Đi vào đề tài luận văn “Tính mạch lạc trong văn bản phóng sự của Vũ Trọng Phụng” người viết muốn góp phần làm rõ thêm khái niệm mạch lạc, đồng thời chỉ ra hướng triển khai mạch lạc mới t
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SAU ĐẠI HỌC -
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
Người hướng dẫn: PGS TS Đỗ Việt Hùng
Thái Nguyên - 2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thiện luận văn này, tôi đã được sự hướng dẫn nhiệt tình của PGS TS Đỗ Việt Hùng – người đã có định hướng ban đầu, những lời nhận xét và chỉ dẫn quý báu trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn Tôi xin bày
tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc nhất tới thầy về những ý kiến quý báu và thời gian mà thầy đã dành cho tôi
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, Viện ngôn ngữ, Viện từ điển & Bách khoa thư
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã hết lòng động viên, tạo điều kiện thuận lợi để tôi có kết quả ngày hôm nay
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2012
Người thực hiện
Triệu Thị Len
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 0
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4.1 Mục đích nghiên cứu 5
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
5.1 Phương pháp phân tích tổng hợp 5
5.2 Phương pháp cấu trúc - hệ thống 5
5.3 Phương pháp miêu tả, so sánh, thống kê 6
5.4 Phương pháp cải biến 6
6 Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN CẦN THIẾT ĐỐI VỚI ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 7
1.1 Mạch lạc 7
1.1.1 Khái niệm mạch lạc văn bản 7
1.1.2 Biểu hiện của mạch lạc 13
1.1.3 Khái niệm sự kiện 19
1.2 Vũ Trọng Phụng và phóng sự Vũ Trọng Phụng 19
1.2.1 Vài nét về Vũ Trọng Phụng 19
1.2.2 Khái niệm Phóng sự 21
1.2.3 Phóng sự của Vũ Trọng Phụng 22
1.3 Một số biểu hiện của mạch lạc trong phóng sự 25
Trang 41.3.1 Mạch lạc biểu hiện qua quan hệ thời gian 25
1.3.2 Mạch lạc biểu hiện qua quan hệ nguyên nhân 26
Chương 2: MẠCH LẠC THEO QUAN HỆ THỜI GIAN 28
2.1 Cấu trúc thời gian trong phóng sự 28
2.2 Căn cứ xác định thời gian và các loại quan hệ thời gian 30
2.2.1 Căn cứ xác định quan hệ thời gian giữa các sự kiện 30
2.2.2 Một số loại quan hệ thời gian 38
2.3 Mạng lưới quan hệ thời gian 49
2.3.1 Mạng lưới quan hệ thời gian đẳng tuyến 49
2.3.2 Mạng lưới quan hệ thời gian đảo tuyến 51
Chương 3: MẠCH LẠC THEO QUAN HỆ NGUYÊN NHÂN 55
3.1 Cấu trúc nguyên nhân trong phóng sự 55
3.2 Căn cứ để xác định quan hệ nguyên nhân và các loại quan hệ nguyên nhân 57
3.2.1 Căn cứ xác định quan hệ nguyên nhân 57
3.2.2 Một số loại quan hệ nguyên nhân 68
3.3 Mạng lưới quan hệ nguyên nhân 75
3.3.1 Mạng lưới quan hệ nguyên nhân kế tiếp 76
3.3.2 Mạng lưới quan hệ nguyên nhân gián cách 79
3.3.3 Mạng lưới quan hệ nhân quả chuỗi 80
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 5đề của văn học đang được soi rọi dưới ánh sáng lý thuyết mới của ngôn ngữ học hiện đại, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết hệ thống, lý thuyết về ngữ pháp văn bản, diễn ngôn
Ngôn ngữ học văn bản là lĩnh vực mới mẻ của ngôn ngữ học hiện đại Nhưng vấn đề cơ bản của nó đã và đang được tập trung nghiên cứu, trong đó
có tính mạch lạc văn bản Mạch lạc là một trong những điều kiện để một tập hợp câu nào đó trở thành một văn bản Lý thuyết về mạch lạc đã được ứng dụng vào nghiên cứu, phân tích văn chương và giúp ích rất nhiều cho sự lĩnh hội văn bản với tư cách là một chỉnh thể nghệ thuật Tuy nhiên, cho đến nay những giải quyết về mạch lạc còn chưa đi đến thống nhất bởi tính phức tạp của khái niệm này
Đối với Văn bản phóng sự, người đọc rất khó nắm bắt được mạch lạc của văn bản Đi vào đề tài luận văn “Tính mạch lạc trong văn bản phóng sự của
Vũ Trọng Phụng” người viết muốn góp phần làm rõ thêm khái niệm mạch lạc, đồng thời chỉ ra hướng triển khai mạch lạc mới trong văn bản nghệ thuật, trên
cơ sở đó đi vào lý giải sự phát triển tư duy của văn học trong những năm gần đây dựa trên các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ nhằm cụ thể hóa khái niệm mạch lạc trong văn bản văn học, vai trò tạo lập tính chỉnh thể văn bản của mạch lạc, cách xác định mạch lạc trong một văn bản nghệ thuật
Trang 6Vì những lý do trên nên chúng tôi lựa chọn đề tài: Tính mạch lạc trong
văn bản phóng sự của Vũ Trọng Phụng để nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ
của mình
2 Lịch sử vấn đề
Mạch lạc văn bản đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và trong nước
Trên thế giới có hàng loạt công trình nghiên cứu về mạch lạc Có thể
kể đến công trình của các tác giả Widdowson, David Numan, Green, Edmoson, … Tuy nhiên, các cách hiểu về mạch lạc cho đến nay vẫn chưa
có sự thống nhất
Theo D Numan, 1993, quan niệm: mạch lạc là cái tầm rộng mà ở đó
các lời nói được tiếp nhận như là có mắc vào nhau, chứ không phải là một tập hợp các câu nói có liên quan với nhau.[dẫn theo 25]
Pegram Press, 1994, quan niệm: mạch lạc là sự nối kết nối có tính chất
lôgic được trình bày trong quá trình triển khai một cốt truyện, một truyện kể… lệ thuộc vào việc tạo ra những sự kiện được nối kết với nhau, hơn là những dây liên hệ thuộc ngôn ngữ (như trong liên kết).[dẫn theo 35]
Galperin cho rằng: “những phương tiện liên kết mạch lạc được xem là
những phương tiện lôgic bởi vì chúng được sắp xếp vào những khái niệm lôgic – triết học, những khái niệm về chuỗi liên tục, về quan hệ thời gian, không gian, nhân quả Những phương tiện giải mã dễ dàng bởi vậy không kìm hãm sự chú ý của người đọc, chỉ trừ những trường hợp muốn hay không vẫn phát hiện ra sự tương ứng giữa các địa diện được kết chuỗi với chính những phương tiện mạch lạc” [dẫn theo;158]
Mạch lạc cũng thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà Việt ngữ học: Diệp Quang Ban, Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thiện Giáp, Hoàng Trọng Phiến… là những người đi đầu trong việc nghiên cứu mạch lạc
Năm 1985 (tái bản vào 05/04/1999), công trình của Trần Ngọc Thêm
[41;76] về “Hệ thống liên kết và văn bản Tiếng Việt” đã được công bố Đây là
Trang 7công trình có giá trị và đánh dấu một bước phát triển mới của ngữ pháp văn bản nói chung, mạch lạc trong văn bản nói riêng
Năm 2001, Nhà xuất bản Giáo dục đã ra mắt bạn đọc công trình của Nguyễn Thị Việt Thanh [36;74] về “Hệ thống kiên kết lời nói tiếng Việt” Đối tượng nghiên cứu là ngôn bản, đề cập khá sâu về những vấn đề khái quát chung liên quan đến liên kết lời nói, tác giả đóng góp chủ yếu của công trình
là nghiên cứu các phương tiện liên kết trên ngữ liệu lời nói, tạo tính mạch lạc cho lời nói tiếng Việt
Năm 2006, quyển Văn bản và liên kết trong tiếng Việt của Diệp Quang
Ban [3] được tái bản (lần thứ ba) Tác giả đã đưa ra khoảng 15 cách hiểu về khái niệm về văn bản, phân biệt khái niệm văn bản và diễn ngôn, ngôn ngữ nói và viết đồng thời qua đó nêu lên những đặc trưng của một văn bản nói chung Trần Ngọc Thêm cũng đã đề cập đến cấu trúc đề thuyết – cấu trúc mang ý nghĩa thông báo trong văn bản
Năm 2007, nhà xuất bản Đại học Sư phạm đã cho ra mắt bạn đọc quyển
“Văn bản” của tác giả Diệp Quang Ban theo dự án đào tạo giáo viên THPT của Bộ Giáo dục và Đào Tạo Đây là công trình viết khá bao quát về các khía cạnh của văn bản; trong đó có mạch lạc văn bản Các tác giả Đỗ Hữu Châu với Ngữ pháp văn bản [12]; Nguyễn Kim Thản với Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt [33]…
Gần đây, một số khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ cũng nghiên cứu về tính mạch lạc của văn bản Khóa luận tốt nghiệp có:
Vương Bá Cẩn (K42 Ngôn ngữ- ĐHKHXH và NV), Nguyễn Thị Xuân Nữ (K43), Hoàng Thu Trang (K46)…Các luận văn: Mạch lạc theo quan hệ
nguyên nhân trong Truyện Kiều của Nguyễn Du (2002), Trường ĐHSP Hà
Nội, về sau phát triển thành luận án tiến sĩ: Mạch lạc trong truyện Kiều của
Nguyễn Du (2008) của tác giả Trần Thị Vân Anh Luận văn thạc sĩ: Mạch lạc trong một số truyện ngắn hiện đại của tác giả Nguyễn Thị Hồng Nga (2005),
trường ĐHKHXH và NV Luận văn: Mạch lạc của phóng sự nghệ thuật Cạm
bẫy người của tác giả Nguyễn Mẫu Tú (2002), trường ĐHSP Hà Nội… Các
Trang 8công trình trên đã đưa được một số nhận xét bước đầu về mạch lạc trong những tác phẩm cụ thể
Trên cơ sở vận dụng lý thuyết về mạch lạc văn bản của các tác giả đi trước, trong luận văn của mình, chúng tôi đi vào tìm hiểu mạch lạc trong phóng sự của Vũ Trọng Phụng, qua đó hy vọng sẽ rút ra được các đặc trưng
cơ bản của mạch lạc văn bản nói chung và trong văn bản phóng sự của Vũ Trọng Phụng nói riêng
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Mọi văn bản đều có những biểu hiện của mạch lạc Nhưng có mạch lạc trong văn bản truyện, có mạch lạc trong văn bản báo chí, mạch lạc trong văn bản hành chính công vụ….trong đó mạch lạc trong phóng sự được biểu hiện đa dạng và nhiều chiều hơn cả Chọn “Tính mạch lạc trong phóng sự của
Vũ Trọng Phụng” để nghiê cứu, luận văn đã chú trọng vào tính mạch lạc đa dạng này
Tính mạch lạc trong phóng sự có những sự đổi mới rõ rệt so với các giai đoạn văn học trước đó Chúng tôi chọn để khảo sát năm phóng sự của Vũ Trọng Phụng
ở góc độ triển khai mạch lạc trong quá trình sáng tác của nhà văn dựa trên sự tương đồng về giải pháp triển khai chủ đề của các văn bản Xác định các phương diện biểu hiện thông qua năm phóng sự được lựa chọn sau: Cạm bẫy người, Kỹ nghệ lấy tây, Cơm thầy cơm cô, Lục sì, Một huyện ăn tết
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Tính mạch lạc như ở phần Lịch sử nghiên cứu đã nêu biểu hiện ở nhiều phương diện: mạch lạc theo quan hệ thời gian, mạch lạc theo quan hệ không gian, mạch lạc theo quan hệ nguyên nhân, mạch lạc theo sự dung hợp nhau giữa các hành động nói….Tuy nhiên, do điều kiện và khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ đi vào khảo sát mạch lạc trong năm tác phẩm của Vũ Trọng Phụng trên hai phương diện là: Mạch lạc theo quan hệ thời gian và mạch lạc theo quan hệ nguyên nhân Các phương diện khác chỉ được đề cập đến khi cần thiết
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 94.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung làm rõ hơn một số yếu tố của mạch lạc trong một số phóng sự của Vũ Trọng Phụng, cụ thể là xem xét quan hệ thời gian và quan
hệ nhân quả như là một yếu tố của mạch lạc Thông qua đó, chúng tôi nhằm
cụ thể hóa tính mạch lạc, góp phần làm sáng rõ nghệ thuật triển khai phóng sự
Vũ Trọng Phụng, xây dựng cách tiếp cận với mạch lạc nói chung và mạch lạc văn bản phóng sự nói riêng
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập hợp, xây dựng cơ sở lý thuyết về mạch lạc trên cơ sở tổng hợp lý thuyết về mạch lạc trong ngôn ngữ học
- Vận dụng cơ sở lý thuyết đã xây dựng để xác định, phân loại và miêu tả mạch lạc trong phóng sự Vũ Trọng Phụng trên hai phương diện: thời gian và nhân quả Trên cơ sở đó đưa ra cách xác định mạch lạc cho những trường hợp khảo sát cụ thể
- Nhận xét bước đầu về mạch lạc trong phóng sự Vũ Trọng Phụng
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng chủ yếu các phương pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp phân tích tổng hợp
Luận văn trước hết đưa ra một hệ thống những luận điểm về mạch lạc trong văn bản văn học; nhất là trong phóng sự, coi đó là cơ sở lý thuyết của vấn đề mạch lạc, và tách hai loại quan hệ thời gian và nhân quả như là một yếu tố của mạch lạc để ứng dụng trong việc khảo sát và phân tích, tổng hợp các văn bản phóng sự
5.2 Phương pháp cấu trúc - hệ thống
Cấu trúc được hiểu là sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng được đặt trong mỗi quan hệ có trong lòng hiện tượng đó với những hiện tượng bên ngoài nó Những mỗi dây liên hệ ràng buộc đó được gọi là mạng quan hệ Trên cơ sở hệ thống hóa các sự kiện: hệ thống hóa các yếu tố ngôn từ miêu
tả các sự kiện: luận văn xác định các mỗi quan hệ nối kết các sự kiện, tạo nên
hệ thống sự kiện của phóng sự
Trang 105.3 Phương pháp miêu tả, so sánh, thống kê
Từ những trường hợp cụ thể, luận văn đi vào khảo sát, miêu tả, thống kê Trên cơ sở đó, so sánh các văn bản thuộc cùng kiểu loại về phương diện mạch lạc
5.4 Phương pháp cải biến
Bản chất ngôn ngữ là một hệ thống cấu trúc, vì thế bằng phép cải biến tác động vào một cấu trúc này để biến đổi thành một cấu trúc khác, hoặc thay thế, thêm bớt các yếu tố từ vựng, luận văn nhằm chỉ ra được sự khác biệt ngữ nghĩa giữa các cấu trúc
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Một số cơ sở lý luận cần thiết đối với đề tài nghiên cứu
Chương 2: Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ thời gian
Chương 3: Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ nguyên nhân
Trang 11Chương 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN CẦN THIẾT ĐỐI VỚI ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Mạch lạc
1.1.1 Khái niệm mạch lạc văn bản
Mạch lạc - nhân tố quyết định tính chất “là văn bản” của một sản phẩm
ngôn ngữ - thời gian gần đây đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước Cho đến nay, lĩnh vực này không còn là mới mẻ nhưng vẫn còn rất nhiều khía cạnh cần lưu ý, xem xét Tính hấp dẫn của vấn
đề “mạch lạc” không chỉ ở giá trị của bản thân khái niệm mà còn ở sự khó
xác định mạch lạc trong một số nội dung văn bản theo phương pháp cấu trúc của ngôn ngữ học Thế nhưng hiểu thế nào là mạch lạc lại là điều không đơn giản Đến nay đã có nhiều cách hiểu khác nhau về mạch lạc và vấn đề có thể chưa đóng lại
Đi vào nghiên cứu mạch lạc trong một số văn bản phóng sự chúng tôi muốn làm rõ thêm khái niệm mạch lạc, đồng thời góp phần tìm hiểu nội dung văn bản theo phương pháp cấu trúc của ngôn ngữ học Sau đây chúng tôi xin trích dẫn một số định nghĩa tiêu biểu về mạch lạc trong phạm vi tư liệu thu thập được
D Nunan, 1993, quan niệm mạch lạc (coherence) là cái tầm rộng mà ở
đó các lời nói được tiếp nhận là có “mắc vào nhau, chứ không phải là một tập hợp câu nói không có liên quan với nhau (theo[9;133])
Theo I P Galperin, Mạch lạc - đó là những hình thức liên kết riêng biệt,
đảm bảo thể liên tục, nghĩa là sự liên tục lôgic (về thời gian và / hoặc không gian); sự lệ thuộc lẫn nhau giữa các thông báo cụ thể, sự kiện, hành động cụ thể [34; 148]
Còn theo Bách khoa thư ngôn ngữ và ngôn ngữ học, 1994, mạch lạc là
sự nối kết có tính chất lôgic được trình bày trong quá trình triển khai một cốt truyện; một truyện kể…, lệ thuộc vào việc tạo ra những sự kiện đựơc kết nối
Trang 12với nhau, hơn là những dây liên hệ thuộc ngôn ngữ (như trong liên kết (cohesion)) (theo [9;134] )
Cùng với quan điểm đó, nhưng D Togeby, 1994, cho rằng mạch lạc là
cái đặc tính của sự tích hợp văn bản (property of integration), tức là cái đặc
tính đảm bảo cho các yếu tố khác nhau trong một văn bản khớp được với nhau trong một tổng thể gắn kết (acoherent whole) (theo [9;135] )
Với K Wales, 1994, mạch lạc là một trong những điều kiện ban đầu hay
đặc tính ban đầu của một văn bản: không có mạch lạc, một văn bản không phải là một văn bản đích thực (theo [9; 135,136] )
A J Greimas, đại biểu của truyền thống ký hiệu học Pháp thì giải thích mạch lạc bằng biểu thức “tính đồng vị ngữ nghĩa” („semantic isotopy‟), và hiểu tính đồng vị nghĩa là một số nghĩa vị nhất định của ngữ cảnh xuất hiện trở đi trở lại và có tính chất chi phối đối với các nghĩa vị khác trong các từ của một văn bản được phát ra Nghĩa vị của ngữ cảnh là những thành tố nghĩa nhạy cảm của ngữ cảnh, tức là có thể cảm nhận được dễ dàng trong các từ ngữ khác nhau có chứa chúng hay có liên quan đến chúng trong văn bản, nhờ
đó mà phát hiện ra được sự trở đi trở lại của chúng, nhận ra được tính chất chi phối của chúng đối với các nghĩa vị khác (theo [9;136] )
Trong những cách hiểu về mạch lạc trên, cách hiểu của D Nunan được coi là đơn giản nhất, cách hiểu của D Togeby và của K.Wales lại có phần khái quát, cách hiểu truyền thống ký hiệu học Pháp mà đại diện tiêu biểu là A
J Greimas là khá trìu tượng….thì cách hiểu của Bách khoa thư ngôn ngữ và
ngôn ngữ học được xem là có tính chất chuyên môn và thuyết phục hơn cả
bởi vì ở đây, các tác giả đã phần nào cho thấy thực chất của hiện tượng mạch lạc, tức là đã tách mạch lạc ra khỏi liên kết
Tác giả Galperin đã đưa ra một số nhận xét quan trọng về mạch lạc trong văn bản văn học nói chung và trong văn bản phóng sự nói riêng như sau: Phương diện tao dựng mạch lạc trong văn bản văn chương phong phú và nhiều hình vẻ, trong loại văn bản này các dạng mạch lạc lôgic, tâm lý, và kết cấu hình thức đan quyện nhau chặt chẽ đến nỗi có khi khó mà phân định loại
Trang 13hình cho chúng “Những phương tiện liệt kê của mạch lạc được xem là những phương tiện lôgic bởi vì chúng được sắp xếp vào những khái niệm lôgic – triết học; những khái niệm về chuỗi liên tục, về quan hệ thời gian, không gian, nhân quả Những phương tiện này được giải mã dễ dàng bởi vậy không kìm giữ sự chú ý của người đọc, chỉ trừ những trường hợp muốn hay không vẫn phát hiện ra sự tương ứng giữa các đại diện được kết chuỗi với chính những phương tiện mạch lạc” [11; 158]
Tác giả đã hệ thống hóa một số dạng thức của mạch lạc trong văn bản nghệ thuật như sau:
+ Mạch lạc liên tưởng: “Cơ sở mạch lạc liên tưởng là những đặc điểm
khác của kết cấu văn bản, đó chính là hồi cố, hàm nghĩa tình thái đánh giá chủ quan Mạch lạc liên tưởng không phải bao giờ cũng nắm bắt được Tuy nhiên, đôi khi nó cũng xác định liên hệ những hiện tượng miêu tả, những hiện tượng này vốn cực kỳ quan trọng cho việc giải mã thông tin nội dung quan niệm”
+ Mạch lạc hình tượng: “ Được hiểu là những hình thức liên kết cùng
hợp lực với mạch lạc liên tưởng, khơi ngợi những ý niệm về đối tượng được thụ cảm cảm tính hiện thực Đặc điểm của hình thức mạch lạc này là tác giả liên kết những hiện tượng mà tác giả đã dùng để miêu tả những sự vật – hiện tượng ấy Dường như có một sự vận động của các đặc trưng trong tình thái tương đối của đối tượng, tuy nhiên đối tượng vấn có sự biến đổi về thời gian – không gian”
+ Mạch lạc bố cục – kết cấu
+ Mạch lạc tu từ: là việc “tổ chức văn bản” mà ở đây đặc điểm tu từ
được lặp lại một cách nhất quán những kết cấu của các nhất thể trên câu và các đoạn”
+ Hình thức mạch lạc tiết điệu: là “sự thống nhất của cách gieo vần, liên
cú, vận luật… và chủ yếu là tài sản của thơ ca”
Còn theo Nguyễn Thiện giáp: “văn bản mạch lạc là văn bản ở đó người giải mã có thể cấu trúc lại cơ đồ của người nói một cách hợp lý bằng cách suy luận những mỗi liên hệ riêng biệt của chúng với những mục đích thứ cấp khác
Trang 14nhau trong sơ đồ giải thích, khiến cho sự khó hiểu trở nên dễ hiểu Theo quan điểm này, mạch lạc không phụ thuộc vào những đặc trưng liên kết lẫn nhau
mà phụ thuộc vào quy mô mà người tạo văn bản cố gắng đạt được để cấu trúc một sơ đồ hợp lý trong việc tạo ra văn bản Cấu trúc một sơ đồ hợp lý trong việc tạo ra văn bản lại tùy thuộc vào sự xem xét mỗi câu có phải là sự thể hiện của một chân lý, một đóng góp cần thiết và thích hợp đối với sơ đồ đó hay không” [12, 173]
Theo GS Diệp Quang Ban Mạch lạc có thể phân chia thành ba phạm vi
khái quát như sau:
- Mạch lạc trong quan hệ nghĩa – lôgic giữa các từ ngữ trong văn bản
- Mạch lạc trong quan hệ giữa từ ngữ trong văn bản với cái được nói tới trong tình huống bên ngoài văn bản
- Mạch lạc trong quan hệ thích hợp giữa các hành động nói
Theo TS Nguyễn Thị Thìn, mạch lạc của văn bản viết là sự thống hợp của những phương diện sau: [42]
- Sự thống nhất chủ đề và đích giao tiếp của văn bản
Trong đó chủ đề được hiểu là phạm vi hiện thực được bàn tới trong toàn văn bản Còn đích giao tiếp gồm có đích nhận thức, đích bộc lộ, đích hành động, đích tiếp xúc Tùy vào từng thể loại văn bản cụ thể mà loại đích giao tiếp nào sẽ được đặt lên hành đầu
Sự thống nhất chủ đề và đích giao tiếp trên phạm vi toàn văn bản tạo nên
“tầm rộng và chiều sâu” của văn bản, trong đó các phần, các câu “được tiếp nhận như là có mắc vào nhau”
- Trình tự triển khai chủ đề văn bản đảm bảo tính hợp lý
Tính hợp lý ở đây được hiểu là; có thể lý giải được từ phía người tạo lập văn bản, và có thể được tiếp nhận được từ phía người tiếp nhận Trình tự triển khai chủ đề qua các phần của văn bản có thể được lý giải theo quan hệ thời gian, quan hệ không gian, quan hệ nhận quả, quan hệ liên tưởng….giữa các thành tố của văn bản
- Những mối quan hệ chặt chẽ giữa các thành tố nội dung của văn bản
Trang 15Ngoài quan hệ nội dung mệnh đề của văn bản, mạch lạc còn được tạo bởi quan hệ nội dung dụng học (nội dung bộc lộ, nội dung hành động….) của các thành tố tạo văn bản ở tầng nghĩa cụ thể trực tiếp và cả ở tầng nghĩa sâu hàm ẩn
Với đối tượng là văn bản nghệ thuật, bên cạnh những thành tố nội dung thường được trình bày theo trình tự trật tự trước sau (như sự kiện, thời gian, nguyên nhân – kết quả….) bằng những khúc đoạn lời nói kế tiếp còn có những thành tố được trình bày theo lối đan xen khá phức tạp (như: nhân vật văn học, hình tượng cảm xúc….) Khi xác định mạch lạc, không thể bỏ qua những mỗi quan hệ đa dạng này
- Giải pháp triển khai chủ đề phù hợp với ý đồ giao tiếp và thể loại văn bản
Đó chính là sự lựa chọn phương hướng giải quyết vấn đề, cách triển khai chủ đề nhằm đạt tới đích giao tiếp Giải pháp triển khai chủ đề không chỉ phụ thuộc vào ý đồ giao tiếp của chủ thể mà còn bị chi phối bởi thể loại văn bản với những văn bản chính luận, chủ đề thường được triển khai theo phương pháp lập luận: quy nạp, diễn dịch….; nhưng với những văn bản nghệ thuật như phóng sự thì lại tùy vào từng phong cách triển khai của tác giả, có thể là xây dựng theo chỉnh thể hiện thực đời sống xã hội, hoặc cũng có thể là theo trình tự diến biến nội tâm nhân vật
Theo hai quan niệm này thì việc liên kết chủ đề, liên kết lôgic giữa các câu chỉ là một trong những biểu hiện của mạch lạc về mối quan hệ giữa mạch
lạc và liên kết, có thể nói như GS Diệp quang Ban “Mạch lạc là yếu tố quyết
định văn bản, trong đó nổi rõ lên việc tạo thành tính thống nhất đề tài (chủ đề) của văn bản Trong không ít trường hợp, mạch lạc có thể sử dụng các phương tiện liên kết để làm cái diễn đạt cho mình, tuy nhiên mạch lạc có thể không cần dùng đến phương tiện liên kết, mà trái lại có dùng phương tiện liên kết chưa chắc đã tạo ra được mạch lạc cho văn bản” [3,161] Ở Việt Nam,
khái niệm mạch lạc đã được một số nhà ngôn ngữ diễn giải từ những góc độ khác nhau, bằng các cách khác nhau Đồng thời, với việc tìm hiểu khái niệm mạch lạc, mọi người đều cố gắng phân biệt mạch lạc với các khái niệm liên kết, một khái niệm vốn khá quen thuộc trong giới ngôn ngữ học Việt Nam
Trang 16Như Đỗ Hữu Châu đã viết” “Một văn bản, một diễn ngôn là một lập luận đơn hay phức hợp bất kể văn bản viết theo phong cách chức năng nào Tính lập luận là sợi chỉ đỏ đảm bảo tính mạch lạc về nội dung bên cạnh tính liên kết về hình thức của văn bản, của diễn ngôn.”
Còn theo Diệp Quang Ban thì: “Cách nhìn chung nhất hiện nay là những
từ ngữ trực tiếp diễn đạt các quan hệ kết nối giữa các câu – phát ngôn làm thành các tiểu hệ thống (các phương tiện liên kết) thì được xếp vào liên kết, còn những mỗi quan hệ kết nối nào thiết lập được thông qua ý nghĩa giữa các câu thì thuộc về mạch lạc” [5,70]
Theo Bùi Minh Toán thì lại: “Trước đây, thuật ngữ liên kết được dùng
để chỉ chung cả phương diện liên kết nội dung lẫn liên kết hình thức của văn bản Gần đây, hai phương diện này được gọi bằng thuật ngữ khác để phản ánh đúng đắn hơn bản chất của các vấn đề nghiên cứu Vì thế, phương diện liên
kết hình thức vẫn được gọi chung là liên kết Mạch lạc trong văn bản được thể
hiện cụ thể ra thành sự thống nhất về đề tài, sự nhất quán về chủ đề và sự chặt chẽ về lôgic” [34, 64]
Khái niệm mạch lạc văn bản tuy chưa thống nhất nhưng các nhà nghiên cứu đều xem mạch lạc là điều kiện và đặc trưng cơ bản nhất của một văn bản đích thực Tuy nhiên, mạch lạc vẫn là một cái gì đó khó nắm bắt, bởi vì nó thuộc về tầm rộng và chiều sâu cấu trúc nội dung toàn văn bản Nhưng chắc chắn rằng, chính mạch lạc chứ không phải liên kết khiến cho một sản phẩm ngôn ngữ trở thành một văn bản, hay một diễn ngôn Điều này cũng đã được các nhà ngôn ngữ học như: Lê Quang Thêm, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thị Việt Thanh, Nguyễn Thị Thìn… nhắc đến song cũng chỉ mới dừng lại ở việc giới thiệu những khái niệm ban đầu Gần đây đã có một số khóa luận tốt nghiệp và luận văn chuyên ngành Ngôn ngữ bắt đầu đi vào nghiên cứu mạch lạc nhưng việc phân tích vấn còn có phần sơ sài, mới chỉ dừng lại ở việc tìm cách minh chứng cho những lý luận đã có, chưa đề cập được những phương diện cụ thể khi đối tượng nghiên cứu lại quá rộng, vừa phức tạp, trừu tượng lại vừa khó nắm bắt
Trang 17Tuy có nhiều cách định nghĩa như vậy, nhưng chung quy lại, tất cả các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học văn bản đều thống nhất ở một điểm Đó là
mạch lạc là đặc trưng quyết định tính thống văn bản của một văn bản đích
thực Những cách hiểu mạch lạc từ dung dị đến khái quát, từ đơn giản đến phức tạp người quan tâm hình dung được hiện tượng mạch lạc ở nhiều khía cạnh khác nhau, mặt khác chứng tỏ mạch lạc là một hiện tượng phức tạp gồm nhiều yếu tố trìu tượng, không dễ xác định
1.1.2 Biểu hiện của mạch lạc
Những cách hiểu về mạch lạc cho thấy mạch lạc là một khái niệm rất phức tạp bởi trong nội hàm khái niệm có các yếu tố trừu tượng Tuy vậy, tìm hiểu những biểu hiện của mạch lạc sẽ làm rõ hơn, cụ thể hơn những sự trừu tượng, phức tạp ấy
1.1.2.1 Mạch lạc trong quan hệ nghĩa – lôgic giữa các từ ngữ của văn bản
Mạch lạc trong quan hệ nghĩa – loôgic giữa các từ ngữ của văn bản được biểu hiện ở những trường hợp cụ thể sau:
a) Mạch lạc trong quan hệ giữa đối tượng nêu ở chủ ngữ với đối tượng hoặc đặc trưng nêu ở vị ngữ
Điều này có nghĩa là, xét về mặt ý nghĩa lôgic, một câu (mệnh đề) được coi là mạch lạc khi và chỉ khi đặc trưng nêu ở vị ngữ phù hợp với vật nêu ở chủ ngữ Ngược lại, nếu giữa chúng không phù hợp với nhau thì câu (mệnh đề) ấy không chấp nhận được
Ví dụ: Cái áo rách ấy quá đẹp
Đã “rách” thì bao giờ cũng có nghĩa giả định là “cũ, xấu” chứ không thể đi kèm với “đẹp” được Nghĩa của chủ ngữ (cái áo rách) không phù hợp với nghĩa của vị ngữ (quá đẹp) về mặt lôgic dù rằng việc sắp xếp như thế không sai ngữ pháp Vì thế bản thân câu này không được xem là mạch lạc Cũng có thể những sự kết hợp vô lý như thế đôi khi cũng xuất hiện, tuy nhiên, phải hợp lôgic với ngữ cảnh
b) Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các đề tài (chủ đề) các câu
Trang 18Chủ đề giữa các câu được duy trì theo hai cách: duy trì chủ đề hoặc triển khai chủ đề
+ Duy trì chủ đề: Là trường hợp một việc, một vật, một hiện tượng nào
đó được nhắc lại trong các câu khác nhau với tư cách là chủ thể của các câu
đó Các phương tiện ngôn ngữ diễn đạt đề tài này trong các câu khác nhau có thể chỉ là một và được lặp lại hoặc cũng có thể là những yếu tố có bề ngoài khác nhau
Xét về mặt liên kết, sự duy trì chủ thể được thực hiện nhờ: phép lặp lại
từ vựng, phép thế bằng đại từ, phép tỉnh lược
Ví dụ 1:
“Ngồi trầm ngâm với bộ mặt một người đi đưa đám ma, anh chỉ gượng nói, gượng cười Có lẽ anh đang nghĩ đến mẻng của anh chẳng ngờ lại là một “chim mồi” của một người bạn của ông Ấm B là Sinh
Thấy vậy, tôi tìm lời khuyên giải:
- Đó cũng là do cái luật thừa trừ của Tạo vật Anh còn nỡ thịt cả ông cụ
để lấy tiền nuôi gái thì gái nó rất có thể thịt lại anh là nhân tình để lấy tiền
nuôi thân…” (27;148)
Trong ví dụ trên, phép lặp từ vựng, phép thế đại từ đã được sử dụng để duy trì chủ đề: đó – gái thịt anh; anh – nhân tình; mẻng –chim mồi – gái
Ví dụ 2:
“Cái Đũi còn nói mãi về con mẹ chủ khốn nạn ấy để khen giời là có
mắt chứ không mù… Nó kể xấu chủ cũ nó nhiều đến nỗi khiến tôi mất cả thương hại nó và rồi thấy chối tai…” ( ;320)
Phép thế: Cái Đũi – nó; con mẹ chủ khốn nạn – chủ cũ
+ Triển khai chủ đề: là trường hợp từ một đề tài nào đó trong một câu, liên tưởng đến đề tài khác thích hợp trong câu khác theo một quan hệ nào đó, nhằm mục đích làm cho việc được nói đến phát triển lên Các đề tài được đưa thêm vào phải có cơ sở nghĩa và lôgic nhất định Cơ sở nghĩa là sự phù hợp về nghĩa với đề tài đã có và với tình huống sử dụng nói chung, cơ sở lôgic là tính cần và đủ
Trang 19Về mặt liên kết, triển khai chủ đề được thực hiện chủ yếu nhờ:
- Phép phối hợp từ ngữ
- Phép so sánh (trong phép quy chiếu)
Ví dụ: “Trước kia người ta gọi nó là thằng, sau người ta lên chức cho
nó là bác Sau nữa đến thầy, sau cùng, đến ông Vốn là kẻ tinh khôn, anh
chàng Xuân coi đời là một lớp học Sự lịch thiệp tìm ở cái giao thiệp, sự kiến thức góp nhặt được trong báo chí, anh chàng Xuân càng sống càng biết đóng
đủ mọi vai diễn trên sân khấu cuộc đời.” (27;160)
Có 5 cách duy trì và triển khai chủ đề như sau:
Cách 1: Triển khai theo kiểu móc xích:
Ví dụ: “Nghe thế thôi, tôi đã đủ hiểu cả rồi, thì ra cách tổ chức xã hội
kim thời, thật vậy, kể đã là chu đáo đến tột bậc Xã hội thì như là một bộ máy tinh tế, mà cá nhân là những bánh xe, nếu một cái quay thì bao nhiêu những cái khác phải quay theo, nếu một cái hỏng thì toàn bộ cũng phải ngừng lại…”
(27;514)
Cách 2: Triển khai theo sự tiếp nối: các câu trong văn bản, đoạn văn chung một chủ đề:
“Trên giường có hai me ngồi chơi tổ tôm Nếu phân tích kĩ lưỡng ra, cái
giường ấy lý tất nhiên đã là cái song, đã chứng kiến cho bao nhiêu tối tân
hôn, và biết đâu lại không là vật tòng phạm của bao nhiêu cuộc ngoại tình
nữa! Cái giường của một me tây cũng như cái dùi khui của bọn thầy cảnh sát,
cũng như cái búa của bác thợ rèn, cũng như cái cổ của một ông Nghị viên
Việt Nam Trong cái kĩ nghệ lấy Tây, thợ chỉ làm việc trên giường.”
(27;216)
Cách 3: Triển khai nhiều đề xuất phát từ một đề chung lớn hơn, những
đề nhỏ hơn được gọi là những đề phái sinh:
Ví dụ: Trong phóng sự Cạm bẫy người, Ấm B là người có quyền uy, là người tài giỏi trong bạc bịp Cái uy, cái tài ấy được biểu hiện trong 14 chương của phóng sự
- Ấm B là người tài chơi bạc bịp:
Trang 20+ Có nhiều thủ đoạn, nhiều ngón bịp tinh xảo: lối chơi hụt nọc, hụt cửa,
giác mùi, giác bóng, đòn ống, đòn Vân Nam; những tuyệt chiêu: đòn trinh thám, đòn trá hàng…
+ Khí giới: quân xúc xắc thủy ngân, quân xúc xắc lưỡng diện, áo có ống
tay ba lần vải…
+ Khả năng “biến hóa” về hình dạng: ông Cửu, ông nghị, con mòng béo
- Ấm B là người quyền uy trong giới cờ bạc:
+ Ấm B phân công công việc cho các đồ đệ tùy thuộc vào năng lực, sở
trường như “thợ săn” chuyên đi giết “mòng”, các chim mồi chuyên đi kiếm
“chim mòng két” để thợ săn “làm thịt”, dưới nữa có cả trăm tên tạ, những
anh đầu trâu mặt ngựa, chuyên môn đi đón khách cho sòng…
+ Nắm quyền điều hành guồng máy hoạt động của làng bịp gồm: “Hai
đám xì, một đám bất, một đám xóc đĩa và một đam tổ tôm Đám xì ở Hàng Kèn đã co Ba Mỹ Ký Với Bập đánh giác… Đám xì ở đường Cột Cờ đã có tay Bỉnh, tay Sinh đánh đòn Vân Nam Còn đám bất ở phố Hàng Bông có lão Cường hoặc đánh lớp hoặc đánh mẫu tử…” (27;85) Dưới tài điều khiển của
Ấm B, các cuộc bạc đều thắng lợi Dù đối thủ có ghê ghớm đến mấy, các cuộc bạc dưới sự tổ chức của Ấm B đều được giải quyết nhanh chóng
thị với tệ nạn cờ bạc- căn bệnh xã hội vô phương cứu chữa Chủ đề chung này được thực hiện trong hai chủ đề nhỏ khi địa diện cho trùm cờ bạc bịp là nhân vật Ấm B - người có quyền uy, là người tài giỏi trong bạc bịp
Cách 4: Triển khai một phần thuyết tách thành nhiều bộ phận (theo kiểu diễn dịch)
Ví dụ: “Bọn cơm thầy cơm cô nằm ngổn ngang như lợn cả Bọn đực nằm
phía bên kia, bọn cái nằm phía bên này Bốn thằng nhỏ bằng trạc tuổi tôi với
ba con sen, một con độ lên mười, một con độ mười lăm, còn một con nữa trông đã đứng tuổi Trong khi hai đứa trẻ nằm hớ hênh vô ý thì con đứng tuổi khép nép vào một xó tường, khẽ nâng cái quạt nhìn tôi.” (27;302)
Trang 21Cách 5: “Triển khai đề nhảy cóc”:
Ví dụ: “…Nhưng nghề đó là nghề vất vả lắm Không ăn thua gì! Mà lại
còn thấy cảnh sát, người bắt vé, những ngày mưa to gió lớn mà trẻ con thành phố không ra đường chơi Một buổi tối, tại vườn hoa ông Bôn Be, một bác lính tập, sua khi mua vài xu bưởi, bảo thị đi theo…Lúc đầu, thị trù trừ, sợ hãi… Nhưng Thị Lành vốn tò mò Thị rất muốn biết cái ấy nó ra làm sao Vả lại, mẹt hang còn đầy lù lù, mà trong túi Thị số tiền chưa đong nổi bơ gạo
Đó là một cái cớ rất mạnh để thị phải quyết…” (27;470)
c) Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các thành phần nêu đặc trưng ở những câu có quan hệ nghĩa với nhau
Quan hệ nghĩa giữa các câu trong một văn bản phải phù hợp với nhau tạo thành một mạch lạc
Ví dụ: “Tôi còn phải kể chuyện bốn người nữa…Con đàn bà thứ sáu, một đêm
bất kì ở trại ra, về nhà không thấy đâu, tức thì tôi bỏ Con thứ bảy bị tôi bắt được đi chơi với người nhân tình An-nam Con thứ tám bỏ tôi vì không bắt được tôi trả nhiều tiền….Còn con thứ chín Nó nhà quê mà tính khôn làm sao…” (27;233)
d) Mạch lạc biểu hiện trong trình tự hợp lý giữa các câu
Mạch lạc biểu hiện trong trình tự hợp lý giữa các câu được thể hiện qua: trình tự theo quan hệ nguyên nhân, trình tự theo quan hệ thời gian, trình tự theo quan hệ không gian
+ Mạch lạc biểu hiện theo quan hệ thời gian
Ví dụ: “Giữa lúc này, có hai vợ chồng chú khách bán lê, táo ở phố Hàng
Buồm, sau vụ tết Nguyên Đán rất phát tài – có lẽ thấy trong hòm nhiều bạc quá mà phát ngốt – cũng ngứa ngáy tìm cách chơi xuân ” (27;124)
+ Mạch lạc theo quan hệ nguyên nhân
Ví dụ: “Đã tức vì thua tôi lại còn tức thêm vì chúng nó đãi tôi một cách
quá đáng nữa.” (27;167)
1.1.2.2 Mạch lạc diễn ngôn
Trong diễn ngôn, mạch lạc biểu hiện ở khả năng dung hợp nhau giữa các hành động nói Hành động nói là hành động được thực hiện trong khi nói như:
Trang 22hành động hỏi, ra lệnh, hứa hẹn, chào, cảm ơn, xin lỗi… Có những hành động nói thường phải đi đôi với nhau và cũng có những hành động nói không thể
ăn nhập với nhau Khi các hành động nói đi đôi với nhau thì bản thân chúng cũng tạo ra được mạch lạc cho những lời trao đổi hoặc những chuỗi câu nối tiếp nhau Chẳng hạn hành động hỏi thường kéo theo hành động trả lời, hành động mời thường kéo theo hoặc là hành động chấp nhận lời mời hoặc là hành động từ chối lời mời, Hành động chào được tiếp theo bằng hành động chào đáp lễ… Trong câu nói, diễn đạt các hành động nói nối tiếp nhau một cách chấp nhận được có thể chứa những từ ngữ cho thấy chúng liên kết với nhau mà cũng có thể không chứa những từ liên kết chúng, nhưng chúng vẫn có thể đi được với nhau Khả năng cùng đi với nhau của hành động nói như vậy được gọi là khả năng dung hợp nhau giữa các hành động nói
Ví dụ: A: Chị còn giận em nữa không?
B: Ai lắm hơi sức mà giận cô chứ?
Ở ví dụ trên, B không hồi đáp trực tiếp với A nhưng câu nói của B đã bao hàm sự hết giận mà A đang hoài nghi
1.1.2.3 Mạch lạc trong quan hệ giữa văn bản với ngữ cảnh, tình huống
Quan hệ ngoại chiếu là quan hệ giữa các từ ngữ trong văn bản với sự vật,
sự việc, hiện tượng bên ngoài văn bản, tức quy chiếu vào cái tình huống mà từ
đó văn bản được tạo ra Tình huống trong cách hiểu như thế được gọi là ngữ cảnh tình huống Sự quy chiếu vào ngữ cảnh tình huống giúp cho từ ngữ trong văn bản trở nên xác định rõ
Ví dụ: “Con mòng được nước, cứ việc vơ giấy bạc bứa bừa.Hốt nhiên,
đến ván ấy, một ông kêu thiếu bài Hai ông kia hưởng ứng ngay: xin khám Phải rồi, thiếu bài là khám, lẽ ấy rất cố nhiên.” (27;149)
Đọc ví dụ trên, nếu không đặt trong văn bản phóng sự Cạm Bẫy người thì
người đọc không biết đó là cuộc bạc ở đâu và những người trong cuộc là ai, tại sao lại phải khám bài Dựa theo quy chiếu, hai người ở đây chính là Xuân –
Tham Ngọc đang cùng đồng bọn săn “con mòng không quýnh” Đến khi cuộc săn đó sắp thất bại, Tham Ngọc đã phải giở trò “thiếu bài” để lột ví đối phương
Qua đó thấy được sự gian trá, đểu cáng của Tham Ngọc và đồng bọn
Trang 231.1.3 Khái niệm sự kiện
Để khảo sát tính mạch lạc theo quan hệ thời gian và quan hệ nguyên
nhân không thể không bàn đến “sự kiện”, khi khảo sát các mỗi quan hệ trong
văn bản phải khảo sát quan hệ sự kiện Vì thế, mạch lạc theo quan hệ thời gian trong văn bản cũng chính là quan hệ thời gian giữa các sự kiện, mạch lạc theo quan hệ nguyên nhân cũng chính là quan hệ nguyên nhân giữa các sự kiện Theo mỗi liên hệ sự kiện, tác giả có thể dẫn dắt người đọc về quá khứ, hiện tại hoặc tương lai……Chính vì thế việc khảo sát các sự kiện trong văn bản là không thể thiếu
Sự kiện theo lý luận văn học là những mối liên hệ của thế giới cho thấy các phương tiện khác nhau của nó Theo mỗi liên hệ của sự kiện, tác giả có thể dẫn dắt người đọc về quá khứ, hiện tại hoặc tương lai [20,375]
Theo tác giả Nguyễn Thị Thìn thì lại cho rằng: Sự kiện với tư cách là một loại thành tố nội dung của văn bản tự sự, được hiểu là: Một hoặc một tổ hợp hành động vật lý/tâm lý, nói năng của một hoặc một số nhân vật đánh dấu
sự biến đổi ít nhiều trạng thái hiện thực trong thế giới diễn ngôn, góp phần tạo nên khung sườn của toàn bộ câu chuyện, có giá trị trong việc xác định ý nghĩa của văn bản [42]
Như vậy, chúng ta thấy ở đây xuất hiện hai sự kiện đó là: Sự kiện hành động và sự kiện tâm lý Sự kiện hành động bao gồm sự kiện hoạt động ngôn ngữ và sự kiện vật lý: ăn uống, chạy, nhảy, nói năng… sự kiện tâm lý là các hoạt động nội tâm như suy nghĩ, cảm nhận, lo lắng, day dứt… trong đại đa số văn bản văn học, hai loại sự kiện này cũng được trình bày kết hợp với nhau rất chặt chẽ Không thể có một văn bản phóng sự nào hoàn toàn là các sự kiện hành động hoặc hoàn toàn là các sự kiện tâm lý, nhưng tùy vào phong cách tác giả tùy vào mục đích là phương thức triển khai chủ đề mà tác giả sử dụng loại sự kiện này hay sự kiện kia nhiều hơn
1.2 Vũ Trọng Phụng và phóng sự Vũ Trọng Phụng
1.2.1 Vài nét về Vũ Trọng Phụng
Vũ Trọng Phụng là một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại nói chung và dòng văn học hiện thực phê phán nói riêng
Trang 24Là một nhà văn nghèo sinh ra và lớn lên giữa Hà thành “thời loạn”, ông chứng kiến đầy rẫy những bất công, đểu cáng, “khốn nạn”… của xã hội đương thời Cuộc đời ông tuy ngắn ngủi (1912 - 1939) nhưng di sản tinh thần
mà ông để lại khá đồ sộ: hơn 50 tác phẩm (28 truyện ngắn, 9 tiểu thuyết, 8 phóng sự, 6 kịch bản, 1 dịch thuật), trong đó có một số được xem là kiệt tác như Kỹ nghệ lấy Tây (1934), Giông tố (1936), Số đỏ (1936), Vỡ đê (1936) Ngoài ra, còn có một số bài viết tranh luận, phê bình văn học và hàng trăm bài báo về các vấn đề chính trị, xã hội, văn hóa Với những phóng sự, tiểu thuyết nói trên, tên tuổi của Vũ Trọng Phụng đã trở nên quen biết với người đọc Ông xác lập chỗ đứng chắc chắn trong làng văn, chiếm được tình cảm của đông đảo bạn đọc
Đi sâu vào các sáng tác của Vũ Trọng Phụng chúng ta thấy chất hiện thực xã hội dưới ngòi bút Vũ Trọng Phụng hiện lên sống động và sâu sắc Chỉ
có thể lý giải rằng hoàn cảnh xã hội quá mức thối nát, con người tận cùng tha hóa, qua ngòi bút của ông, bằng tài hoa và tâm trạng chính tác giả, đã đưa văn
Vũ Trọng Phụng đến đỉnh cao Không có tố chất đó thì dù có sẵn đề tài, chất liệu và tiền bạc nữa, cũng không thể có một nhà văn chân chính, xuất sắc như
Vũ Trọng Phụng Vũ Trọng Phụng viết về sự tha hoá của con người Tác phẩm của ông, phát xuất từ xã hội Việt Nam dưới thời Pháp thuộc, những năm 30-40, với tất cả những tệ nạn của thời đó, nhưng Vũ Trọng Phụng không quy kết trách nhiệm cho tập đoàn lãnh đạo là chính phủ bảo hộ, hoặc nhà vua An Nam, mà ông đào sâu hơn, điều tra mỗi hành động của cá nhân con người, để xác định trách nhiệm mỗi cá nhân trước bổn phận và đạo đức sống của chính mình Chính vì điểm ấy mà Vũ Trọng Phụng khác những nhà văn cùng thời Tác phẩm của ông không bị giới hạn trong luận đề chôn xã hội
cũ, như phần lớn các thành viên Tự Lực văn đoàn, ông cũng không tố cáo những bất công của xã hội thực dân như các ngòi bút hiện thực phê phán Vũ Trọng Phụng là nhà văn tả chân đúng nghĩa nhất của hai chữ tả chân : nghĩa là
ông chỉ truy lùng sự thực, ông chỉ đi tìm sự thực về con người mà thôi Vì
vậy, tác phẩm của Vũ đạt tới sự phổ quát : những nhân vật của Vũ có thể tìm thấy trong bất cứ xã hội nào mà tham nhũng và tiền bạc làm chủ, xưa cũng như nay, Đông cũng như Tây
Trang 251.2.2 Khái niệm Phóng sự
Các nhà nghiên cứu có rất nhiều cách định nghĩa về phóng sự Chúng tôi dẫn một số định nghĩa như sau:
Theo Nguyễn Đăng Mạnh: “Phóng sự là một thể văn tư liệu Nó thường
sử dụng biện pháp nghiệp vụ báo chí như điều tra, phỏng vấn, đối thoại, ghi chép tại chỗ… nhằm cung cấp những thông tin chính xác và nóng hổi tính thời sự xung quanh những vụ việc có ý nghĩa nào đó đang được công chúng tìm hiểu và mong muốn giải quyết [24;63]
Tác giả Đức Dũng: “Phóng sự là một thể loại đứng giữa văn học và báo
chí có khả năng trình bày, diễn tả những sự kiện, con người, tình huống điển hình trong một quá trình phát sinh, phát triển dưới dạng một bức tranh toàn cảnh, vừa khái quát, vừa chi tiết, vừa sống động với vai trò quan trọng của nhân vật trần thuật và bút pháp linh hoạt, ngôn ngữ giàu chất văn học.”
[(theo Nguyễn Mậu Tú) 35;83]
Phóng sự nghệ thuật khác phóng sự thông tấn báo chí Theo Hà Minh
Đức: “Phóng sự văn học ngoài việc cung cấp con số thống kê, những tư
liệu, còn miêu tả những bức tranh cụ thể về đời sống, trình bày vấn đề xã hội một cách toàn diện trong sự vận động cụ thể của nó.” [(theo Nguyễn
Mậu Tú) 35;83]
Là một thể loại đặc biệt, kết hợp với bút pháp báo chí và văn học, phóng
sự nghệ thuật có những đặc trưng nổi bật:
- Sự xuất hiện của cái Tôi trần thuật giàu tình cảm và lý trí
Như vậy, phóng sự là một thể loại báo chí đặc biệt trong các thể loại báo chí Là một thể loại chính luận nghệ thuật, phóng sự mang đến cho người đọc
từ cảm xúc bất ngờ này, đến những kinh ngạc khác Nó mạnh dạn mở ra
Trang 26những bí mật của sự thật về các vấn đề nằm ẩn sâu trong xã hội Hơn nữa, một phóng sự hay không chỉ bởi sự khắc nghiệt của các bí mật giấu kín trong đấy, mà chính là lối viết văn tài tình của các tác giả
1.2.3 Phóng sự của Vũ Trọng Phụng
Những năm 30 là giai đoạn sơ khai của phóng sự Việt Nam, nhưng đây lại là một thời đại phóng sự hoành tráng và rực rỡ với sự nở rộ cả một cao trào phóng sự khắp trong Nam ngoài Bắc Một trong số những tác giả ấy là Vũ Trong Phụng Với những thiên phóng sự đã đưa Vũ Trọng Phụng lên hàng
“chiếu nhất” là: ông vua phóng sự đất Bắc
Văn đàn và người đọc biết đến Vũ Trọng Phụng trước tiên khi ông với tư cách là nhà báo, nhà phóng sự Những phóng sự nghệ thuật nổi tiếng của ông
bao gồm: Cạm bẫy người (1933), Kỹ nghệ lấy Tây (1934), Dân biểu và dân
biểu (1935), Cơm thầy cơm cô (1936), Vẽ nhọ bôi hề (1936), Lục sì (1937), Một huyện ăn tết (1938) Trong tác phẩm Nhà văn hiện đại (1942), Vũ Ngọc
Phan đã xếp Vũ Trọng Phụng vào nhóm các nhà văn viết phóng sự (cùng với các nhà văn danh tiếng khác lúc bấy giờ như Tam Lang - Vũ Đình Chí, Trọng Lang, Ngô Tất Tố), còn nhà văn Chu Thiên lại được xếp vào nhóm nhà văn
viết “tiểu thuyết phóng sự”
Nhận xét của Vũ Ngọc Phan về Vũ trọng Phụng: “Vũ Trọng Phụng là
một nhà văn sở trường về phóng sự dài; những tập phóng sự trên này của ông đều là phóng sự dài cả Những tập xuất sắc nhất của ông là Kỹ nghệ lấy Tây và Cơm Thầy cơm Cô” Khi đánh giá toàn cục, Vũ Ngọc Phan cho
rằng: “Nên về phóng sự, ông thành công hơn là về tiểu thuyết” Nhà nghiên
cứu Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét: “Phóng sự của Vũ Trọng Phụng thường
có chất tiểu thuyết, nghĩa là có sáng tạo nhân vật với những số phận khác nhau” [24;3]
Nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ trong công trình Việt Nam văn học sử
giản ước tân biên (gồm 3 tập, xuất bản năm 1961) đã nhận xét công bằng về
đặc sắc phóng sự Vũ Trọng Phụng trong cái nền chung của thể phóng sự
trong văn học Việt Nam những năm 30 của thế kỉ XX: "Bước sang giai đoạn
Trang 271932, với sự phát triển của báo chí một loại văn mới, thích hợp với tờ báo được tung ra: bài phóng sự Tác giả, nhà báo, đến tận nơi hỏi han điều tra về một cảnh sinh hoạt, một nghề nghiệp, một hạng nhân vật, rồi cứ sự mắt thấy tai nghe mà chép lên báo Ở hình thức giản dị nhất thì đó chỉ là một tường thuật, nhằm cái mục đích chung của tờ báo là thông tin, giúp độc giả trông nghe những điều xa xôi ẩn dấu mà có thật Phóng sự khi đó khác với tiểu thuyết bởi vì tiểu thuyết cần sự xếp đặt cho thành một câu truyện, sự góp sức chủ quan của tác giả, của trang sức văn chương, cho thành một sáng tác có màu văn nghệ, còn phóng sự chỉ là hình ảnh chụp lại sự thật một cách vô tư, những hình ảnh vụn vặt và khách quan Tuy nhiên nhiều bài phóng sự, dưới một cây bút nhà văn, sự việc được tập trung quanh một đề tài, trình bày cho
ra mọi thứ mục gót đầu, cảnh tình, nhân vật, nhất thiết linh động, cuối cùng lại nói lên một ý nghĩa chung, những bài ấy ta đọc thấy thú vị và cũng không
xa tiểu thuyết là bao Lại có trường hợp, tuy câu truyện bịa đặt, nhưng chỉ bịa đặt có những danh riêng còn sự việc, khung cảnh là thật, tác giả lại chủ ý cống hiến cho ta những tài liệu thật về xã hội, phong tục, tỉ mỉ, khi đó thiên phóng sự tiến đến biên giới tiểu thuyết và gọi là tiểu thuyết phóng sự”
Nguyễn Đăng Mạnh trong một bài viết đăng trên tờ Thể Thao & Văn 42
(17.10.1987) đã lý giải: "Vũ Trọng Phụng với những vấn đề của ông luôn
luôn được đặt đi đặt lại để bàn luận hoặc sôi nổi, hoặc ngấm ngầm trong giới nghiên cứu, phê bình và sáng tác văn học Tuy nhiên, người ta nói và viết về ông thì nhiều nhưng hiểu về ông một cách chính xác và thấu đáo thì chưa có bao nhiêu Đã thế, một số cây bút phê bình, vì những động cơ khác nhau, lại hay thêu dệt chung quanh ông nhiều chuyện hay có, dở có để hoặc tâng bốc ông quá đáng, hoặc vu cáo ông, mạt sát ông, khiến vấn đề Vũ Trọng Phụng càng thêm rắc rối"
Cuốn Nhà văn Vũ Trọng Phụng với chúng ta (NXB Tp Hồ Chí Minh,
tháng 10.1999) do GS Trần Hữu Tá [30] ra mắt nhân kỷ niệm 60 năm ngày
Vũ Trọng Phụng qua đời là một công trình nghiêm túc, công phu nhằm "xem xét sơ lược vấn đề Vũ Trọng Phụng trong hơn 70 năm qua" với ý hướng thể
Trang 28hiện "sự trân trọng đúng mức của chúng ta hôm nay đối với thành quả sáng tạo của ông cho nền văn học Việt Nam hiện đại" GS Trần Hữu Tá lạc quan nghĩ rằng "thời gian tới, vấn đề Vũ Trọng Phụng cũng như nhiều vấn đề lý thú
và phức tạp khác của văn học Việt Nam - nhất là của những năm trước Cách mạng tháng Tám - sẽ được giới nghiên cứu tìm hiểu kỹ lưỡng, thấu đáo hơn, dưới ánh sáng của quan điểm đổi mới của Đảng về văn hóa nghệ thuật" Đó là nội dung cơ bản của phần thứ nhất - Tác giả và vấn đề - sau khi đã điểm qua tiểu sử và tác phẩm của nhà văn Vũ Trọng Phụng Phần thứ hai tập hợp 24 bài viết của những cây bút tên tuổi cùng thời với nhà văn Vũ Trọng Phụng, phần lớn là bạn bè thân hữu của ông, như: Ngô Tất Tố, Tam Lang, Lan Khai Nguyễn Tuân, Nguyễn Triệu Luật, Thanh Châu, Lưu Trọng Lư, Lê Văn Trương, Hoàng Cầm, Vũ Bằng, Nguyễn Vỹ, Đào Duy Anh, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan Những bài này, giúp người đọc tiếp cận và cảm thông sâu sắc với "một tài năng hiếm thấy nhưng chịu một số phận truân chuyên, chìm nổi cũng hiếm thấy" qua cảm xúc và hồi tưởng của những người viết Phần thứ ba gồm 53 bài viết tiêu biểu cho những nhận định khác nhau thậm chí trái ngược nhau về con người và tác phẩm Vũ Trọng Phụng qua 3 giai đoạn: trước Cách mạng tháng Tám (1934-1945); những năm kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) và chống Mỹ giải phóng miền Nam (1955 - 1975);
từ ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất đến nay (sau 1975) Qua đó, có lẽ đủ cho thấy bề rộng cũng như chiều sâu của "hiện tượng"
Vũ Trọng Phụng
Không thi vị hoá cuộc sống, không nhìn cuộc sống từ cái vỏ hào nhoáng bên ngoài, ngòi bút của Vũ Trọng Phụng cắm sâu vào cái ung nhọt, lật lên những trang đầy máu mủ với những sự thật ghê rợn và trần trụi Phóng sự Vũ Trọng Phụng đề cập đến những vấn đề lớn thuộc những tệ nạn, những vấn nạn
của xã hội đương thời Đó là sự tha hoá của đời sống thành thị: Phóng sự Kĩ
nghệ lấy Tây, Lục xì trở thành một trong những phóng sự xuất sắc nhất về số
phận bi thảm của gái mại dâm và bán mại dâm Cơm thầy cơm cô mêu tả rõ
ràng, chính xác nhất về cuộc sống bần cùng của những con sen, thằng ở
Trang 29Thiên phóng sự “Cạm bẫy người” trở thành một trong những phóng sự xuất
sắc điển hình nhất về tệ nạn cờ bạc ở nước ta trong chế độ cũ Một huyện ăn tết là điển hình nhất về tệ nạn tham nhũng trong xã hội đương thời
Ở phóng sự của Vũ Trọng Phụng luôn gắn kết chặt chẽ với chủ đề con người nên có giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo sâu sắc Một lời cảnh báo, một
thái độ thẳng thắn với cái xấu của con người Cuộc truy lùng cái ác, sự khám
phá các tệ nạn, vấn nạn xã hội trong phóng sự Vũ Trọng Phụng là dấu hiệu
chắc chắn của chủ nghĩa nhân đạo Các phóng sự kể trên của Vũ Trong Phụng luôn hàm chứa câu hỏi về cuộc sống con người Phải có một nỗi “đau đớn lòng” đến mức nào thì mới đặt được những câu hỏi trước “những điều trông thấy” như vậy Vũ Trọng Phụng luôn dành cho các nạn nhân những tình cảm xót thương, cảm thông sâu sắc Trong nhiều trường hợp, ông còn đứng ra, “tố khổ”, kêu oan, thanh minh, bênh vực họ, dứt khoát đứng về phía họ Trong phóng sự của họ Vũ có “biết bao nỗi thương tâm, bao tình nhân loại” (Vũ Ngọc Phan)
1.3 Một số biểu hiện của mạch lạc trong phóng sự
Qua những phân tích trên “biểu hiện ở mạch lạc” cho thấy sự biểu hiện của mạch là rất phong phú, đa dạng và phức tạp Trong đó, điển hình là những biểu hiện cơ bản của quan hệ nguyên nhân (mà rộng hơn nữa là quan hệ nguyên cớ, dựa trên cơ sở suy luận của người đọc) và quan hệ thời gian Với giới hạn của đề tài, trong luận văn này, chúng tôi chỉ đề cập đến mạch lạc theo quan hệ nhân quả và quan hệ thời gian trong một số phóng sự của Vũ Trọng Phụng
1.3.1 Mạch lạc biểu hiện qua quan hệ thời gian
Theo Gerard, thời gian phản ánh sự việc trong truyện, cụ thể là thời gian vật lý được xác định từ ba chiều đó:
- Trình tự
- Thời hạn
- Tần số
Trang 30Trong giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ tìm hiểu mạch lạc theo quan hệ thời gian ở quan hệ trình tự Quan hệ trình tự bao gồm:
-Trình tự trước sau: Các sự kiện lần lượt xuất hiện nối tiếp nhau theo thời gian
Ví dụ: trong phóng sự Cạm bẫy người, sự kiện: Anh Vân ủ dột, như có
vẻ chán đời xảy ra vào buổi “chiều hôm ấy” Sự kiện: anh Vân gọi bạc bịp về bắt ông cụ để lấy tiền tiêu và hết buồn chán diễn ra vào “hai hôm sau”
- Trình tự đồng thời:
Ví dụ: Trong phóng sự Cạm bẫy người, sự kiện Anh Vân ủ dột, như có
vẻ chán đời và sự kiện anh Vân thổ lộ với Tôi về bức thư mời Tham Ngọc về bắt ông cụ diễn ra cùng thời điểm “chiều hôm ấy”
1.3.2 Mạch lạc biểu hiện qua quan hệ nguyên nhân
Trong việc nghiên cứu phóng sự, các nhà tâm lý học quan niệm, phóng
sự là một chuỗi sự kiện có quan hệ nguyên nhân, trong đó điều kiện ban đầu kích hoạt những hoạt động hồi đáp bên trong, và cả bên ngoài, từ phía nhận vật Trên cơ sở đó, quan hệ nguyên nhân trở thành một quan hệ có tác dụng quyết định trong việc tạo và hiểu phóng sự
Giữa các sự kiện trong văn bản có thể có quan hệ nguyên nhân với nhau
Sự kiện này có thể là nguyên nhân cho sự việc kia Quan hệ nguyên nhân biểu hiện ở hai dạng là quan hệ nguyên nhân và mạng lưới quan hệ nguyên nhân
Ở dạng thứ nhất, quan hệ nguyên nhân dựa vào những cơ sở cụ thể như: tính ưu tiên về thời gian, tính còn hiệu lực, tính cần, tính đủ
Ở dạng thứ hai, mạng quan hệ nguyên nhân được xác định khi một chuỗi các quan hệ nguyên nhân có quan hệ chuyển tiếp từ cái này sang cái tiếp theo Cặp quan hệ nguyên nhân hệ quả thứ nhất là nguyên nhân cho cặp nguyên nhân hệ quả thứ hai và tiếp tục như thế đến kết thúc
Như vậy, các quan hệ nguyên nhân và mạng quan hệ nguyên nhân có vai trò như là những phương tiện giải đoán mạch lạc của văn bản nói chung, của phóng sự nói riêng Nhờ chúng mà ta có thể vạch ra sự phân biệt một bên là những sự kiện có tính chất ngoại vi, tức là những sự kiện có tính chất là
Trang 31những “ngõ cụt”, không liên thông được với truyện kể theo kiểu là những hệ quả của các quan hệ nguyên nhân
Chính vì vậy, tính nhân quả và tính thời gian gắn bó chặt chẽ và cũng lẫn lộn với nhau Xuất phát từ quan điểm của trường phái cấu trúc, giả định rằng một văn bản đều có thể phân chia ra thành những đơn vị cực nhỏ Todorov cho rằng cái quyết định tổ chức văn bản truyện chính là các kiểu quan hệ được xác lập giữa các đơn vị ấy Theo ông, có ba kiểu quan hệ đặc thù trong cấu trúc văn bản: trật tự nhân quả, trật tự thời gian và trật tự không gian Tuy nhiên, sự phân chia đó chỉ tồn tại trong việc xem xét và nghiên cứu Thực tế cho thấy, chúng không bao giờ tách rời nhau Và Todorow đã chỉ ra quan hệ khăng khít cũng như sự phân biệt trật tự nhân quả và trật tự thời gian một cách hết sức tinh tế Bản thân việc mạch lạc theo quan hệ nguyên nhân đã hàm chứa việc mạch lạc theo quan hệ thời gian Nhưng điều này cũng không
có nghĩa là một văn bản mạch lạc theo quan hệ thời gian là có mạch lạc theo quan hệ nguyên nhân
Dựa trên sự biểu hiện của các kiểu quan hệ, chúng tôi đi sâu khảo sát hai kiểu loại mạch lạc này Đó là mạch lạc theo quan hệ thời gian và mạch lạc theo quan hệ nguyên nhân
1.4 Tiểu kết
Những cách hiểu khác nhau về mạch lạc nói chung và những biểu hiện
về mạch lạc trong phóng sự nói riêng đã được chúng tôi trình bày ở chương thứ nhất của luận văn có thể khái quát lại như sau:
Mạch lạc là một hiện tượng phức tạp nhưng qua những biểu hiện của nó vẫn có thể hình dung được một cách cụ thể Đó là sự biểu hiện của mạch lạc trong quan hệ thời gian và quan hệ nguyên nhân
Phóng sự của Vũ Trọng Phụng là những tác phẩm nghệ thuật có nhiều giá trị, vì vậy, có kết cấu mạch lạc, chặt chẽ Sự mạch lạc và chặt chẽ biểu hiện ở nhiều phương diện, trong đó có phương diện quan hệ thời gian và quan
hệ nguyên nhân Kết cấu đó góp phần làm sáng giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo trong các phóng sự của “ông vua phóng sự đất Bắc”
Trang 32Chương 2 MẠCH LẠC THEO QUAN HỆ THỜI GIAN
Thời gian là một yếu tố quan trọng của truyện, và cũng chính là một trong những phương tiện hữu hiệu nhất để tổ chức nên nội dung truyện Bản thân nó góp phần làm nên tính rõ ràng, mạch lạc của truyện Trong phóng sự việc xử dụng mạch lạc theo quan hệ thời gian xuất hiện với một tần số lớn Mỗi phóng sự có một cách biểu đạt thời gian riêng nhưng cũng rất đa dạng và phong phú Theo hướng nghiên cứu hệ thống cấu trúc bao gồm quan hệ và mạng lưới các quan hệ, chúng tôi đi vào khảo sát quan hệ thời gian theo hướng này Trong đó mạch lạc theo quan hệ thời gian của phóng sự được thể hiện qua quan hệ thời gian và mạng lưới các quan hệ thời gian
2.1 Cấu trúc thời gian trong phóng sự
Khác với một số kiểu loại văn bản khác thường được sử dụng và hiểu quan hệ thời gian thuận một chiều, cấu trúc thời gian trong phóng sự không phải là một hiện tượng đơn giản, một chiều mà trái lại, là cấu trúc nhiều chiều, phức tạp Thời gian trong tác phẩm văn xuôi nghệ thuật là thể thống nhất của nhiều bộ phận khác Thời gian nghệ thuật không đồng nhất với thời gian vật lý, thời gian vũ trụ - với khái niệm thời gian như một thuộc tính của vật chất vận động Thời gian ở đây bao hàm nhiều yếu tố và các thi pháp học (Benveniste, Genette, Dẫn theo Lê Thị Đức Hạnh), [14,22] phân định thành
ba trục thời gian tự sự và thời gian phát ngôn Các trục thời gian này là hệ quả của quan điểm lý thuyết giao tiếp, nhìn nhận văn bản phóng sự như một dạng phát ngôn – hội thoại đặc biệt Trong đó:
Thời gian khi đi vào trong tác phẩm tự sự và trở thành thời gian nghệ thuật Đó chính là khoảng thời gian từ lúc bắt đầu diễn ra sự kiện cho đến lúc kết thúc sự kiện Thời gian trong tác phẩm tự sự có thể là thời gian đồng hiện
và có thể là thời gian hồi tưởng Thời gian đồng hiện được cụ thể hóa là buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều…Thời gian hồi tưởng là thời gian mà nhân vật tái hiện qua hồi ức hay qua sự hồi tưởng Có rất nhiều cách phân chia thời gian
Trang 33trong tác phẩm tự sự nhưng chúng tôi theo quan điểm của nhà tự sự người
Pháp G Gentte, thời gian trong tác phẩm tự sự chia làm ba loại:
- Thời gian lịch sử là thời gian theo truyền thống, cách hiểu thông
thường của đời sống là một chiều từ quá khứ đến hiện tại rồi đến tương lai
Chính đặc điểm này sinh ra tính trật tự tuyến tính, hay còn gọi là tính hình
tuyến theo thời gian, nghĩa là mọi sự việc xảy ra theo trật tự trước sau của nó:
việc trước kể trước, việc sau kể sau không có chuyện trật tự bị đảo lộn
Nhưng cùng với sự phát triển của xã hội, thì lối kể chuyện đó không là tất yếu
nữa, người ta kể chuyện mà không cần tuân theo trật tự thời gian, nghĩa là có
sự sai trật về niên biểu
- Thời gian tự sự là thời gian mà người ta kể chuyện mà không cần tuân
theo trật tự thời gian, nghĩa là có sự sai trật về niên biểu Thời gian được sắp
xếp theo chủ ý của tác giả và các sự kiện không còn lần lượt nối tiếp nhau
- Thời gian phát ngôn là thời gian văn bản tương ứng với đoạn thời gian
truyện kể (thời gian cốt truyện) đó để chỉ ra thời gian của việc kể chuyện và ý
nghĩa của nó Nhà văn là người ghi chép sự thực khách quan như nó vốn có
trong cuộc sống để tái hiện lại câu chuyện một cách chân thực nhất mà không
hề có sự thêm bớt nào cả Nhờ vậy tính khách quan được tạo ra từ lối kể
chuyện đó của tác giả sẽ có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng trong việc thuyết
phục độc giả về nội dung truyện kể mà tác giả đem đến cho người đọc Cụ thể
độc giả sẽ “dễ tin” hơn, dễ bị thuyết phục hơn về những chi tiết của truyện
Để xác định quan hệ thời gian và các từ ngữ biểu thị thời gian giữa các sự
kiện trong truyện, chúng ta phải đối chiếu hai trục thời gian lịch sử, thời gian
tự sự và thời gian kể để đi đến kết luận về quan hệ thời gian hồi tưởng hay
tiếp diễn giữa các sự kiện Đó là quan hệ thời gian thuộc lôgic hay ngược
lôgic và quan hệ đồng thời
Quan hệ đồng thời: Đó là khi các sự kiện cùng xảy ra trong cùng một
thời điểm Trong một trục thời gian lịch sử Mặc dù có thể sự kiện này được
kể trước, sự kiện kia được kể sau Trong văn bản, các sự kiện có quan hệ
đồng thời về mặt thời gian thường được thể hiện bằng các cụm từ chỉ thời
Trang 34gian tương đương chẳng hạn như: trong khi, cũng lúc ấy, bấy giờ, lúc đó, khi
đó…………
Quan hệ tiếp diễn: Đây là quan hệ thời gian thuộc lôgic Sự kiện xảy ra
trước kể trước, sự kiện xảy ra sau kể sau theo trật tự tuyến tính Đi vào thế giới nghệ thuật, trật tự này có thể bị thay đổi Dù vậy, quan hệ thời gian tiếp diễn giữa các sự kiện vẫn thường chiếm ưu thế so với quan hệ thời gian hồi tưởng, điều đó nói lên ưu thế của quan hệ thời gian tiếp diễn trong vai trò sâu chuỗi các sự kiện, tạo mạch lạc văn bản trong phóng sự của Vũ Trọng Phụng
2.2 Căn cứ xác định thời gian và các loại quan hệ thời gian
Giữa các sự kiện trong văn bản phóng sự nói chung thường tồn tại quan
hệ thời gian tiếp diễn, quan hệ thời gian đồng thời, quan hệ thời gian liên tưởng, hồi cố (các sự kiện tự sự đảo tuyến so với thời gian lịch sử) Nhờ mối quan hệ thời gian này các sự kiện trong văn bản được trình bày một cách mạch lạc, logic
2.2.1 Căn cứ xác định quan hệ thời gian giữa các sự kiện
2.2.1.1 Trạng ngữ biểu thị quan hệ thời gian trong từng sự kiện
+ Mốc thời gian cụ thể là những thời gian theo kiểu thuần túy, dựa vào
đó ta xác định được thời gian giữa các sự kiện
Ví dụ:
Buổi sáng hôm sau, qua phố Hàng Long, tôi gặp bác An tiễn chân ông
chú của Bác ….ra tàu ( Cạm bẫy người; T.99)
….Tôi đưa ra chục bạc Bác An mừng cuống quýt, vồ lấy tập giấy bạc
mà rằng:
- Rõ khổ! Sáng nay, Tôi chạy long cả tóc gáy mới vay nổi đồng bạc cho
ông lão về tàu Xin cảm ơn ông
Trạng ngữ, “Buổi sáng hôm sau, qua phố Hàng Long”, có ba chỉ dẫn
thời gian:
- Buổi sáng
- (của) hôm sau
- (khi) qua phố Hàng Long
Trang 35Nhờ nào tiền giả định “hôm trước” là hôm diễn ra cuộc đỏ đen ở nhà bồi
An, mà trạng ngữ này định vị thời gian diễn ra sự việc “Tôi gặp bồi An và
chia tiền được bạc” là buổi sáng sau ngày 30, vào thời điểm Tôi “ qua phố
Hàng Long”.Trạng ngữ “Sáng nay” trong lời thoại của nhân vật bồi An cũng
đồng nghĩa với “Buổi sáng hôm sau” được nói đến ở trên Có sự khác biệt
trong ngôn từ thể loại là do điểm nhìn trần thuật của người kể Tôi và của bồi
“Trước năm 1900, hình như nhà nước đặt nó ở phố Hàng Cân (27;368)
“Từ năm 1902 trở đi, ta mới có thể thấy một vài điêù cần biết” (27;368)
“Năm 1914, bẩy mươi tư phần trăm binh lính Pháp ở Bắc Kỳ mắc phải những bệnh hoa liễu” ( 27;370)
“Từ năm 1928, vào ngày 20 Mars, Hội Nhân quyền ở Pháp do ông Basch chủ tịch, đã nhóm họp tại hội Hội Văn học ở Paris, để kết án những đạo luật quy định nghề thanh lâu xưa nay.” (27;496)
“Vậy thì, vào hồi năm cùng tháng tận năm Đinh Sửu, tại huyện… - ấy chết, tôi chẳng nên nói rõ cả ra đây cái tên huyện ấy, dẫu rằng bất cứ chỗ nào, sự đời cũng đến vậy cả” (27 ;507)
“Tối hôm 25, ông chủ ty rượu, ngoài những “rượu mùi” bán tết không
kể phải đi lĩnh thêm 120 chai phông - ten.” (27 ;521)
Ở trên là các mốc thời gian cụ thể, dựa vào những mốc này ta xác định được thời gian xảy ra các sự kiện khác Các từ ngữ chỉ thời gian này không
Trang 36những có ý nghĩa định vị thời gian mà còn có giá trị xác định quan hệ thời gian giữa các sự kiện Cắn cứ vào các trạng ngữ chỉ thời gian này người đọc
có thể nắm được sự kiện xảy ra cụ thể vào thời gian nào
+ Từ ngữ biểu thị thời gian có tính chất phiếm định
“Vào thời ấy, Ba Sống, Hai Tôm là hai nhân vật quan trọng của xã hội”
(27 ;105)
“ Hồi ấy, nạn khủng hoảng chưa đến tác họa tại xứ này” ( 27;140)
“Một lát sau, cụ hấp tấp mở ngăn kéo, lại chìa cho tôi một lá thư nữa”
(27 ;173)
“Lúc thiếu thời, ngài thật là một người biết thờ đạo Trung dung của Đức Khổng” ( ;195)
“Một đêm, một quan tư thầy thuốc sai bồi đi gọi bà ta Tháng sau, bà
ta thành vợ quan tư thầy thuốc… Sau vài năm, ông quan tư ấy về rồi không sang
Năm sau, lại một ông quan tư khác đến kế chân ấy
Rồi được ít lâu, ông cũng về” ( 27 ;257 )
“Đến ngày ấy, trong xã hội Việt Nam sẽ có nhiều sự thay đổi, nhiều cuộc “cách mệnh”, nhiều vụ “loạn lạc”.” (27;502)
Tất cả những từ ngữ như “hồi ấy, có lần, lúc ấy…” đều là những từ ngữ
chỉ thời gian phiếm định, không thể hiện rõ một thời điểm cụ thể nào, chỉ biết
là thời điểm ấy đã qua, thuộc về quá khứ so với thời điểm phát ngôn Người đọc có thể căn cứ vào đó để lần theo dòng mạch lạc thời gian của phóng sự
2.2.1.2 Các từ ngữ chỉ dẫn quan hệ thời gian
* Một số hư từ biểu thị quan hệ thời gian giữa một số sự kiện: đã, đang, sẽ…
Không giống như các ngôn ngữ Ấn – Âu, phạm trù thời gian được thể hiện qua sự khác nhau của động từ ở dạng nguyên mẫu và động từ ở dạng nhân xưng, trong tiếng Việt, ý nghĩa của động từ cũng tham gia vào điều kiện tạo thành câu, nghĩa là tham gia vào mỗi quan hệ sau:
Trang 37
“Theo đó, hành động (đúng hơn là các dạng vận động) diễn ra trong hai khía cạnh mà người bản ngữ có thể tri giác được:
- Quan hệ với thời điểm phát ngôn
- Diến biến của vận động [10,162]
Sự thống nhất của hai khía cạnh này trên phương diện nghĩa đã cho phép một số từ phụ của động từ Tiếng Việt có khả năng diễn đạt ý nghĩa thời gian
Đó là các yếu tố phụ như: đã, sẽ, đang, từng,…Trong đó, các từ đã, từng có nét nghĩa được coi là chỉ tố tình thái và ý nghĩa thời gian cho quá khứ còn sẽ
có ý nghĩa tương lai; đang với ý nghĩa là hiện tại tiếp diễn
Ví dụ:
Tôi đang nằm nghĩ vớ vẩn về sự dung mười đồng bạc vừa hưởng được
trong khi làm cái phận sự ngồi cản ở phố Hàng Giò… Giữa lúc ấy, bác Vũ
đẩy cửa buốc vào Tối hôm nay, bác đã cất kỹ cái áo tây vàng và đóng một
bộ quàn áo chú rể: Khăn nhiễu, áo đoạn, giày ban… Ngồi chửa được hai phút, bác đã ân cần mời Tôi đến chơi nhà bác ta Tôi nhận lời cùng bác ra
đi, lên xe…
“Đã”, “đang”, “Giữa lúc ấy”… ở đây được xuất hiện với tư cách là từ
chỉ ra ý nghĩa quá khứ trong sự so sánh và quy chiếu với thời điểm xảy ra sự kiện Thông qua dấu hiệu hình thức này, người đọc có thể nhận diện được thời của sự kiện, mà cụ thể ở đây là thời điểm quá khứ mà các sự kiện đã xảy
ra và tác giả sắp sửa kể lại:
“Vì ông thân anh, một cụ phán thượng hạng đã về hưu, hưu bổng hàng tháng rất to, với bà mẫu anh, một người mẹ đảm, đã một tay tậu nổi mấy tòa nhà lộng lẫy mà không để cho anh được tự do tiêu, phá chăng?” (27;71)
Thực tại
Trang 38“Nhưng ông Nghị đã bày trò cho một tay sai của ông giở đến đòn trinh thám kia, còn mình trong lúc ấy lại hùa với ông Mầu, cùng đánh với ông, cùng thua với ông.” (27 ;116)
“Lẫn lộn trong đám hơn chục người này, tôi thâý ba đứa trẻ đã cùng ngủ với tôi trên gác đêm kia, trên những cái mặt ngây thơ, không lộ vẻ lo buồn gì cả (27;332)
“Bây giờ tôi lại phải tần ngần tự hỏi “Ta sẽ làm gì những câu chuyện ấy?” (27 ;348)
“Những gái quê thì hoặc đã chê chồng vì đã ăn phải bả tân thời hoặc đã
ra tỉnh làm con đòi, con sen mà không xong, hoặc đã đập trống ngực thình thình khi ngồi ở vệ hè, đương đói khát mà lại được vài ba cậu”công tử bột”
Hà thành nói vào tai những câu ân ái…” (27;403)
* Đại từ trực chỉ, hồi chỉ: này, kia, ấy, nọ…
Ví dụ:
Lần này, tôi không phải bận tâm trong khi lại ngồi chung xe với bác
Vũ… Lần ấy, tôi không hiểu rằng mấy người kia đã làm lạ vì tại họ thấy tôi,
một người không hề tạp giao mà lại đi ngồi chung xe với mọt cánh trếch…
Ở ví dụ trên, đại từ trực chỉ “lần) này” chỉ thời điểm diễn ra sự kiện Tôi nhận lời mời của Ký Vũ, cùng bác lên xe… Còn đại từ hồi chỉ “(lần) ấy”
là chỉ thời điểm của sự kiện đã diễn ra và được nhắc đến ở trước: “lần thứ
nhất đến phố Hàng Giò” cùng Ký Vũ săn con mòng “thạo” là ông chú họ bồi
An Việc sử dụng hai đại từ đã mang lại giá trị định vị thời gian và nối kết hai
sự kiện lại với nhau
* Động từ có tính hồi tưởng để kết nối sự kiện: nhớ lại, nghĩ lại, nhớ về…
“Anh Vũ đăm đăm nhìn tôi một cách cảm động rồi kể lể cái đoạn đời
Trang 39lúc có cái tâm thần thư thái lúc ngồi câu, xem cụ có phải kính phục cái “triết học” của me ấy không?” (27;244)
2.2.1.3 Căn cứ vào sự suy luận nội dung các sự kiện
* Trong phóng sự Cạm bẫy người, nhân vật tôi từ việc tò mò tìm hiểu về lối cờ bạc bịp mà đã đi thẳng vào trùm đảng bịp ở Hà thành và một số tỉnh lân cận Sự kiện mở đầu cho cuộc khám phá đó là việc nhân vật Vân dắt bạc bịp
về “bắt” cha đẻ của mình để moi tiền, đó cũng là cơ hội để nhân vật tôi xâm nhập vào thế giới của những “tay” cờ bạc bịp Tiếp đó, hàng loạt tiểu sự kiện
lần lượt xuất hiện như:
+ Vân và nhân vật tôi đến ngõ Hàng Cá, Hà Nội gặp trùm đảng bạc bịp
ấm B Ấm B kể lại tiểu sử của mình và hướng dẫn cho hai “đệ tử” mới cách
“làm ăn”, cách “bày binh bố trận” và cách thủ đoạn khác nhau ững với mỗi
con bạc cụ thể
+ Vân và nhân vật tôi gặp Bồi An tại nhà Bồi An và được nghe gia chủ
kể về nhiệm vụ “đánh che mắt” của mình Nhân vật tôi được cử làm “người
lính cản” trong cuộc bạc tại nhà Bồi An mà ông chú hộ của chủ nhà là con
mòng “thạo” Ký Vũ là nhà thiện xạ Kết quả thuộc về nhà đi săn Nhân vật tôi được nghe Ký Vũ kể về cái đoạn đời “chẳng ra gì” của mình, kể về cuộc
đấu trí giữa ông trùm ấm B và ông chủ buôn gỗ Nguyễn Đình Mầu
+ Sau cuộc bạc giữa âm B và ông Nguyễn Đình Mầu, nhân vật tôi có
cuộc nói chuyện với ông chú họ và với ấm B và được “mục kích cái tài cầm
quân của ông trong môn trạc xếch” ở phố Hàng Bạc
+ Sau chiến thắng ở phố Hàng Bạc, nhân vật tôi được Ấm B cho xem
“ngón nghề” và hôm sau dẫn đi xem “xưởng chế tạo khí giới”
+ Tại “xưởng chế tạo khí giới” của Ba Mỹ Ký, “tôi” được thấy một cỗ
thủy ngân và xem Ấm B dạy cho Ba Mỹ Ký những cách ra vào con xúc sắc
để “làm ăn” Tôi còn được Ấm B kể về Ba Mỹ Ký, kể về “cái áo khí giới”
+ Tại nhà Ấm B, sau khi Vân thua bạc ở phố Khâm Thiên về, Ấm B đã
chỉ rõ Vân bị “đưa vào xiếc” Tôi là người chứng kiến Ấm B diễn lại thủ đoan
Trang 40đó và nghe Ấm B kể lại hai thủ đoạn bạc bịp dùng trong lúc “chấp kinh tòng
quyền”, không có sẵn trong chương trình B
+ Sau cuộc nói chuyện nhằm tố giác Tham Ngọc, Ấm B kể cho “tôi” nghe về Tham Ngọc “Tôi” được nghe Tham Ngọc kể về việc “làm ăn” ở Chợ Chu…
+ Sau một loạt hành trình, “tôi”về Bắc Ninh và được bố Vân cho biết rằng ông đã biết về việc những việc Vân làm
+ “Tôi” về Hà Nội, nói chuyện với Mỹ Bối về tình hình cờ bạc hiện tại
và Mỹ Bối không ngần ngại nói lên sở thích “nhúng tay vào tất cả những việc
ám muội” và chuẩn bị cho chiếu bạc ở Đường Thành
+Sau “chiến thắng” ở Đường Thành, “tôi” được Ấm B kể về Thượng Kí
với bốn ngón bịp đòn: đòn bát nhé, đòn bát lò xo, đòn nam châm, đòn thủy
ngân đã bao bọc Hà Thành trong một cái “lưới nhện” ghê ghớm
+ Tại đám ma Mỹ Ký Có đủ đủ mặt nhân vật của làng bịp, với bài điếu văn của làng cờ bạc rất khôi hài Nhưng đang lúc đưa đám, Ấm B và Vân cùng mang “khí giới” đi Hòa Bình Khi đó, anh em làng bịp bỏ đám ma, lên
xe điện đi hết
Trong Kĩ nghệ lấy Tây, qua 10 chương phóng sự, Vũ Trọng Phụng đã
làm sống dậy cả lịch sử hình thành và phát triển của nghề lấy Tây ở Thị Cầu,Chùa Thông, Tuyên Quang, Việt Trì Đi sâu vào thế giới của các me Tây,
nhân vật Tôi đã phát hiện hàng loạt điều “mới mẻ” vì “lấy tây” đã trở thành
một ngề rất mốt và được luyện thành kĩ nghệ Đó chỉ là quan hệ mua và bán
khi “người đàn bà chỉ cần có tiền và người đàn ông chỉ cần đến nhục dục”
Nhân vật Tôi dần dần khám phá ra và ghi lại những bức chân dung từ các vị
sư tổ: Bà ách Nhoáng, bà đội Chóp đến các bà Kiểm Lâm, bà cai Budich… đến những cô Duyên, cô Tích, cô Ái mỗi cảnh đời gắn liền với một kiểu chồng Tây Song tất cả đều chung một số phận, một thân phận, đó là số phận người phụ nữ trong xã hội thực dân đế quốc
Nghề lấy Tây cũng có muôn hình vạn trạng Tác giả nhìn thấy nó dưới góc độ khá đặc biệt và hài hước của một “kỹ nghệ”, có “đào tạo” và có