiên nó phân biệt với thơ chữ Hán cũng của cùng tác giả, ở đây có

một hiện tượng song đôi thú vị: tất cả là thơ, là đứa con tinh thần của một con người,

một tâm hồn, nhưng tồn tại trong hai thứ ngữ khác nhau Nó vừa là đồng nhất, vừa khu

biệt

Hiện chúng ta còn 105 [134] bài thơ chữ Hán, không kể các bài phú, bài cáo -

một thứ văn xuôi có nhịp (prose rythmée), có thể xem như một thứ thơ văn xuôi

Sự phân biệt đầu tiên, dễ thấy nhất là một đằng làm bằng tiếng Hán cổ - thứ chữ

của sách vở kinh truyện có đầu tiên trên "giáp cốt văn tự" đời Thương đời Chu và sau

đó là của Tứ thư, Ngũ Kinh, Chư tử, Hán Đường, Tống Nguyên Người Việt tiếp

nhận chữ Hán có thể từ 3 thế kỷ trước Công nguyên lúc Triệu Đà chống nhà Hán và

thống trị cả vùng đất trên lãnh thổ ta Ông cha ta học chữ Hán suốt trong hơn một nghìn năm đó, có người đi thi, làm quan ở Trường an, để lại cả những tấc phẩm thơ văn Sang đời Lý, đời Trần, nhất là đời Trần, Hán học cực thịnh và Nguyễn Trãi chính

là đứa con tinh thần của nền Hán học cực thịnh đó: lên 6 tuổi, ông đã yêu sách: "Lục

tuế nhi đồng phả ái thư" (thơ Nguyễn Phi Khanh) và về sau ông là thầy dạy Hán học:

"Dạy láng giềng mấy sĩ nho" (bài 15), "Chẳng tài đâu xứng chức tiên sinh" (bài 7) và hai mươi tuổi ông đỗ thái học sinh (Tiến sĩ), làm quan chấm thi (sơ khảo) kỳ thi Tiến sĩ

chữ Hán Như vậy, Nguyễn Trãi là nhà Hán học khoa bảng, tiêu biểu, thông hiểu toàn

bộ kinh truyện, văn liệu, thi liệu của nền văn hoa Hán Ông đã làm thơ trên thứ chữ đó:

một thứ "tử ngữ", một thứ chữ của "sách vở thánh hiền", được đọc theo âm Tràng an vào thời Đường Tống (cuối thế kỷ 9 - thế kỉ 10)

Tồn tại trong một cái vỏ ngôn ngữ như thế, thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi lại bị

chế ước bởi những thi pháp của thơ Đường luật nói riêng và thơ cổ Trung Hoa nói

Ngày đăng: 19/06/2021, 14:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh, (4/1962), S ự cần thiết chỉnh lí tài liệu trong công tác nghiên cứu và phiên d ịch , Nghiên c ứu lịch sử, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự cần thiết chỉnh lí tài liệu trong công tác nghiên cứu và phiên dịch
2. Đào Duy Anh, (3,4/1970), V ề cách phiên âm và dịch "Quốc âm thi tập" và "Ức Trai thi t ập" , Tác ph ẩm mới, Hà Nội, tr. 99-105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc âm thi tập" và "Ức Trai thi tập
3. Đào Duy Anh, (1975), Ch ữ Nôm nguồn gốc – cấu tạo - diễn biên , Nxb Khoa h ọc xã h ội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chữ Nôm nguồn gốc – cấu tạo - diễn biên
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1975
5. M.Bakhtin, (1979), Nh ững vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki , Nxb Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki
Tác giả: M.Bakhtin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1979
6. M.Bakhtin, (1992), Lý lu ận và thi pháp tiểu thuyết , Ph ạm Vĩnh Cư dịch, Trường vi ết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.Bakhtin
Năm: 1992
7. Thương Chính, (1987), Thơ Đường , Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Đường
Tác giả: Thương Chính
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1987
8. Trương Chính, (16/8/1980), V ề bài "Góc thành Nam" , Văn nghệ số 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góc thành Nam
9. Nguy ễn Tài cẩn (3/1986), Th ử tìm cách xác định tác giả của một số bài thơ hiện chưa rõ là của Nguyễn Trãi hay của Nguyễn Bĩnh Khiêm , T ạp chí văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử tìm cách xác định tác giả của một số bài thơ hiện chưa rõ là của Nguyễn Trãi hay của Nguyễn Bĩnh Khiêm
10. Nguy ễn Tài Cẩn (1985), M ột số vấn đề về chữ nôm , Nxb Đại học và trung học chuyên nghi ệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về chữ nôm
Tác giả: Nguy ễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1985
11. Nguy ễn Huệ Chi, (3/1986), Nguy ễn Trãi nhìn từ một nhân cách lịch sử đến dòng thơ tư duy thế sự . T ạp chí văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trãi nhìn từ một nhân cách lịch sử đến dòng thơ tư duy thế sự
12. Nguy ễn Huệ Chi, (9/1962), Ni ềm thao thức lớn trong thơ Nguyễn Trãi , T ạp chí văn nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niềm thao thức lớn trong thơ Nguyễn Trãi
13. Chuy ện làng văn Việt Nam , (1987), t ập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện làng văn Việt Nam
Tác giả: Chuy ện làng văn Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1987
14. Dương Bá Cung, (1968), Ức Trai di tập . Ngô Th ế Vinh, Nguyễn Năng Tĩnh đề t ựa, 7 quyển, Phúc khê tàng bản, Thư viện khoa học xã hội A. 139, Thư viện Sử h ọc, HV.23, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ức Trai di tập
Tác giả: Dương Bá Cung
Năm: 1968
15. Xuân Di ệu, (1981), Cá c nhà thơ cổ điển Việt Nam , Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà thơ cổ điển Việt Nam
Tác giả: Xuân Di ệu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1981
16. Xuân Di ệu, (5/7/1980), Xúc c ảm thơ trong thơ Nguyễn Trãi , Báo Văn nghệ số 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xúc cảm thơ trong thơ Nguyễn Trãi
17. Xuân Di ệu, (1/3/1980), Hành v ăn trong thơ Nguyễn Trãi , Báo Văn nghệ số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành văn trong thơ Nguyễn Trãi
18. Xuân Di ệu, (2/8/1980), Bài thơ "Ba tiêu" của Nguyễn Trãi , Báo Văn nghệ số 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba tiêu
19. Lê Chí Dũng, (3/1993), V ề quan niệm văn học của Nguyễn Đình Chiểu , Đại học T ổng hợp Hà Nội, Tạp chí khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về quan niệm văn học của Nguyễn Đình Chiểu
20. Tr ần Hữu Duy, (1994), Nho - Ph ật - Đạo và ảnh hưởng của ba học phái đó trong văn học Việt Nam cổ trung đại , Đại học Sư phạm Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho - Phật - Đạo và ảnh hưởng của ba học phái đó trong văn học Việt Nam cổ trung đại
Tác giả: Tr ần Hữu Duy
Năm: 1994
21. Nguy ễn Sĩ Đại, (5/1995), S ự lặp lại của các từ hay nghịch lí giữa chữ và nghĩa trong thơ Đường tứ tuyệt , T ạp chí Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự lặp lại của các từ hay nghịch lí giữa chữ và nghĩa trong thơ Đường tứ tuyệt

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w