Luận văn của chúng tôi sẽ tập trung khảo sát, nghiên cứu những đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm Vũ Trọng Phụng vận dụng quan điểm ngữ dụng sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm lí thuyết
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN TRƯỜNG SƠN
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM SỐ ĐỎ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN TRƯỜNG SƠN
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM SỐ ĐỎ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
Ngµnh: Ngôn ngữ Việt Nam
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2018
Tác giả luận văn
NGUYỄN TRƯỜNG SƠN
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin gửi lời cảm ơn trân trọng Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học, các giảng viên Khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên cùng gia đình, bạn bè đã động viên, tạo điều kiện cho tôi trong thời gian học tập
và nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS
Hà Quang Năng, người đã hết sức tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2018
Tác giả
NGUYỄN TRƯỜNG SƠN
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa và đóng góp của luận văn 6
7 Cấu trúc dự kiến của luận văn 7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 8
1.1 Hội thoại và các dạng thức hội thoại 8
1.1.1 Khái niệm hội thoại 8
1.1.2 Vận động hội thoại 9
1.1.3 Các dạng thức hội thoại 11
1.2 Một số vấn đề chung về từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt 17
1.2.1 Khái niệm từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt 17
1.2.2 Phân loại từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt 18
1.3 Từ thông tục 20
1.4 Thành ngữ trong tiếng Việt 21
1.5 Vài nét về cuộc đời, sự nghiệp và tiểu thuyết Số đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng 23
1.5.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Vũ Trọng Phụng 23
1.5.2 Tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng 25
Trang 61.6 Ngôn ngữ nhân vật và từ ngữ trong lời thoại nhân vật của tác phẩm
Số đỏ Vũ Trọng Phụng 28 1.6.1 Ngôn ngữ nhân vật 28 1.6.2 Từ ngữ trong lời thoại nhân vật của tác phẩm Số đỏ Vũ Trọng Phụng 30 1.7 Tiểu kết 31
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ NHÂN VẬT TRONG TÁC
PHẨM SỐ ĐỎ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG QUA TỪ NGỮ XƯNG HÔ 32
2.1 Một số vấn đề chung về từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt 32 2.2 Các loại từ ngữ xưng hô trong ngôn ngữ nhân vật của tiểu thuyết Số
đỏ của Vũ Trọng Phụng 32 2.2.1 Nhân vật dùng từ xưng hô là đại từ 32 2.2.2 Từ xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc và các danh từ khác 41 2.3 Từ xưng hô và các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng 50 2.3.1 Mối quan hệ giữa xưng hô và kiểu nhân vật 50 2.3.2 Từ xưng hô của một số kiểu nhân vật trong tiểu thuyết Số đỏ của
Vũ Trọng Phụng 51 2.4 Tiểu kết chương 2 60
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM
TSỐ ĐỎ CỦA NHÀ VĂN VŨ TRỌNG PHỤNG QUA TỪ NGỮ THÔNG TỤC VÀ THÀNH NGỮ 61
3.1 Dẫn nhập 61 3.2 Từ thông tục trong lời thoại nhân vật 63 3.2.1 Từ thông tục trọng lời thoại nhân vật ở tiểu thuyết Số đỏ của
Vũ Trọng Phụng 63 3.2.2 Từ ngữ thông tục của một số kiểu nhân vật trong tiểu thuyết Số đỏ 69
Trang 73.2.3 Vai trò của từ ngữ thông tục trong ngôn ngữ nhân vật của tiểu
thuyết Số đỏ 74
3.3 Vai trò của việc sử dụng thành ngữ trong ngôn ngữ nhân vật ở tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng 75
3.4 Tiểu kết 80
KẾT LUẬN 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
NGUỒN TƯ LIỆU KHẢO SÁT CỦA LUẬN VĂN 88
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng thống kê tần số sử dụng ĐTNX trong lời thoại nhân vật của
tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng 33 Bảng 2.2 Bảng thống kê số lượng và tần số xuất hiện các từ xưng hô có
nguồn gốc từ danh từ thân tộc và các từ các danh từ khác của nhân vật trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng 42 Bảng 3.1 Bảng thống kê các từ ngữ thông tục được sử dụng trong tiểu
thuyết Sô đỏ của Vũ Trọng Phụng 61
Bảng 3.2 Bảng thống kê các thành ngữ được sử dụng trong tiểu thuyết Số
đỏ của Vũ Trọng Phụng 76
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Giao tiếp bằng ngôn ngữ được thực hiện dưới hai dạng nói và viết Tác phẩm văn học là sản phẩm giao tiếp thuộc phong cách viết nhưng lại có tính tích hợp cả hai phong cách nói và viết thành một dạng giao tiếp đặc thù: giao tiếp nghệ thuật Văn học là tấm gương phản ánh đời sống xã hội Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, do vậy, thể hiện một cách sinh động hoạt động giao tiếp của con người trong xã hội thông qua sự sáng tạo của nhà văn Nghiên cứu ngôn ngữ trong hoạt động hành chức trong cuộc sống là một trong những hướng nghiên cứu mà ngôn ngữ học hiên đại đang quan tâm Vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu ngôn ngữ trong tác phẩm văn học là một cách tiếp cận phù hợp với xu hướng nghiên cứu mới cả về phương diện lí luận và phương diện cụ thể
Ngôn ngữ ra đời đáp ứng nhu cầu giao tiếp của xã hội Tùy theo hoàn cảnh, nội dung, mục đích giao tiếp mà người giao tiếp lựa chọn cách xưng hô sao cho phù hợp Việc sử dụng các đại từ nhân xưng và lớp từ xưng hô khác trong hội thoại là rất quan trọng Bởi vì, các đại từ nhân xưng và lớp từ xưng hô thể hiện thái độ tình cảm của người nói đối với người nghe hay đối tượng được nói tới
Vũ Trọng Phụng là một trong số các nhà văn có nhiều tác phẩm thành công ở thể loại tiểu thuyết, tạo ra phong cách, giọng điệu riêng Các tác phẩm của nhà văn này đã phản ánh được nhiều vấn đề nóng bỏng về hiện thực xã hội Ngôn ngữ của các nhân vật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng có nhiều điều đáng được quan tâm Ông sử dụng rất nhiều các đại từ nhân xưng và lớp từ xưng hô khác trong tác phẩm của mình, điều này mang rất nhiều dụng ý nghệ thuật của tác giả Vậy, việc Vũ Trọng Phụng sử dụng từ xưng hô là các đại từ nhân xưng, từ xưng hô có nguồn gốc là danh từ thân tộc, từ ngữ thông tục và thành ngữ trong tác phẩm của ông mang lại hiệu quả nghệ thuật như thế nào?
Trang 10Nó có ý nghĩa gì trong việc thể hiện đề tài, nội dung từ tưởng tác phẩm và tài
năng của nhà văn? Đó là lí do chúng tôi chọn đề tài: “Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm Số đỏ của Vũ Trọng Phụng” cho công trình luận văn
của mình Luận văn của chúng tôi sẽ tập trung khảo sát, nghiên cứu những đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm Vũ Trọng Phụng vận dụng quan điểm ngữ dụng sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm lí thuyết ngôn ngữ dưới ánh sáng ngữ dụng học và thêm một lần nữa khẳng định tài năng, những đóng góp của nhà
văn vào thành công của nền văn học Việt Nam đương đại
2 Lịch sử vấn đề
Việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp đã trở thành một trong những hướng nghiên cứu được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm Những kết quả nghiên cứu ở lĩnh vực này được các nhà nghiên cứu triển khai theo những hướng khác nhau, như: nghiên cứu về dụng học - Pragmatics (J.L Austin, 1965; Ch.W Morris, 1966; J.R Searle, 1969); nghiên cứu về ngôn ngữ học xã hội - Socio - Lingiustics (Nikolski, 1920; E Sapir, O Jespersen, 1922, ); hướng nghiên cứu về ngôn ngữ học văn bản - Text Lingiustics (L Bloomfield, 1926; E Benveniste, 1960; A.A Reormatxky, 1967, ) Ở hướng nghiên cứu dụng học, các nhà ngôn ngữ học xác định 4 vấn đề: sự chiếu vật và chỉ xuất, nghĩa tường minh và hàm ẩn, hành động ngôn ngữ
và lí thuyết hội thoại Trong các vấn đề đó, lí thuyết hội thoại (bàn về lĩnh vực giao tiếp đối thoại) được xem là một vấn đề trọng tâm "Ngôn ngữ chỉ sống trong sự giao tiếp đối thoại giữa những người sử dụng ngôn ngữ Sự giao tiếp đối thoại chính là lĩnh vực đích thực của cuộc sống ngôn ngữ Toàn bộ cuộc sống của ngôn ngữ, trong bất kì lĩnh vực nào sử dụng nó (sinh hoạt, sự vụ, khoa học, nghệ thuật v.v) đều thấm nhuần những quan hệ đối thoại" [32, tr.172] Nghiên cứu ngôn ngữ hội thoại nói chung, ngôn ngữ nhân vật nói riêng không thể tách nó khỏi lĩnh vực lời nói, tức khỏi ngôn ngữ với tư cách là hiện tượng toàn vẹn cụ thể
Trang 11Ở Việt Nam, các nhà ngôn ngữ học đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực ngữ dụng học, ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ học văn bản đề cập đến
sự hành chức của ngôn ngữ trong giao tiếp Về vấn đề ngôn ngữ hội thoại, ngôn ngữ nhân vật, các hành động ngôn ngữ, đã có nhiều nghiên cứu ở các quy mô khác nhau, đề cập đến ở những mức độ khác nhau Trong các công trình nghiên cứu, các tác giả đã nêu lí thuyết hội thoại, nhận xét, đánh giá về đặc điểm và
các phương diện hội thoại Đỗ Hữu Châu nhấn mạnh: "Hội thoại là hoạt động
giao tiếp căn bản, thường xuyên, phổ biến của sự hành chức ngôn ngữ ( ) Phải nghiên cứu sự hành chức của những cặp trả lời như cặp hỏi/trả lời theo một quan điểm hội thoại, tức trong sự đối đáp của các nhân vật giao tiếp trong một hoàn cảnh nhất định" [8, tr.276] Nhiều công trình nghiên cứu về hội thoại
đã được công bố như: Về ngữ nghĩa của lời (Hoàng Phê, 1981); Phân tích các nhân tố trong hội thoại (Nguyễn Thiện Giáp, 1999); Ngữ nghĩa lời hội thoại
(Đỗ Thị Kim Liên, 1999), v.v Nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về
ngôn ngữ hội thoại trong các hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Chẳng hạn, Ứng xử ngôn
ngữ trong giao tiếp gia đình người Việt (Nguyễn Văn Khang chủ biên, 1999); Phân tích về vai trò của từ trong hoạt động giao tiếp (Bùi Minh Toán, 1999); Bàn
về vai xã hội và ứng xử trong giao tiếp (Nguyễn Như Ý, 1990); Phân tích đặc điểm của khẩu ngữ tiếng Việt và rèn luyện kĩ năng giao tiếp (Nguyễn Chí Hòa,
2009); Về từ xưng hô trong gia đình đến ngoài xã hội của người Việt (Bùi Minh
Yến, 2001), v.v
Tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng đã mang lại cái nhìn vô cùng mới mẻ về xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX Cho đến nay, những bài nghiên cứu, viết về cuộc đời, tác phẩm của ông đã lên tới hàng trăm bài Theo Nguyễn Quang Trung trong
cuốn “Tiếng cười Vũ Trọng Phụng”, (NXB Văn hóa thông tin, 2002) đã thống kê,
có hơn 200 bài tiểu luận, nhiều cuốn sách, chuyên đề luận văn, luận án nghiên cứu
về cuộc đời, sự nghiệp của Vũ Trọng Phụng; và sau 12 năm qua, chắc chắn sẽ có
Trang 12rất nhiều bài viết về ông Điều này càng thêm khẳng định tài năng kiệt xuất, những cống hiến của ông đối với nền văn học nước nhà cũng như sự yêu thích của các nhà nghiên cứu đối với các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng
Các công trình nghiên cứu về tác giả, tác phẩm của Vũ Trọng Phụng nói chung và nghiên cứu về tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng nói riêng cho đến nay là tương đối nhiều, song mỗi nhà nghiên cứu lại có cách đánh giá riêng, dưới những góc nhìn riêng
Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn trong cuốn “Nhà văn tiền chiến và quá
trình hiện đại hóa văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX cho tới 1945” (NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2005) đã nhận xét: Vũ Trọng Phụng là một nhà văn tài hoa trên cả hai lĩnh vực phóng sự và tiểu thuyết, song trước hết Vũ Trọng Phụng là một “kiện tướng” về phóng sự, bởi xét về mặt thể tài thuần túy, phóng
sự của Vũ Trọng Phụng đã là một cái gì rất chín, rất thành thục không chê vào đâu được Sở dĩ nói Vũ Trọng Phụng đi xa hơn cả so với nhiều cây bút phóng
sự khác là ở chỗ trong khi miêu tả những sự đời ấy, ông biết làm cho nó lung linh lên, thật đấy mà huyễn hoặc đấy, ma quái đấy Những sự thật được ông khai thác đôi khi tưởng như riêng lẻ, cá biệt song lại nói được bản chất sự vật”
Trong cuốn “Đặc sắc văn chương Vũ Trọng Phụng” (NXB Thanh Niên,
2008), tác giả Trần Đăng Thao cho rằng “cái tôi trần thuật của nhà văn họ Vũ
đã vươn đến giọng điệu bình luận sắc sảo, kín đáo, hay hàm ý trào phúng, phê phán sâu cay và bộc lộ trực tiếp nhận thức của chính nhà văn trước sự vật và hiện tượng”
Có thể nói, các công trình nghiên cứu trên chủ yếu mới từ góc độ ngôn ngữ, chưa có công trình nào nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong
tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng
Như vậy, căn cứ vào tình hình thực tiễn nghiên cứu về đặc điểm ngôn
ngữ và về tác giả Vũ Trọng Phụng, chúng tôi chọn đề tài: “Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng”
Trang 133 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn cần tập trung giải quyết tốt các
nhiệm vụ sau:
a Hệ thống hóa các quan điểm lí luận chung liên quan đến đề tài, như: lí
thuyết hội thoại, hành động ngôn ngữ trong hội thoại của nhân vật, nhân vật và ngôn ngữ nhân vật, vai trò của từ ngữ trong tác phẩm, qua đó xác lập cơ sở lí
luận cho việc nghiên cứu;
b Khảo sát, thống kê, phân loại nguồn ngữ liệu liên quan đến ngôn ngữ
hội thoai, các lời thoại của nhân vật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng;
c Miêu tả, phân tích, nêu vai trò của các lớp từ ngữ tiêu biểu trong việc thể hiện đặc điểm ngôn ngữ nhân vật qua các lời thoại nhân vật trong tiểu
thuyết Vũ Trọng Phụng;
d Tổng hợp, rút ra những đặc điểm nổi trội về sự hành chức của các lớp
từ ngữ trong lời thoại nhân vật và đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết
Vũ Trọng Phụng, từ đó góp phần làm rõ phong cách ngôn ngữ của nhà văn này
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu
thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài ở việc tìm hiểu từ ngữ trong lời thoại nhân vật bao gồm từ xưng hô là đại từ, từ
Trang 14xưng hô là danh từ thân tộc và các danh từ khác, việc sử dụng các từ ngữ thông
tục, các thành ngữ trong tiểu thuyết “Số đỏ” của nhà văn Vũ Trọng Phụng từ
góc độ ngữ dụng
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thống kê - phân loại được dùng để thống kê các câu văn
là lời thoại của nhân vật; các từ ngữ tiêu biểu trong ngôn ngữ nhân vật; phân loại các lớp từ ngữ, tính tần số sử dụng của các từ ngữ Phương pháp này vừa là
cơ sở để xác định đối tượng nghiên cứu (từ ngữ của ngôn ngôn ngữ nhân vật), vừa cung cấp các số liệu làm minh chứng cho các luận điểm trong từng chương của luận án
5.2 Phương pháp so sánh phân tích diễn ngôn dùng để phân tích các ngữ liệu trên các bình diện của diễn ngôn hội thoại, chỉ ra sự chi phối của các nhân
tố giao tiếp, của các phương châm hội thoại đến các tuyến nhân vật và ngôn ngữ của họ; tổng hợp để rút ra đặc điểm khái quát về từ ngữ trong ngôn ngữ của nhân vật trong tác phẩm, đối chiếu để chỉ ra sự giống và khác nhau trong ngôn ngữ của nhân vật
5.3 Phương pháp phân tích ngữ nghĩa - ngữ dụng được dùng trong tìm hiểu nội dung ý nghĩa của từ ngữ và vai trò của chúng trong lời thoại của các
nhân vật tham gia giao tiếp trong tác phẩm
6 Ý nghĩa và đóng góp của luận văn
6.1 Ý nghĩa lí luận
Có thể nói, đây là công trình nghiên cứu toàn diện, hệ thống và đầy đủ đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm Số đỏ của Vũ Trọng Phụng ở bình diện từ ngữ từ góc độ ngữ dụng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ phục vụ thiết thực cho việc giảng dạy tác phẩm văn học trong nhà trường, cung cấp một cách tiếp cận mới đối với việc phân tích tác phẩm văn học, phân tích nhân vật từ góc độ ngôn ngữ học nói chung, ngữ dụng học nói riêng
Trang 157 Cấu trúc dự kiến của luận văn
Ngoài phần mở đầu, nội dung, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn sẽ gồm 3 chương có bố cục như sau:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết
Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm Số đỏ của Vũ
Trọng Phụng qua từ ngữ xưng hô
Chương 3: Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm Số đỏ của Vũ
Trọng Phụng qua sử dụng từ thông tục và thành ngữ
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Hội thoại và các dạng thức hội thoại
1.1.1 Khái niệm hội thoại
Theo quan điểm chung của các nhà nghiên cứu đều cho rằng Hội thoại là
hình thức giao tiếp thường xuyên, căn bản, phổ biến của ngôn ngữ và cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động khác
Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) hội thoại “là sử dụng một
ngôn ngữ để nói chuyện với nhau” [26, tr 444]
Đỗ Hữu Châu không đưa ra định nghĩa hội thoại nhưng khẳng định
tầm quan trọng của nó: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ
biến của ngôn ngữ, có cũng là hình thức cơ sở cho mọi hoạt động ngôn ngữ khác”[10, tr 201]
Tác giả Nguyễn Đức Dân chỉ rõ hơn đặc điểm của hội thoại: “Trong giao
tiếp hai chiều, bên này nói, bên kia nghe và phản hồi trở lại Lúc đó vai trò của hai bên thay đổi: bên nghe lại trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe
Đó là hội thoại Hoạt động giao tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất là hội thoại”
[12, tr 76]
Theo tác giả Nguyễn Như Ý đã nhấn mạnh: “Hội thoại là hoạt động
giao tiếp bằng lời ở dạng nói giữa các nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo đích được đặt ra” [41, tr.122] Theo Đỗ Thị
Kim Liên: “Hội thoại là một trong những hoạt động ngôn ngữ thành lời giữa
hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ cảnh nhất định mà họ có sự sáng tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định” [19, tr.18] Trong nhiều tác phẩm văn học, cùng với ngôn ngữ
của tác giả là sự xuất tồn tại luân phiên, xem kẽ ngôn ngữ hội thoại của các nhân vật
Trang 17Trong bất kể một tác phẩm văn học nào, hội thoại hầu như đều có mặt,
nó không xuất hiện độc lập mà luôn gắn liền với ngôn ngữ của tác giả, hoàn thiện tác phẩm ở cả mặt nội dung và hình thức
1.1.2 Vận động hội thoại
Để hình thành một cuộc hội thoại gồm có cấu trúc: sự trao lời, sự trao đáp và sự tương tác Để hình thành một cuộc giao tiếp hoàn chỉnh và đúng hình thức thì đây là những điều kiện cần phải có
Để thực hiện cuộc hội thoại, ban đầu người nói đưa ra phát ngôn của mình hướng về phía người nghe nhằm phát đi thông tin và hướng tới một đối tượng nhất định nào đó, hoạt động đó được gọi là trao lời “vận động trao lời của người nói”
Sau khi tiếp nhận phát ngôn từ phía người nói, người nghe sẽ phản hồi bằng cách đưa ra phát ngôn nhằm thể hiện quan điểm, tư tưởng, tình cảm của mình để đáp trả lại ý kiến của người nói, đây được gọi là “sự trao đáp”
Trong quá trình hội thoại, các đối ngôn sẽ ảnh hưởng lẫn nhau, tác động đến cách thức giao tiếp của nhau Đó được xem là vận động tương tác xảy ra trong hội thoại
1.1.2.1 Sự trao lời
Đây là vận động đầu tiên xuất hiện trong một cuộc hội thoại “Trao lời là vận động mà Sp1(vai nói) nói lượt lời của mình và hướng lượt lời của mình về phía Sp2 (vai nghe) nhằm làm cho Sp2 nhận biết được rằng lượt lời được nói ra đó
là giành cho Sp2.”[10, 205]
Ví dụ 10: “Thưa ngài, ngài là một người chồng mọc sừng!” [1, 345]
Phát ngôn trên là của Sp1 (Xuân tóc đỏ) hướng đến Sp2 (ông Phán mọc sừng) nhằm thực hiện hợp đồng đã thỏa thuận giữa hai người
Trong lời trao, sự có mặt của Sp1 là tất yếu, không thể thiếu Sự có mặt đó thể hiện ở nhiều dấu hiệu như: từ xưng hô ngôi thứ nhất, tình cảm, thái độ, quan
Trang 18điểm của Sp1 trong nội dung lời trao Ngoài ra còn phải kể đến những yếu tố phi lời khác như: điệu bộ, cử chỉ, nét mặt, ánh mắt…; qua những yếu tố hàm ẩn tiền giả định trong giao tiếp, qua những yếu tố ngôn ngữ tường minh như lời hô gọi, chỉ định, lời thưa gửi…
1.1.2.2 Sự trao đáp
Trao đáp hay còn gọi là sự đáp lời là lời mà Sp2 (vai nghe) dùng để đáp lại lời của Sp1( người nói) Phải có lời trao đáp thì một cuộc thoại mới chính thức được hình thành
Ví dụ 11:
“Sp1: Ô kìa, con bé lạ nhỉ? Thế mày làm sao?
Sp2: U ạ, dễ thường tôi…dễ thường tôi chửa…”[1, tr.99]
Đây là lời trao đáp của Sp2 (nhân vật thị Mịch) thông báo với Sp1 (nhân vật
bà Đồ) về việc mình đã mang thai với Nghị Hách
Ví dụ 12:
“Sp1: Mẹ kiếp! Con Giời với chả con Phật!
Sp2: Cứ nói nhảm thế, chứ cậu ấy còn bé dại như thế, đã biết quái gì!”
[1, 400]
Trong ví dụ trên, lời trao đáp của Sp2(người vú nuôi) thể hiện thái độ phản đối với hành vi cảm thán thể hiện sự bất bình, chê trách của Sp1(Xuân tóc đỏ) trước lối sống của con trai bà Phó Đoan
1.1.2.3 Sự tương tác
Trong quá trình hội thoại, các đối ngôn sẽ có ảnh hưởng lẫn nhau, tác động đến cách ứng xử của nhau Đây được xem là vận động tương tác xảy ra trong hội thoại Trước khi hội thoại giữa các đối ngôn tồn tại một khoảng cá ch nhất định về
sự hiểu biết lẫn nhau, về tâm lí, tình cảm… Sau khi hội thoại,nếu những khoảng
Trang 19cách ấy được thu hẹp lại, rút ngắn lại, khi ấy có thể nói đã có một cuộc hội thoại tích cực Ngược lại, khoảng cách ấy vẫn giữ nguyên hoặc mở rộng ra, khi ấy cuộc thoại có thể bị xem là tiêu cực Tương tác là một kiểu quan hệ xã hội giữa người với người Có một hoạt động xã hội thì có sự tương tác Tương tác bằng lời là một kiểu tương tác, là hình thức giao tiếp bằng ngôn ngữ
Ví dụ 13:
“Sp1: Nhục! Giời ơi! Nhục ơi là nhục!
Sp2: Ô hay! Đẻ làm gì thế? Đi phu thì đã làm sao?
Như vậy trong các cuộc hội thoại ba vận động: trao lời, đáp lời, tương tác
là ba vân động đặc trưng, có mối quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời Bằng vận động trao lời, đáp lời, các nhân vật hội thoại sẽ tự hòa phối, liên hòa phối để thực hiện vận động tương tác
1.1.3 Các dạng thức hội thoại
Qua khảo sát và thống kê các tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, chúng tôi nhận thấy, ngôn ngữ của tác giả sử dụng nhiều dạng thức hội thoại như đơn thoại, song thoại, tam thoại, đa thoại Dưới đây là những dạng thức hội thoại
1.1.3.1 Đơn thoại
Có thể hiểu trên cơ sở lí thuyết thì đơn thoại là lời thoại của một nhân vật
phát ra hướng đến người nghe nhưng không có lời đáp trực tiếp Việc tiếp nhận
Trang 20nội dung lời thoại được phản hồi bằng hành động thực hiện hay cử chỉ không được tác giả trực tiếp mô tả
Dạng đơn thoại biểu hiện rõ nhất ở kiểu lời trần thuật của nhân vật, có
nghĩa là lời nói của nhân vật có xen một yếu tố kể của mình, của người Có thể minh chứng bằng ví dụ sau:
“Nó đọc thật to, lại lai nhai giọng hò như giọng ê a của đứa trẻ con học bài thuộc lòng chữ Hán vậy Có điều đáng lạ là bài nó học chính tự nó đặt ra:
- Mẹ kiếp! Quần với chả áo! Cái này là cái gì? À Lời hứa! Thắt đáy,
nở ngực, nở đít… phải phải! Thắt đáy, nở ngực, nở đít là Lời hứa! Hở ngực, hở tay, hở đù là Chinh phục! Hở đến nách và nửa vú là ngây thơ!
Cái chổi cướng cái đinh rơi xuống đất Nó cúi nhặt mồn vẫn đọc to:
- Hở đến nách và nửa vú là Ngây thơ! Hở… hở là… Ngây thơ!” [28, tr 54]
Đoạn văn là lời thoại của nhân vật “nó” với việc học thuộc những mẫu
thời trang mà nó được giao một cách nhanh nhất Động từ dẫn: “Nó đọc thật
to” “mồm vẫn đọc to” của một thằng ma cà bông đang tìm cách đặt chân vào giới thượng lưu lúc bấy giờ Trong truyện “Người tù được tha” cũng có
đoạn thoại sau:
“Lần đầu trong đời, cụ phán Uyên dám nói ra miệng mấy câu tưởng không khi nào cụ dám nói:
- Các ông nói rất phải Nó chết như thế cố nhiên là hơn chết vì hóc xương gà! Kể ra cho đúng thì nó là người cũng đáng phục, có chí khí lỗi lạc khác nhiều người, khác tôi Tôi sống thế này là hèn nhát cực điểm, vinh thân phì ra thế chứ có biết hy sinh là cái quái gì! Xã hội toàn những người như tôi
cả thì cũng hỏng bét! Thôi thì… giữa lúc đau đớn, các ông khuyên tôi nên lấy thế làm vinh, tôi cũng xin lấy thế làm vinh chứ sao! Thì tôi cũng xin kiêu ngạo
vì đã là bố nó, để mong khuây khỏa được đôi chút ” [27, tr 157]
Trang 21Đây là đoạn thoại giữa cụ phán Uyên và những người dân, nhưng có thể thấy ông cụ đang độc thoại với chính mình Ông đang kể về về cái chết của cậu con trai với những lời lẽ tự hào Và ai cũng ngạc nhiên về mấy câu nói hùng hồn bất ngờ của cụ phán mà tính nhút nhát là không còn ai chẳng biết Trong mắt cụ thì cậu con trai chính là anh hùng, là vĩ nhân
Dạng đơn thoại còn tồn tại ở kiểu cấu trúc mệnh lệnh sai khiến:
“Châu trừng mắt nhìn một lượt ba người chức vị, rồi nghẹn ngào hỏi:
- Anh Phách tôi có mệnh hệ gì phải không?
Lý trưởng đành rút giấy công văn để dưới đèn ra đưa cho Châu.”[27, tr 153]
Đơn thoại không có bất kì lời đáp đồng ý nào nhưng đem lại hiệu quả cao Thay vì lời đáp là hành động sẵn sàng của nhân vật Vì vậy, cuộc thoại đã
đạt đích Dĩ nhiên dang đơn thoại là vắng mặt lời đáp, mỗi nhân vật tự đeo đuổi
một ý nghĩa riêng của mình nhưng đều tuân theo một lôgic Ở nhân vật Châu sự
lo lắng nghẹn ngào đã lên đến đỉnh điểm để thốt ra câu hỏi trong sự thúc giục
về cái chết của anh Phách Hành động của Lý trưởng đã làm thoải mãn và đạt đến cái đích mà Châu muốn biết
1.1.3.2 Song thoại
Đây là dạng thoại chủ yếu và được quan tâm nhiều nhất của lý thuyết hội
thoại Song thoại làm nền tảng cho việc nghiên cứu đa thoại và tìm hiểu các dạng đa thoại Theo Nguyễn Đức Dân: “Nếu không có chú thích gì đặc biệt thì
thuật ngữ hội thoại sẽ được hiểu là song thoại” [12, tr.77]
Song thoại là lời của người trao hướng đến người nghe và có sự đối đáp
bằng hành vi ngôn ngữ, thường gọi là hành vi trao lời và hành vi đáp lời Ở dạng thoại này, thường nhân vật trực tiếp đưa ra lời nói của mình vào hội thoại, bảo đảm yếu tố trao lời và đáp lời của nhân vật, bảo đảm nguyên tắc luân phiên lượt lời của hội thoại
Trong hội thoại có thể nhận ra “tác giả” của lời nói qua hệ thống tên riêng của nhân vật Chẳng hạn trong Bụng trẻ con có đoạn:
Trang 22“Liên vẫn không tin lại hỏi: Chỉ dối! thế sao mợ không phải mua ống tre? Sao mở chỉ bỏ tiền vào hòm? Mợ bảo: Mợ có nhiều tiền nên không phải bỏ vào ống tre… Liên lại bảo: Nhỏ cũng có hòm, sao không bỏ vào hòm mà phải mua ống tre? Thằng nhỏ gãi đầu, không biết đáp thế nào, phải làm một câu: Thưa chị, tôi sợ cứ ăn quả cả ngày như chị thì hết mất nên tôi phải mua ống tre
để giành Liên quay gót ra ngẫm nghĩ…”[28, tr.28]
Trong đoạn thoại này, các nhân vật tham gia hội thoại lần lượt trao và đáp lời, mỗi lời đáp đều hướng vào trọng điểm hỏi, hướng vào nội dung của câu trao, mỗi lời trao là một lời đáp, không có hiện tượng đè lên nhau
Ở dạng song thoại, có thể không có lời dẫn và từ dẫn mà được biểu hiện bằng hình thức “gạch ngang đầu dòng”
- Thế là xong, tôi đã đóng một vai trò tàn nhẫn hết sức!
- Thế nào?
- Tôi đã bảo Oanh thế này: “Tôi chỉ còn thương hại cô mà thôi! Cô hỏi tôi có giận không? Có yêu đâu mà giận! Sao xưa kia, cô đã khinh tôi như thế? Bây giờ khổ sở, cô mới hận, mới quay lại yêu tôi…Cái yêu như thế hỏi có giá trị gì? Có ai lại vớt lại một bát nước mà ta đã hắt xuống đất?” Oanh xúc cảm quá mạnh nên không nói được gì cả oanh nấc lên mộ cái thì tôi bỏ mặc ra về”[27, tr.78]
Ở dạng song thoại xuất hiện một hiện tượng: Về hình thức nó là đối
thoại, nhưng về mặt nội dung lại là tự nói với mình, nhằm thể hiện suy nghĩ
Trang 23cảm xúc của mình Dạng này diễn ra phổ biến ở nhiều tác phẩm: Tự do, Lấy vợ, Số
đỏ…Đây là dạng thoại được vận dụng do hệ quả của song thoại Có đoạn sau:
Sau khi vợ anh ra phố mua bán, Doãn bèn hỏi tôi: - Chắc anh rất ngạc nhiên khi thấy một người như tôi mà đi lấy một người vợ như thế ấy? Tôi vội vàng ngừng đũa Làm ra vẻ ngạc nhiên: - Sao? Sao anh lại hỏi tôi thế nhỉ? Có
lẽ sự vờ vĩnh của tôi không được tự nhiên mấy nên anh Doãn mỉm cười mà rằng: - Chà! Cái thằng mới sính đóng kịch làm sao! Thôi, chỗ chúng ta, tôi cho phép anh cứ việc nói thẳng những điền anh nghĩ Tôi bèn nói: - Vợ chồng là duyên số Ở đời này không phải hễ mình muốn thì là được và không muốn thì là thoát.”[27, tr 94]
Song thoại là dạng thức cơ bản của lí thuyết hội thoại và cũng là dạng
thức hội thoại chủ yếu của hội thoại trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng
1.1.3.3 Tam thoại
Trong giao tiếp thường ngày cũng như bên trong một tác phẩm văn học luôn có sự giao tiếp của hai hoặc hơn hai nhân vật đối thoại trực tiếp với nhau
trở lên Ở dạng giao tiếp này được gọi là tam thoại Tam thoại là dạng thoại
xuất hiện khi có từ ba nhân vật giao tiếp cùng một chủ đề, trong một không gian và ở cùng một thời điểm Ở hình thức giao tiếp này có thể quy về dạng tam thoại Trong tiểu thuyết Vũ Trong Phụng, dạng thức hội thoại này xuất hiện khá nhiều, điều đó cũng thể hiện mối quan hệ đan xen nhiều chiều, phức tạp giữa các nhân vật trong tiểu thuyết, biểu hiện ở một số trường hợp sau:
Trong Lấy nhau vì tình có đoạn:
“Người ta nói chuyện như là đôi trẻ đã lấy nhau rồi vậy Quỳnh bèn hỏi:
- Thưa me, có phải me đã nhận lời rồi, hay không?
Bà tham Bích ngơ ngác mất một lúc rồi nói:
- Không! Me đã nói gì đâu! Dẫu bằng lòng đến chết đi nữa thì cũng phải
từ từ chứ ai lại vồ ngay đến như thế!
- Vì con thấy cô với me nói chuyện y như đã nhận lời rồi ấy
Trang 24Ông phán Hòa gật đầu:
- Chưa nhận thì cũng như đã nhận rồi! Hai đứa lấy nhau là phải Tuy thằng Liêm là cháu gọi tôi bằng cậu thật đấy, nhưng mà tôi xin thề rằng tôi nói thế cũng như một người ngoài mà thôi Liêm nó là người thế nào, hẳn người cô ruột của Quỳnh đã biết
Bà Phán cũng dọa:
- Chính thế, chị ạ Học thức thì đõ tú tài ấy Con nhà thì tử tế Tính nết thì ngoan ngoãn Ờ, chị ạ, ngoan lắm, ít có đấy, không chơi bời gì cả.”[27, tr 60]
Ở đoạn này có đến ba nhân vật tham gia hội thoại, nội dung chủ yếu xoay quanh việc làm mai cho Quỳnh và Liêm Các nhân vật tư do bày tỏ ý kiến của mình và hướng câu trả lời về phía người trao thoại
“- Không sợ! Cái đó là người ta bày ra làm đồi chơi, không có ma Ta ngồi xa xa ở đây vậy
- Nhà này là nhà ai hở anh?
- Nhà một ông giáo sư già, đõ cử nhân, bạn dạy học của anh
- Thế ông ấy đâu?
- Ông ấy đi xa một tuần lễ, nhờ anh đến đây trông hộ
Trang 251.1.3.4 Đa thoại
Trong hội thoại khi xuất hiện lời của nhiều nhân vật đan xen vào với nhau nhưng cùng trong một hội thoại cụ thể, chúng tôi gọi đây là lời của đám đông (nhân vật) Dạng thức hội thoại này có thể dễ dàng bắt gặp trong tiểu
thuyết “Số đỏ” Cụ thể có thể thấy trong cảnh đưa đám tang cụ cố Hồng
“- Con bé nhà ai kháu thế? Con bé bên cạnh đẹp hơn nữa! - Ừ, ừ, cái thằng ấy bạc tình bỏ mẹ! - Xưa kia vợ nó bỏ nó chớ? - Hai đời chồng rồi! - Còn xuân chán! - Gớm cái ngực, đàm quá đi mất! - Làm mối cho tớ nhé? - Mỏ vàng hay mỏ chì? - Không, không hẹn hò gì cả - Vợ béo thế chồng gầy thì mọc sừng mất!”[28, tr.178]
Trong đoạn hội thoại, lời của đám đông xuất hiện với nhiều nhân vật Các câu văn đã xác định được số lượng nhân vật tham gia hội thoại Trong hội thoại các nhân vật không được miêu tả cụ thể về tính cách, hình dáng hay bất kì mối quan hệ nào Chỉ biết rằng các nhân vật xuất hiện cùng lúc, luân phiên lượt lời với nhau
1.2 Một số vấn đề chung về từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt
1.2.1 Khái niệm từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt
Xưng hô (hay còn gọi là xưng gọi) là thuật ngữ dùng để chỉ việc tự gọi
tên mình (xưng) và gọi tên người khác (hô) Có thể nói, trong bất kỳ cuộc giao
tiếp nào cũng không thể thiếu được hành động xưng hô và các từ ngữ dùng để xưng hô
Theo Đỗ Thị Kim Liên: “Từ xưng hô là những từ dùng để xưng hô giữa các
nhân vật khi giao tiếp Xưng hô cũng được xem như một phạm trù, đó là phạm trù ngôi Khi nói đến từ xưng hô, người ta thường đề cập đến nhóm đại từ xưng hô đích thực và danh từ thân tộc chuyển hóa thành từ xưng hô” [20, tr.174] Các loại
từ dùng để xưng hô trong giao tiếp được Cù Đình Tú xác định: “Bên cạnh các đại
từ nhân xưng: tôi, ta, tao, chúng tôi, chúng tao (ngôi 1), mày, bay, chúng mày, chúng bay (ngôi 2), nó, hắn, y, va, nghỉ, chúng nó (ngôi 3), tiếng Việt còn dùng tất
Trang 26cả các từ chỉ họ hàng, thân thuộc làm từ xưng hô, như: cụ, bà, ông, cha, mẹ, chú, thím, cô, dì, cậu, mợ, anh, chị, em, cháu… Tuy nhiều như vậy mà vẫn chưa đủ, người ta còn lấy các từ chỉ chức tước của cá nhân, người ta còn lấy cả họ, và cả tiếng đệm giữa họ và tên nữ giới (thị) để dùng làm từ xưng hô, thậm chí còn dùng cách nói trống không (từ xưng hô zero) để xưng hô” [40, tr.258]
Xưng hô là một cách thức biểu hiện của văn hoá ứng xử, qua cách xưng
hô người ta có thể biết được thái độ, tình cảm, quan hệ của những người trong cuộc thoại Trong giao tiếp nói chung, giao tiếp bằng tiếng Việt nói riêng, mỗi
cá nhân sử dụng một số lượng khá lớn các từ để xưng hô và giao tiếp cũng đòi hỏi người ta phải biết cách lựa chọn từ xưng hô thích hợp với hoàn cảnh, vị thế
Trong tác phẩm văn học, hệ thống từ xưng hô phong phú là một “lợi thế” để
các tác giả thể hiện khả năng vận dụng và sáng tạo của mình vào tác phẩm Việc vận dụng ra sao còn phụ thuộc vào cá nhân nhà văn và các nhân vật được xây dựng, nó gắn liền với hoàn cảnh giao tiếp của từng đối tượng Khi giao tiếp,
người ta có thể dùng từ xưng hô hoặc có thể không (nói trống) Từ xưng hô được
dùng có thể là đại từ nhân xưng, cũng có thể là danh từ thân tộc hoặc các danh từ
khác Khảo sát lời thoại giữa các nhân vật trong tiểu thuyết “Số đỏ” của nhà văn
Vũ Trọng Phụng số lượng lời thoại dùng từ xưng hô là khá lớn, biểu thị quan hệ,
tính cách cũng như vị thế của từng nhân vật trong tiểu thuyết
1.2.2 Phân loại từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt
1.2.2.1 Từ xưng hô là đại từ
* Khái niệm đại từ nhân xưng
Theo những công trình nghiên cứu của các nhà Việt ngữ đều phân biệt đại từ nhân xưng đích thực và các danh từ, danh ngữ dùng trong xưng hô
Nguyễn Kim Thản cho rằng: “Đại từ nhân xưng gồm có: tao, ta, mày, mi,
nó, hắn, y, chúng và những đại từ gốc là danh từ: tôi, tớ, họ,…”[32, tr 276]
Nguyễn Hữu Quỳnh quan niệm: “Đại từ xưng hô là đại từ được dùng để
xưng hô hoặc thay thế và trỏ người Đại từ xưng hô trong tiếng Việt gồm các
Trang 27đại từ chuyên dùng để xưng hô và các đại từ xưng hô lâm thời, mượn các danh
từ biểu thị quan hệ thân thuộc hay quan hệ xã hội” [29, tr 163]
Khi nghiên cứu về đại từ nhân xưng trong tiếng Việt, các nhà Việt ngữ đều thống nhất quan điểm đó là: Đại từ nhân xưng có chức năng thay thế, chỉ trỏ Trong xưng hô, việc sử dụng các đại từ nhân xưng không thật phổ biến vì chúng mang sắc thái thân mật, suồng sã hoặc không kính trọng
Đại từ nhân xưng trong giao tiếp được chia thành ba ngôi: Ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai, ngôi thứ ba và phân thành hai số: số ít và số nhiều
+ Ngôi thứ nhất: Người nói
+ Ngôi thứ hai: Người nghe
+ Ngôi thứ ba: Người / vật được nói tới
Việc xưng hô theo ngôi trong tiếng Việt có điểm riêng là không chỉ dùng nhân xưng từ, mà còn dùng các lớp từ khác làm từ chỉ ngôi
Các đại từ nhân xưng của tiếng Việt ít có sắc thái trung tính Bên cạnh các đại từ nhân xưng chuyên dùng tiếng Việt còn sử dụng một số lượng lớn các
từ và ngữ khác để xưng hô
1.2.2.2 Từ xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc và các danh từ khác
Dựa theo quan điểm của các nhà Việt ngữ trước đây trong các giáo trình
và sách nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt như của Cao Xuân Hạo (2001) cho rằng:
“Bên cạnh nhóm đại từ nhân xưng đích thực dùng trong xưng hô, người Việt còn dùng các “đại từ nhân xưng lâm thời” gồm các danh từ thân tộc, danh từ chỉ chức
vụ, nghề nghiệp để xưng hô” [15, tr.214]
Theo Diệp Quang Ban (1996) quan niệm: “Bên cạnh các nhân xưng từ
đích thực, trong xưng hô người Việt còn sử dụng các lớp từ sau: Danh từ chỉ quan
hệ thân tộc; danh từ chỉ chức vụ; một số từ, tổ hợp từ khác” Ông cũng cho rằng:
“Trong xưng hô, chính lớp từ thứ hai tức danh từ chỉ quan hệ thân tộc cho thấy rõ nhất nghĩa liên nhân của nhân xưng từ trong tiếng Việt”.[1, tr.241]
Thật vậy, trong giao tiếp, người Việt thường mượn các từ chỉ quan hệ gia đình, nghề nghiệp, chức vụ, học hàm, học vị,…để xưng gọi, đặc biệt là các từ
Trang 28chỉ quan hệ gia đình chiếm số lượng lớn và xuất hiện trong nhiều môi trường
hoạt động của con người Trong giao tiếp, người Việt có xu hướng “thân tộc
hóa” khi hô gọi
Khảo sát sự xuất hiện và tần số sử dụng các từ xưng hô này cũng là một trong những nhiệm vụ của luận án nhằm góp phần làm rõ đặc trưng của ngôn
ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng
Cũng như việc dùng đại từ nhân xưng, các từ ngữ xưng hô khác cũng có chức năng trước hết là để xưng (tên) và gọi (người); đồng thời qua đó có thể biểu thị các thông tin khác, với các chức năng khác, như: vị thế giao tiếp, nhân thân giao tiếp, cấp bậc giao tiếp và đặc biệt là thái độ trong giao tiếp Có thể thấy rất rõ rằng: từ xưng hô của tiếng Việt rất phong phú nhưng có chuẩn mực
và nguyên tắc sử dụng rõ ràng, chứ không phải tùy tiện, dù đó là quy ước bất thành văn Khảo sát các từ xưng hô lâm thời, không chính danh (so với đại từ xưng hô chuyên dụng, chính danh), ta có thể thấy xưng hô trong văn chương nói chung, và xưng hô trong giao tiếp đời thương nói riêng bộc lộ nhiều điều thú vị Điều đó thể hiện ở việc từ xưng hô trong lời thoại nhân vật trong tiểu
thuyết Số đỏ xuất hiện với số lượng lớn, dùng trong nhiều văn cảnh, tình huống
khác nhau, chúng thể hiện rõ vị thế, tình cảm và tính cách của các nhân vật trong tác phẩm
1.3 Từ thông tục
Từ ngữ thông tục là một phạm trù hiện còn nhiều ý kiến khác nhau Có ý
kiến cho từ thông tục là những từ tục, có tính tự nhiên, dễ dãi, thường chỉ dùng trong lớp người gọi là kém văn hoá Nhưng cũng có cách hiểu khác, rộng hơn:
từ thông tục thuộc khẩu ngữ, mà khẩu ngữ là ngôn ngữ thông tục, đời thường, chưa có sự chau chuốt, chon lọc, ít gắn với chuẩn tắc nghiêm nhặt, dựa vào cách sử dụng của từng vùng miền Tính thông tục của khẩu ngữ nói chung và từ vựng khẩu ngữ nói riêng, không phải là sự nói tục và các từ tục [11, tr.233, 235]
Có thể hiểu: từ thông tục là lớp từ tự nhiên (còn gọi là khẩu ngữ), đại đa số có
Trang 29gốc thuần Việt, thuộc phong cách nói; lớp từ này thể hiện trực tiếp suy nghĩ, tình cảm cá nhân người sử dụng trong nói năng thường nhật, nó gắn với hoàn cảnh giao tiếp nhất định… ví dụ như hoàn cảnh giao tiếp là nơi chợ búa thường
sử dụng các từ như: mày, tao, mụ, hắn, cứt, đĩ, chó má, đắt khét, rẻ bèo Đối lập với từ ngữ thuộc khẩu ngữ, trong đó có từ thông tục, là từ ngữ có sự trau chuốt gọt giũa trong sử dụng, thuộc phong cách viết, được dùng trong các loại văn bản (hành chính, báo chí, chính luận, nghệ thuật) Trên đại thể, lớp từ ngữ
thông tục gồm những nhóm: từ tục (bỏ mẹ, đéo), từ ngữ chửi rủa (mẹ kiếp), các
từ ngữ suồng sã, biểu cảm (con mẹ, con)
Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học là ngôn ngữ mang tính chuẩn mực, chau chuốt trong cách viết và cách sử Trong các sáng tác của mình, bên cạnh việc sử dụng lớp từ thuộc phong cách viết, nhà văn có thể sử dụng lớp từ thuộc phong cách nói, trong đó có lớp từ ngữ thông tục Nhưng phạm vi sử dụng lớp
từ ngữ thông tục trong tác phẩm văn học là có điều kiện, tức là chúng chỉ xuất hiện ở ngôn ngữ nhân vật (phần hội thoại, mang phong cách nói) mà hầu như không xuất hiện trong ngôn ngữ tác giả (phần diễn thoại, trần thuật, mang
phong cách viết) Khảo sát tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng chúng tôi
thấy rằng tần xuất sử dụng của các từ thông tục là khá lớn Tập trung nhiều nhất
ở tuyến nhân vật bị tha hóa
1.4 Thành ngữ trong tiếng Việt
Thành ngữ vốn là lời ăn tiếng nói hàng ngày đúc kết nên, trở thành những tổ hợp cố định, có cấu trúc chặt chẽ; chúng thể hiện lối nói hình ảnh hoặc có tác dụng nhấn mạnh, biểu cảm Thành ngữ không có tính độc lập trong lời nói (như tục ngữ) mà là một bộ phận của câu nói, giúp diễn đạt tình ý của người nói một cách rõ ràng, có ấn tượng Sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong giao tiếp thường dễ nhớ, dễ hiểu, tránh được sự tối nghĩa và giải thích dài dòng
Trong khi nói và viết, người Việt chúng ta hay dùng thành ngữ Thay vì
nói "đêm ấy, trời rất tối", chúng ta nói "đêm ấy, trời tối đen như mực"; thay vì
Trang 30nói "bà ta suốt ngày làm việc khổ cực", chúng ta nói "bà ta suốt ngày đầu tắt
mặt tối"; hoặc để nói “chị ấy vất vả làm ăn” thì chúng ta nói “chị ấy vất vả một nắng hai sương”
Như vậy, chúng ta nhận ra một đặc điểm về công dụng của thành ngữ: Thành ngữ không phải là một cách phát biểu duy nhất đúng, cũng không phải là cách nói bắt buộc, mà là một cách nói thường được chọn lựa Trong khi nói hoặc viết (từ đây, tôi sẽ dùng một mình chữ "nói", cho gọn), chúng ta dùng thành ngữ là muốn lời phát biểu có chỗ dựa, mong người nghe hiểu tắt theo lối ước lệ Chẳng hạn, khi nghe nói một ông nào đó "rán sành ra mỡ", không ai mất công suy nghĩ xem sành có rán ra mỡ được không, hoặc ông kia có chịu khó rán sành để lấy mỡ không, mà ai cũng hiểu ngay là ông ta rất hà tiện, rất chắt mót Khi nghe nói một người đàn bà nào đó có dung nhan "chim sa cá lặn", không ai thắc mắc rằng trước nhan sắc của một người đàn bà đẹp, chim có
sa và cá có lặn thật không, mà ai cũng hiểu ngay là người phát biểu muốn cực
tả cái nhan sắc của người đàn bà kia Tóm lại, thành ngữ tạo ra sự mặc nhiên hiểu nhau giữa người nói và người nghe, qua ngữ nghĩa có tính cách ước lệ, đã được thừa nhận theo truyền thống
Thành ngữ không phải luôn luôn gọn hơn, ít chữ hơn lời nói thường Có lắm khi thành ngữ dài hơn Chẳng hạn, nói "rất tối" chỉ tốn hai chữ, nhưng nói
"tối như đêm ba mươi" phải mất năm chữ; nói "rất keo kiệt" chỉ mất ba chữ,
nhưng nói "vắt cổ chày ra nước" phải tốn năm chữ Nhưng nhiều người vẫn
nghĩ là dùng thành ngữ thì lời nói hàm súc hơn
Theo khảo sát của chúng tôi, số lượng thành ngữ xuất hiện với tần suất
khá nhiều trong tiểu “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng Lời thoại dùng các từ thông tục, quán ngữ hay thành ngữ trong tiểu thuyết “Số đỏ” tùy theo tính cách và
hoàn cảnh của từng nhân vật; riêng trường hợp thành ngữ, nhìn chung, khi xuất hiện đơn vị này ở lời nhân vật thì tình thái và ý nghĩa cụ thể của lời thoại được bộc lộ rõ hơn
Trang 311.5 Vài nét về cuộc đời, sự nghiệp và tiểu thuyết Số đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng
1.5.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Vũ Trọng Phụng
Vũ Trọng Phụng sinh ngày 20 tháng 10 năm 1912, quê ở làng Hảo (nay
là thị trấn Bần Yên Nhân), huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên nhưng ông lớn lên
và mất tại Hà Nội Cha ông là Vũ Văn Lân làm thợ điện ở Ga-ra Charles
Boillot, mất sớm khi ông mới được 7 tháng tuổi, Vũ Trọng Phụng được mẹ là
bà Phạm Thị Khách ở vậy tần tảo nuôi con ăn học Sau khi học hết tiểu học tại trường Hàng Vôi, Vũ Trọng Phụng phải thôi học để đi làm kiếm sống vào khoảng năm 14 tuổi Ông có may mắn được hưởng thụ chế độ giáo dục mới
do Toàn quyền Pháp Albert Sarraut đề xướng, miễn phí hoàn toàn trong sáu năm tiểu học, và là một trong những lứa thanh niên Việt Nam đầu tiên được giáo dục bằng tiếng Pháp và chữ Quốc Ngữ, đó là nguyên nhân khiến ông luôn thần tượng nền văn hóa Pháp và là lớp nhà văn tích cực truyền bá văn học chữ Quốc Ngữ Sau hai năm làm ở các sở tư như nhà hàng Gôđa, nhà in IDEO (Viễn Đông), ông chuyển hẳn sang làm báo, viết văn chuyên nghiệp
Đầu năm 1938, Vũ trọng Phụng lấy vợ Vợ ông tên là Vũ Mỵ Lương, sinh
ra trong một gia đình buôn bán nghèo, người xã Nhân Mục,thôn Giáp Ất, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Cầu Giấy, Hà Nội Sau khi làm đám cưới vào ngày 23 tháng 1 năm 1938, hai vợ chồng đã cùng thuê nhà ở phố Hàng Bạc Cả đời Vũ Trọng Phụng sống trong nghèo khổ Vì còn bà nội và mẹ già nên dù lao động cật lực, ngòi bút của ông vẫn không đủ nuôi gia đình Tuy viết về nhiều các tệ nạn, thói ăn chơi nhưng Vũ Trọng Phụng là một người đạo đức và sống rất kham khổ Vì vậy ông mắc bệnh lao phổi Những ngày cuối đời, trên giường
bệnh ông từng phải thốt lên với Vũ Bằng: "Nếu mỗi ngày tôi có một miếng bít
tết để ăn thì đâu có phải chết non như thế này"
Ông mất ngày 13 tháng 10 năm 1939, khi mới 27 tuổi, để lại gia đình còn
bà nội, mẹ đẻ, vợ và người con gái chưa đầy 1 tuổi tên là Vũ Mỵ Hằng Nhà
Trang 32văn Vũ Trọng Phụng sống long đong, khi qua đời, cũng nhiều phen đổi dời Lúc mới mất, ông được chôn cất ở nghĩa trang Hợp Thiện, rồi nghĩa trang Quán Dền Đến năm 1988, con gái Vũ Mỵ Hằng mới đưa ông về quy thổ vĩnh tại mảnh vườn nhà mẹ vợ nhà văn tại làng Giáp Nhất
Vũ Trọng Phụng là nhà văn đa tài Ông vừa là nhà phóng sự, nhà tiểu thuyết, vừa là nhà báo, nhà viết kịch… Và, ở chừng mực nào đó, dựa vào văn phẩm, cũng có thể gọi ông là nhà tư tưởng, nhà chính trị, nhà giáo dục, nhà cải cách, nhà văn hóa, nhà cách tân nghệ thuật Với một khoảng thời gian không dài,
9 năm viết liên tục từ 1930 đến 1939 Vũ Trọng Phụng đã để lại một khối lượng sáng tác đồ sộ ở nhiều thể loại: phóng sự, tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch, dịch thuật Tiêu biểu là những tác phẩm sau:
Phóng sự: Đời cạo giấy (1932), Cạm bẫy người (1933), Kĩ nghệ lấy Tây
(1934), Cơm thầy cơm cô (1936), Vẽ nhọ bôi hề (1936), Lục sì (1937), Một huyện
ăn Tết (1938)
Tiểu thuyết:Dứt tình (1934), Giông tố (1936), khi đăng trên Hà Nội báo có
tên Thị Mịch,Vỡ đê (1936) - Báo Tương Lai, Số đỏ (1936) - Hà Nội báo, Làm đĩ (1936) - Tạp chí Sông Hương, Lấy nhau vì tình (1937), Trúng số độc đắc (1938), Quý phái (1937, đăng dang dở trên Đông Dương tạp chí - bộ mới), Người tù được tha (Di cảo)
Truyện ngắn: Bà lão lòa (1931), Một cái chết (1931), Con người điêu
trá(1932), Cuộc vui ít có(1933), Quyền làm bố(1933), Hai hộp xì gà (1933), Cái hàng rào(1934), Duyên không đi lại (1934), Thầy lang bất hủ(1934), Sao mày không vỡ, nắp ơi? (1934), Cụ triết lý (1935 ), Bộ răng vàng (1936), Hồ sê líu hồ líu sê sàng (1936), Tết ăn mày (1936), Lỡ lời (1936), Người có quyền (1937), Cái ghen đàn ông (1937), Lòng tự ái (1937), Đi săn khỉ (1937), Máu mê (1937), Lấy
vợ xấu (1937), Một con chó hay chim chuột (1937), Đời là một cuộc chiến đấu (1939), Bắt vích (1939), Ăn mừng (1939), Gương tống tiền (không rõ năm viết),
Trang 33Đoạn tuyệt (không rõ năm viết), Từ lý thuyết đến thực hành (không rõ năm viết), Cái ghen đàn ông, Ông đừng lầm (1934)…
Kịch: Không một tiếng vang (1931), Chín đầu một lúc (1934), Tài tử
(1934), Cái chết bí mật của người trúng số độc đắc (1937), Hội nghị đùa nhả (1938), Phân bua (1939), Tết cụ Cố (Di cảo - đăng sau khi tác giả qua đời, trên
Tiểu thuyết thứ bảy số 295, ngày 3 tháng 2 năm 1940)
Dịch thuật: Giết mẹ (1936) (nguyên bản Lucrèce Borgia của Victor Hugo)
Nhưng thành công, đóng góp to lớn nhất của ông vào văn học là thể loại
tiểu thuyết Nguyễn Văn Hạnh nhận định: “Sự nghiệp văn học nhà văn để lại cho
đời thật phong phú và đặc sắc, gồm đủ thể loại: tiểu thuyết, phóng sự, truyện ngắn, kịch, dịch, phê bình văn học Trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng, chắc chắn phần có giá trị nhất là tiểu thuyết” [30, tr 427]
Một trong những thành công của Vũ Trọng Phụng phải kể đến thể loại tiểu thuyết Với thể loại này chỉ trong năm 1936 ông đã cho ra đời bộ ba tiểu thuyết
gồm: Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê Trong đó nổi bật là tiểu thuyết Số đỏ được đăng trên
Hà Nội báo từ số 40 ngày 7 tháng 10 năm 1936 Tiểu thuyết “Số đỏ” đã đề cập
đến những vấn đề của xã hội, khái quát được một phạm vi cuộc sống hết sức rộng lớn mà ta không thể tìm thấy được ở những sáng tác khác của những nhà văn cùng thời Đó là bức tranh toàn cảnh về xã hội thành thị Việt Nam trước cách mạng tháng Tám với lối sống nửa Tây nửa Ta, cùng với đủ hạng người có tốt, có xấu, có quan lại, có dân thường, có bọn đầu trâu mặt ngựa, và cả những kẻ đạo đức giả
1.5.2 Tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng
Số đỏ là một tiểu thuyết văn học của nhà văn Vũ Trọng Phụng, đăng
ở Hà Nội báo từ số 40 ngày 7 tháng 10 năm 1936 và được in thành sách lần đầu vào năm 1938 Nhiều nhân vật và câu nói trong tác phẩm đã đi vào cuộc sống
đời thường và tác phẩm đã được dựng thành kịch, phim Nhân vật chính của Số
đỏ là Xuân - biệt danh là Xuân Tóc đỏ, từ chỗ là một kẻ bị coi là hạ lưu, bỗng
Trang 34nhảy lên tầng lớp danh giá của xã hội nhờ trào lưu Âu hóa của giới tiểu tư sản
Hà Nội khi đó
Tiểu thuyết “Số đỏ” dài 20 chương và được bắt đầu khi bà Phó Đoan đến
chơi ở sân quần vợt nơi Xuân tóc đỏ làm việc Vô tình Xuân tóc đỏ vì xem trộm 1 cô đầm thay đồ nên bị cảnh sát bắt giam và được bà Phó Đoan bảo lãnh
Sau đó, bà Phó Đoan giới thiệu Xuân đến làm việc ở tiệm may Âu Hóa, từ đó
Xuân bắt đầu tham gia vào việc cải cách xã hội Nhờ thuộc lòng những bài
quảng cáo thuốc lậu, hắn được vợ chồng Văn Minh gọi là "sinh viên trường
thuốc", "đốc tờ Xuân" Hắn gia nhập xã hội thượng lưu, quen với những người
giàu và có thế lực, quyến rũ được cô Tuyết và phát hiện cô Hoàng Hôn ngoại tình Xuân còn được bà Phó đoan nhờ dạy dỗ cậu Phước, được nhà sư Tăng Phú mời làm cố vấn cho báo Gõ Mõ Vì vô tình, hắn gây ra cái chết cho cụ cố
tổ nên được mọi người mang ơn Văn Minh vì nghĩ ơn của Xuân nên dẫn Xuân
đi xóa bỏ lý lịch trước kia rồi đăng ký đi tranh giải quần vợt nhân dịp vua Xiêm đến Bắc Kì Bằng thủ đoạn xảo trá, hắn làm 2 vận động viên quán quân
bị bắt ngay trước hôm thi đấu nên Xuân được dịp thi tài với quán quân Xiêm
Vì để giữ tình giao hảo, hắn được lệnh phải thua Kết thúc trận đấu, khi bị đám đông phản đối, Xuân hùng hồn diễn thuyết cho đám đông dân chúng hiểu hành
động "hy sinh vì tổ quốc của mình", được mời vào hội Khai trí tiến đức, được
nhận huân chương Bắc Đẩu bội tinh và cuối cùng trở thành con rể cụ cố Hồng
Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Số đỏ đa dạng và phong phú Thế giới
nhân vật đông đúc và đa dạng này thường được đặt vào trong cái bối cảnh xã hội với nhiều biến động, những vấn đề nóng hổi của cuộc sống đương thời Tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng quả đúng là tiểu thuyết của "cái hiện tại" bề bộn,
ngổn ngang Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét: "Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê hệt như
những cuốn phim thời sự Đương thời ít có cuốn tiểu thuyết nào lại gần với không khí chính trị của thời đại đến như thế Tiểu thuyết mà như muốn chạy đua với thông tin báo chí" [23; tr.47] Ngòi bút tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng
Trang 35có pha màu sắc phóng sự rõ nét Các nhân vật trong tiểu thuyết của ông - đặc biệt là các nhân vật có tính cách phản diện thường sẽ là những chân dung sinh động của những hạng người đang sống hàng ngày ngoài xã hội Các nhân vật
phản diện của Số đỏ cũng rất gần với các nguyên mẫu Nguyễn Tuân trong Một
đêm họp đưa ma Phụng đăng Tao Đàn số đặc biệt cũng khẳng định điều này:
"Nhiều người còn sống sờ sờ kia, oán thằng Phụng lắm Chúng nhìn thấy hình ảnh chúng ở Nghị Hách, Xuân Tóc Đỏ"[25, tr 190]
Trong Số đỏ, Vũ Trọng Phụng đưa lên trang văn của ông cả một lũ
những gương mặt đang chi phối cuộc sống chốn thị thành bao gồm những chủ hiệu, me tây, gái mới, nhà chính trị bảo hoàng, nhà sư hổ mang, cho đến cả vua
ta, vua Xiêm, toàn quyền, thống sứ với đủ thứ khẩu hiệu dối trá của chúng như
"văn minh", "âu hóa", "cải cách y phục", "cải cách Phật giáo"
Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Số đỏ có thể được hiện lên qua hệ thống các nhân vật sau đây Nhân vật là người bình dân bị tha hóa: Nhân vật
thuộc tầng lớp bình dân bị tha hóa là lang Tỳ, lang Phế và điển hình là Xuân
Tóc Đỏ Nhân vật là người trí thức bị tha hóa: Điển hình cho loại nhân vật trí
thức là Văn Minh, ông Phán mọc sừng, Hoàng Hôn-vợ ông Phán mọc sừng, Tuyết, Cậu Tú Tân-con trai út cụ cố Hồng, Tip Phờ Nờ-nhà thiết kế trang phục
Âu Hóa Nhân vật là ông, bà chủ: Đại diện tiểu biểu cho những ông chủ, bà chủ
thuộc tầng lớp thượng lưu trong xã hội Việt Nam những năm 30 của thế kỷ
trước đã được Vũ Trọng Vũ dựng lên trong tiểu thuyết Số đỏ là cụ cố Hồng, bà Phó Đoan Nhân vật là những kẻ thi hành pháp luật và sư sãi: Nhân vật đại
diện cho những kẻ chấp pháp mù quáng như Min Đơ, Min Toa và Sư Tăng Phú-người sáng lập ra báo Gõ Mõ Tất cả họ đều có điểm tương đồng là bịp bợm, giả dối, đểu cáng
Mỗi nhân vật lại có những đặc điểm tính cách và ngôn ngữ, đặc điểm riêng biệt Cụ thể như sau:
Xuân Tóc Đỏ: nhân vật chính của truyện, 1 đứa bé mồ côi cha mẹ từ nhỏ, phải kiếm sống bằng đủ thứ nghề như trèo me, trèo sấu, thổi kèn, quảng cáo thuốc lậu, nhặt banh ở sân quần vợt
Trang 36Cụ cố tổ: Một ông lão 80 tuổi, có gia sản lớn nên con cháu ai cũng muốn ông chết để chiếm gia tài
Cụ cố Hồng: Một ông lão gần 60 tuổi, nghiện thuốc phiện nặng và lúc nào cũng tỏ ra là mình già Ông có câu nói nổi tiếng đã đi vào đời sống: "Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!"
Bà Phó Đoan: Một người đàn bà lấy chồng Tây, đã 2 đời chồng và cực kì dâm đãng nhưng lúc nào cũng tỏ ra là 1 quả phụ gương mẫu
Cậu Phước: Con cầu, con khẩn của bà Phó Đoan, lúc nào cũng chỉ biết nói: "Em chã, em chã"
Văn Minh: Con trai cụ cố Hồng, chủ tiệm may Âu Hóa, ỷ mình đi du học Pháp nên lúc nào cũng muốn cải cách xã hội mặc dù không có bằng cấp gì cả
Cô Hoàng Hôn: Con gái cụ cố Hồng, đã có chồng nhưng vẫn thường xuyên ngoại tình
Ông Phán mọc sừng: Chồng cô Hoàng Hôn, một người đàn ông có vợ ngoại tình nhưng bất lực
Cô Tuyết: Con gái út cụ cố Hồng, mới 18 tuổi và có nhan sắc, muốn hư hỏng một cách có khoa học và tự hào chưa đánh mất cả chữ trinh
Ông TYPN: (Tôi Yêu Phụ Nữ) người thiết kế thời trang của tiệm Âu Hóa, đưa ra những mẫu quần áo tân thời
1.6 Ngôn ngữ nhân vật và từ ngữ trong lời thoại nhân vật của tác phẩm Số
tả phong cách ngôn ngữ của nhân vật
Trang 37Dù tồn tại dưới dạng nào hoặc được thể hiện bằng cách nào, ngôn ngữ nhân vật bao giờ cũng phải đảm bảo sự kết hợp sinh động giữa cá thể và tính khái quát, nghĩa là một mặt, mỗi nhân vật có một ngôn ngữ mang đặc điểm
riêng, có “lời ăn tiếng nói” riêng, mặt khác, ngôn ngữ ấy lại phản ánh được đặc
điểm ngôn ngữ của một tầng lớp người nhất định gần gũi về nghề nghiệp, tâm
lý, giai cấp, trình độ văn hóa,…
Ngôn ngữ nhân vật chính là lời nói trực tiếp của nhân vật trong tác phẩm văn học được biểu đạt bằng các tín hiệu ngôn ngữ thông qua sự lựa chọn của nhà văn nhằm mục đích thể hiện một cách sinh động, hấp dẫn tính cách đặc điểm của nhân vật Tuy nhiên để thể hiện đời sống và cá tính nhân vật nhà văn
phải “cá thể hóa ngôn ngữ của nó” phải làm cho ngôn ngữ nhân vật trở thành
một hình thái biểu hiện riêng biệt Đây là một luận điểm quan trọng khi tìm hiểu phân tích ngôn ngữ nhân vật Trong tiểu thuyết, ngôn ngữ nhân vật không những có vai trò then chốt trong phương thức tự sự mà còn góp phần thể hiện phong cách nhà văn, để lại dấu ấn, truyền đạt cái nhìn, giọng điệu, cá tính của tác giả
Ngôn ngữ tác giả là ngôn ngữ đơn thoại, còn ngôn ngữ nhân vật là ngôn ngữ đối thoại (các lời thoại nhân vật) Đối thoại là một dạng thức của lời nói, trong đó có sự hiện diện của người nghe, mỗi phát ngôn đều hướng đến người tiếp chuyện xoay quanh một chủ đề hạn chế của cuộc độc thoại Ngôn ngữ nhân vật còn có thể tồn tại ở dạng độc thoại (thực chất cũng là một dạng đối thoại - nhân vật đối thoại với chính mình)
Trong tiểu thuyết, nhà văn có thể cá thể hoá ngôn ngữ nhân vật bằng nhiều cách: nhấn mạnh cách đặt câu, ghép từ, cách phát âm đặc biệt của nhân vật, cho nhân vật lắp lại những từ, câu mà nhân vật thích nói, kể cả từ nước ngoài và từ địa phương, v.v Trong các tác phẩm tiểu thuyết, nhà văn còn thường trực tiếp miêu tả phong cách ngôn ngữ của nhân vật
Trang 38Trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, có thể thấy rằng, ngôn ngữ
nhân vật được cá thể hóa cao độ, gia tăng lượng thông tin về nhân vật Nhà văn
đã dung nạp nhiều dạng thức khác nhau của nhiều kiểu loại nhân vật Ngôn ngữ mang tính khái quát cao, tạo nên giá trị nghệ thuật cho tiểu thuyết thông qua đối thoại Nhờ hoạt động giao tiếp mà các vấn đề được xem xét bằng cách nhìn
đa diện Nhân vật được đánh giá với tư cách là một chủ thể độc lập Ý thức đối
thoại trong tiểu thuyết Số đỏ được phát huy mạnh mẽ
1.6.2 Từ ngữ trong lời thoại nhân vật của tác phẩm Số đỏ Vũ Trọng Phụng
Trong giao tiếp, người ta trao đổi thông tin, biểu đạt tình cảm với nhau bằng nhiều phương tiện, tuy nhiên ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất và chiếm nhiều nhất Đơn vị giao tiếp cơ bản có chức năng truyền tải thông
tin là ngôn bản và câu Trong câu, từ là “đơn vị ngôn ngữ mà bắt đầu từ nó ngôn
ngữ mới thực hiện chức năng giao tiếp và tư duy” [9, tr.20] Từ là một đơn vị
trong câu có nhiều bình diện: ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, phong cách và chức năng Ở bình diện chức năng, từ đóng vai trò miêu tả, bộc lộ và tạo lập các hành động phát ngôn Khi đi vào giao tiếp, bình diện ấy được hiện thực hóa một cách sinh động, có những biến đổi linh hoạt trong lời nói Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà Việt ngữ học (Đái Xuân Ninh, 1978; Đỗ Hữu Châu, 1999; Bùi Minh Toán, 1999) đã khẳng định điều này
Từ là chất liệu đầu tiên của tác phẩm văn học Tác phẩm văn học là sản phẩm của nghệ thuật ngôn từ Điều đó được khẳng định hiển nhiên, nói lên vai trò của từ ngữ trong sáng tạo nghệ thuật Từ ngữ tham gia vào trong giao tiếp hàng ngày cũng như trong tác phẩm văn học để xây dựng thành các câu, các đoạn văn và toàn bộ tác phẩm; từ có mặt trong ngôn ngữ tác giả (thường là những từ thuộc phong cách viết) và ngôn ngữ nhân vật (thường là những từ thuộc phong cách nói)… Đối tượng nghiên cứu của luận văn là ngôn ngữ nhân vật, tức là tìm hiểu các lời đối thoại trong tác phẩm Tác phẩm văn học là sản phẩm của nghệ thuật ngôn từ Để làm sáng tỏ đặc điểm hoạt động cũng như vai
Trang 39trò của ngôn từ trong sáng tác văn học và ngôn ngữ nhân vật, chúng tôi lấy từ làm đơn vị khảo sát để làm rõ đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Số
đỏ của Vũ Trọng Phụng
Theo chúng tôi, tìm hiểu phân tích các lớp từ ngữ dựa vào các căn cứ này
có thể giúp phát hiện ra đặc điểm ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ của tác phẩm
và qua đó là phong cách của nhà văn trong việc phản ánh đời sống xã hội trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định Đó là tiền đề và định hướng để chúng tôi tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ nhân vật từ bình diện từ ngữ trong trong tiểu
thuyết Số đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng
1.7 Tiểu kết
Ở chương này, chúng tôi đã trình bày những vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài, bao gồm: lý thuyết về hội thoại, ngôn ngữ hội thoại, một số vấn đề chung về từ ngữ xưng hô, từ thông tục, thành ngữ trong tiếng Việt, ngôn ngữ nhân vật, vai trò của từ ngữ trong tác phẩm và cơ sở lý luận của việc tìm hiểu
từ ngữ để làm rõ đặc điểm của ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm của Số đỏ của
Vũ Trọng Phụng
Chương 1 cũng giới thiệu một số điểm khái quát về tác phẩm Số đỏ, hệ thống nhân vật và từ ngữ trong lời thoại của các nhân vật Tác phẩm Số đỏ là
một tác phẩm nổi tiếng trong sự nghiệp của Vũ Trọng Phụng, đặt ra nhiều vấn
đề trong tác phẩm của nhà văn cần được nghiên cứu, trong đó có vấn đề ngôn ngữ nhân vật Tìm hiểu ngôn ngữ nhân vật có thể giúp ta hiểu rõ hơn đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật và phong cách nghệ thuật của nhà văn trong thời điểm lúc
bấy giờ
Trang 40Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM SỐ ĐỎ
CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG QUA TỪ NGỮ XƯNG HÔ
2.1 Những vấn đề chung về từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt
* Chức năng của từ xưng hô trong tiếng Việt
Từ xưng hô là một lớp từ thông dụng, được con người sử dụng khi thực hiện hành vi giao tiếp bằng ngôn ngữ Ngoài chức năng xưng - hô, nhóm từ này còn có các chức năng khác, bởi khi dùng chúng trong giao tiếp các từ này đã
“mặc nhiên” bộc lộ các ý nghĩa, các thông tin nào đó mà không cần các yếu tố
phù trợ khác (thông tin tiền giả định)
Lời thoại chỉ với một từ hô gọi như thế đã có thể bộc lộ nhiều thông tin
ta có thể suy ra mà chưa cần xem xét nó trong ngữ cảnh của cuộc thoại Qua những thông tin thể hiện qua ví dụ trên, có thể thấy rõ rằng từ xưng hô còn có
chức năng biểu thị vị thế và tình thái của các nhân vật tham gia giao tiếp
Như vậy, có thể hiểu từ xưng hô là những từ dùng để xưng (bản thân) và hô (với người khác) trong giao tiếp Xét về nguồn gốc, từ xưng hô có nhiều loại: là
những đại từ nhân xưng chuyên dụng để xưng hô (tôi, mày, nó), là những từ loại khác chuyển loại dùng để xưng hô (bác, em, đồng chí) Từ xưng hô ngoài chức năng dùng để xưng hô còn biểu thị vị thế và tình thái trong giao tiếp
2.2 Các loại từ ngữ xưng hô trong ngôn ngữ nhân vật của tiểu thuyết Số
đỏ của Vũ Trọng Phụng
2.2.1 Nhân vật dùng từ xưng hô là đại từ
Thống kê số lần xuất hiện đại từ nhân xưng ở ngôn ngữ nhân vật trong
tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng
Nhân vật trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng sử dụng từ xưng
hô rất phong phú trong mỗi hoàn cảnh giao tiếp Việc khảo sát tiểu thuyết Số đỏ
cho thấy, trong tổng số lời thoại nhân vật có dùng các từ xưng hô là 2958 lần thì ĐTNX là 1347 lần, chiếm 45,5%, các từ xưng hô khác là 1611 lần, chiếm 57,5%