Tiểu luận chi tiết về chế độ dinh dưỡng của người béo phì và xây dựng chế độ ăn cho người bệnh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐÀO TẠO CHẤT LƯỢNG CAO
Bộ môn công nghệ thực phẩm
Môn học: Dinh dưỡng và an toàn thực phẩm
Đề tài: Tìm hiểu về bệnh béo phì và chế độ dinh dưỡng cho người bệnh béo phì Thiết lập thực đơn trong 7 ngày cho người bệnh béo phì ( giới tính: nam Nghề nghiệp: kế toán Tuổi: 45 Cao 1m55,
nặng 80kg)
GVHD: Ths Nguyễn Đặng Mỹ Duyên LỚP: 18116CL2
NHÓM: 07 SVTH:
1 Nguyễn Thị Thanh Bình 18116048
2 Trần Huỳnh Đạt 18116056
3 Nguyễn Phương Khanh 18116072
Trang 3ĐIỂM SỐ
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Kí tên
Trang 4MỤC LỤC CHƯƠNG 1: TÌM HIỂU VỀ BỆNH BÉO PHÌ VÀ CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG CHO
NGƯỜI BỆNH BÉO PHÌ 8
1 Tổng quan 8
1.1 Dịch tễ học thừa cân, béo phì 8
1.2 Khái niệm béo phì: 11
1.3 Phân loại béo phì: 17
1.4 Hậu quả về sức khỏe của béo phì và các bệnh lý liên quan 19
2 Chế độ dinh dưỡng người mắc bệnh béo phì 32
2.1 Nguyên tắc cơ bản điều trị béo phì 32
2.2 Biện pháp thay đổi khẩu phần ăn và thói quen ăn uống 34
2.3 Những lí do khiến viêc giảm cân không hiệu quả 39
2.4 Chế độ dinh dưỡng khuyến nghị cho người béo phì 40
CHƯƠNG 2 THIẾT LẬP THỰC ĐƠN TRONG 7 NGÀY CHO NGƯỜI BỆNH BÉO PHÌ ( GIỚI TÍNH: NAM NGHỀ NGHIỆP: KẾ TOÁN TUỔI: 45 CAO 1M55, NẶNG 80KG) 46
1 Tính toán các thông số liên quan đến đối tượng 46
1.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 46
1.2 Chỉ số BMI 46
1.3 Phân bố năng lượng 47
2 Thiết lập thực đơn trong 7 ngày cho nam sinh viên 21 tuổi 48
2.1 Đặc điểm kinh tế 48
2.2 Thực đơn dự kiến 48
3 Thiết kế khẩu phần ăn cho người bệnh béo phì trong 7 ngày 50
3.1 Thiết kế khẩu phần ăn ngày 1 50
3.2 Thiết kế khẩu phần ăn ngày 2 53
3.3 Thiết kế khẩu phần ăn ngày 3 56
3.4 Thiết kế khẩu phần ăn ngày 4 59
3.5 Thiết kế khẩu phần ăn ngày 5 62
Trang 53.6 Thiết kế khẩu phần ăn ngày 6 65 3.7 Thiết kế khẩu phần ăn ngày 7 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1 1 Bản đồ tỉ lệ người trưởng thành được xác định là béo phì, 1975 8
Hình 1 2 Bản đồ tỉ lệ người trưởng thành được xác định là béo phì, 2014 9
Hình 1 3.Những người khác nhau có cùng chỉ số BMI 13
Hình 1 4 Mô hình nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh của béo phì 27
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 1.Tiêu chuẩn béo phì 13
Bảng 1 2 Thông tin dữ liệu của hai đối tượng A và B 14
Bảng 1 3 Giới hạn chỉ số BMI liên quan với tuổi (Trần Hữu Dàng, 2011) 14
Bảng 1 4 Tiêu chuẩn phân biệt tăng cân quá mức và béo phì theo chỉ số khối lượng cơ thể BMI (kg/m2) (Trần Hữu Dàng, 2011) 15
Bảng 1 5 Phân độ béo phì theo chỉ số BMI (WHO, 2000) 15
Bảng 1 6 Phân độ béo phì cho người trưởng thành châu Á (Lê Bạch Mai và cộng sự, 2007) 16
Bảng 1 7 Đặc tính của các chất sinh năng lượng 28
Bảng 1 8 Thành phần dinh dưỡng của các loại củ 42
Bảng 2 1 Phân loại thể lực và bệnh tật của Bộ y tế 46
Bảng 2 3 Phân bố năng lượng cho các bữa ăn hằng ngày 47
Bảng 2 4.Phân bố năng lượng theo các nhóm chất dinh dưỡng chính (tính theo 1 ngày)47 Bảng 2 5 Khẩu phần ăn được đề xuất 49
Trang 8CHƯƠNG 1: TÌM HIỂU VỀ BỆNH BÉO PHÌ VÀ CHẾ
ĐỘ DINH DƯỠNG CHO NGƯỜI BỆNH BÉO PHÌ
Số người trưởng thành mắc bệnh béo phì tăng đáng kể từ năm 1975 đến năm 2014 (NCD Risk Factor Collaboration,2016 )
Hình 1 1 Bản đồ tỉ lệ người trưởng thành được xác định là béo phì, 1975
Trang 9Hình 1 2 Bản đồ tỉ lệ người trưởng thành được xác định là béo phì, 2014
Từ năm 1975 đến 2014, tỉ lệ béo phì (BMI 30 kg/m2 ) tăng từ 3,2% lên 10,8% ở đàn ông và từ 6,4% lên 14,9% ở phụ nữ, tăng lên > 6% ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới Không có sự đồng nhất về tỉ lệ béo phì và BMI giữa các quốc gia ở khía cạnh hệ số tăng, giảm và thời gian tích lũy (NCD Risk Factor Collaboration,2016 ) Sự gia tăng nhanh chóng
về BMI được đặc biệt lưu ý ở Nam Á (Bangladesh, Bhutan, Ấn Độ, Nepal và Pakistan), Đông Nam Á (Indonesia, Malaysia, Philippines, Sri Lanka, Thái Lan và Việt Nam), vùng Caribbean (Belize, Cuba, Cộng hòa Dominican, Jamaica và Puerto Rico) và miền nam Mỹ Latinh (Argentina, Brazil, Chile, Paraguay và Uruguay) BMI từ không tăng ở khu vực phía đông châu Âu (Belarus, Latvia, Litva, Liên bang Nga và Ukraine) đến mức tăng đáng
kể (1 kg/m2 mỗi thập kỷ), ở trung tâm Mỹ Latinh (Colombia, El Salvador, Guatemala, Mexico, Panama và Venezuela) (NCD-RisC, 2017) Tỉ lệ phổ biến của BMI ≥30 kg/m2
thay đổi theo quốc gia (NCD-RisC, 2017) và dao động từ 3,7% ở Nhật Bản đến 38,2% ở Hoa Kỳ (Organisation for Economic Co-operation and Development,2017); có những nơi
tỉ lệ béo phì rất cao, ước tính vượt quá 50% nam giới ở Tonga và phụ nữ ở Kuwait, Kiribati, Liên bang Micronesia, Libya, Qatar, Tonga và Samoa (Marie Ng.,2014) Ngoại trừ một số
bộ phận của Saharan, châu Phi và châu Á, có nhiều người mắc bệnh béo phì hơn là thiếu cân trên toàn thế giới Điều thú vị là tốc độ tăng BMI đã chậm hơn kể từ năm 2000 ở các quốc gia có thu nhập cao và một số nước có thu nhập trung bình ở cả trẻ em và người lớn Liệu điều này có phản ánh những thay đổi trong các xã hội hay phản ứng tích cực của
Trang 10can thiệp cũng như các chính sách hiện hành chưa dẫn đến sự đảo ngược của sự gia tăng
về chỉ số BMI trung bình ở hầu hết các quốc gia (Ezzati M., 2013; Kleinert S ,2015; Roberto C A., 2015) Tỉ lệ béo phì ở trẻ em là > 30% ở Quần đảo Cook, Nauru và Palau,
và có sự gia tăng đáng chú ý trong vài thập kỷ qua Từ năm 1975 đến năm 2016, tỉ lệ mắc thừa cân, béo phì trên toàn thế giới tăng ở mức đáng báo động ở cả trẻ em và trẻ vị thành niên, tăng từ 0,7% đến 5,6% đối với bé trai và từ 0,9% đến 7,8% đối với bé gái Xu hướng BMI ở trẻ em và trẻ vị thành niên là mối quan tâm đặc biệt đối với dự đoán về gánh nặng
từ bệnh béo phì và sự ảnh hưởng của nó đến cộng đồng trong tương lai gần Một nghiên cứu về chỉ số BMI liên tục trên mẫu gồm 51.505 trẻ em, những trẻ có số liệu nhân trắc học
có sẵn từ thời thơ ấu đến tuổi vị thành niên, đã tìm thấy độ tuổi tăng cân nhanh nhất từ 2 đến 6 tuổi và tới 90% trẻ em bị béo phì ở độ tuổi lên 3 cũng sẽ bị thừa cân hoặc béo ở tuổi
vị thành niên (Geserick M., Vogel M., 2018) Một nghiên cứu khác tại Trung Quốc tỉ lệ trẻ
em không béo phì lớn lên trở thành người trưởng thành không béo phì là 62,6% và trẻ em bép phì lớn lên trở thành người lớn béo phì là 80,0% (Liu D., 2019)
Hơn 40% trẻ em Bắc Mỹ và Địa Trung Hải, 38% trẻ em Châu Âu, 27% trẻ em vùng Tây Thái Bình Dương và 22% trẻ em ở Châu Á bị thừa cân, béo phì WHO (2012) Tại Argentina, nghiên cứu 1.588 trẻ từ 10 – 11 tuổi tại 80 trường công lập của Buenos Aires, cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì là 35,5% (Kovalskys I., 2011) Nghiên cứu tại Thụy Điển 3.636 trẻ từ 7 – 9 tuổi cho thấy tỉ lệ thừa cân, béo phì là 18,2% (Moraeus L., 2012) Alice Goisis và cộng sự nghiên cứu 9.384 trẻ 11 tuổi ở Anh tỉ lệ thừa cân, béo phì là 26% Tại các nước trong khu vực châu Á: Tỉ lệ thừa cân, béo phì tăng từ 13 triệu trẻ năm 1990 lên
18 triệu vào năm 2010, cao nhất trong 3 châu lục Hiện nay, thừa cân, béo phì ở trẻ em đã trở thành vấn đề sức khoẻ ưu tiên thứ hai trong phòng chống bệnh tật ở các nước châu Á
và được xem như là một trong những thách thức đối với ngành Dinh dưỡng và Y tế (Low
L C., 2010) Khảo sát 29.418 trẻ em và thanh thiếu niên 7-17 tuổi ở Trung Quốc năm 2015,
tỉ lệ béo phì ở trẻ em từ 7-12 tuổi rất cao (20,3%) (Zhou Y., 2017) Trong số 1.749 học sinh 5-18 tuổi ở Thái lan tỉ lệ thừa là 9 % và béo phì là 7,3% Khảo sát dinh dưỡng 3.542 trẻ
em Malaysia tỉ lệ thừa cân là 9,8% và bép phì là 11,8% (Poh B K., 2013)
Trang 11Không chỉ có xu hướng gia tăng nhanh chóng, các nghiên cứu còn chỉ ra tỉ lệ thừa cân, béo phì ở khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn Nghiên cứu tại Trung Quốc
ở trẻ từ 6 – 17 tuổi từ năm 1991 đến năm 2011 cho kết quả tỉ lệ thừa cân, béo phì ở khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn (Jia P., 2017) Nghiên cứu khác tại các nước như Trung Quốc cũng cho kết quả tương đồng (Parrino C., 2016) ; Nhật Bản, Ấn Độ, Kuwait ; Iran [92]; Tanzania ; Indonesia cũng đã chỉ ra tỉ lệ thừa cân, béo phì ở khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn
1.1.2 Tình hình ở Việt Nam
Tình hình ở Việt Nam cũng như một số nước trên thế giới, đặc biệt là các nước khu vực Đông Nam Á đang trong thời kỳ chịu gánh nặng kép về dinh dưỡng, trong khi tình trạng suy dinh dưỡng thấp còi vẫn còn cao, đang nằm trong số 20 nước có số lượng trẻ suy dinh dưỡng thấp còi cao nhất thế giới, thì số người thừa cân, bép phì đang gia tăng nhanh chóng, đặc biệt ở các đô thị (Viện Dinh dưỡng , 2019) Trước năm 2000, hầu như chưa có thừa cân, béo phì ở trẻ em dưới 5 tuổi, sau 10 năm (2000-2010), tỉ lệ thừa cân, béo phì đã tăng gấp 3 lần ở người trưởng thành, gấp 9 lần ở trẻ dưới 5 tuổi (từ 0,68% tăng lên 5,6%) ( Viện Dinh dưỡng, 2012)
1.2 Khái niệm béo phì:
1.2.1 Định nghĩa:
Béo phì là tình trạng tích lũy mỡ thái quá và không bình thường một cách cục bộ hay
toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ (WHO, 2018) Obesity là một danh từ của
Obese, nguồn gốc Latin là Obesus, nghĩa là béo, bụ bẫm Obesity được Noah Biggs sử dụng chính thức trong Y học vào năm 1651 (Ambrosi và cộng sự, 2011) Lâm sàng của bệnh béo phì được ghi nhận từ thời Hy lạp – La mã cổ Nhưng những hiểu biết khoa học
về béo phì mới bắt đầu từ thế kỷ XX (Mazzeo et al 2010)
Béo phì là sự tăng cân quá mức trung bình đáng có, được xác định tương quan trọng
Trang 12lượng mỡ toàn thân hoặc tập trung mỡ vào một vùng nào đó của cơ thể mà nó có thể ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe Định nghĩa này sẽ loại trừ các trường hợp tăng cân không
do tăng lượng mỡ (ứ nước hoặc cơ bắp phát triển), các loại loạn dưỡng mỡ (Yumuk và cộng sự 2015)
Thừa cân là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao (Trần Thị Xuân Ngọc, 2012) Với định nghĩa đơn giản được chấp nhận nhiều nhất thì thừa cân (overweight) là một tình trạng tăng quá mức trọng lượng cơ thể so với trọng lượng chuẩn
và béo phì (obesity) là một tình trạng tăng quá mức lượng mỡ cơ thể (Trần Thừa Nguyên, 2012)
1.2.2 Béo phì và chỉ số BMI
Béo phì là thuật ngữ được sử dụng để chỉ phạm vi cân nặng cao đối với một cá nhân
có chiều cao nhất định có liên quan đến các ảnh hưởng xấu đến sức khỏe Định nghĩa thừa cân và béo phì đối với người lớn dựa trên các điểm giới hạn liên quan trực tiếp đến chỉ số khối cơ thể của một cá nhân (BMI , trọng lượng tính bằng kilôgam chia cho bình phương chiều cao tính bằng mét) Cơ bản của định nghĩa này là một mức độ trọng lượng cơ thể cao
có liên quan đến một lượng lớn chất béo trong cơ thể Chỉ số BMI có tương quan với cơ thể béo, nhưng chỉ số BMI thay đổi theo tuổi và giới tính ở trẻ em nhiều hơn ở người lớn
Do đó, việc chỉ định trẻ em hoặc thanh thiếu niên (từ 2 đến 19 tuổi) là thừa cân hoặc béo phì dựa trên việc so sánh chỉ số BMI của trẻ với dân số tham chiếu theo giới tính và tuổi
cụ thể (biểu đồ tăng trưởng CDC) Trẻ em và thanh thiếu niên từ 85 đến 94% BMI theo tuổi được coi là thừa cân; những người lớn hơn hoặc bằng phân vị thứ 95 được coi là béo phì (Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh, 2010)
Cân nặng ở người trưởng thành thay đổi theo giới tính, chiều cao và độ tuổi và có nhiều phương pháp khác nhau để đo lường Chỉ số khối cơ thể (BMI) là một thước đo lượng
mỡ trong cơ thể dựa trên trọng lượng của mỗi người liên quan đến chiều cao của họ Nó được chia cho bình phương chiều cao của anh ấy / cô ấy (Messina và cộng sự, 2015) Mặc
Trang 13dù nó không đo trực tiếp lượng mỡ trong cơ thể nhưng nó không tốn kém và dễ thực hiện Chỉ số này bao gồm sáu tình trạng cân nặng: từ nhẹ cân đến béo phì III, như Bảng 1 Một người có BMI là 29,9 được coi là thừa cân nhưng chỉ cần cao hơn 0,01 điểm (30 BMI) được coi bị béo phì (Wilborn và cộng sự, 2005)
Bảng 1 1.Tiêu chuẩn béo phì
Vấn đề chính liên quan đến chỉ số này là nghịch lý của chúng Theo đó, những người tập thể hình có thể có cùng chỉ số BMI của những người ít vận động, béo Trên thực tế, nó không xem xét số lượng chất béo trong cơ thể người và cơ bắp của anh ta
Trang 14Bảng 1 2 Thông tin dữ liệu của hai đối tượng A và B
Như bạn có thể thấy trong Hình 3, mặc dù khối lượng chất béo của đối tượng A nhỏ
hơn đối tượng B và người đầu tiên có trọng lượng lớn hơn, họ có cùng BMI (31,7), điều này cho thấy rằng cả hai đều bị ảnh hưởng bởi bệnh béo phì (De Lorenzo và cống sự, 2001)
1.2.3 Phân độ béo phì
Dựa vào chỉ số BMI
Bảng 1 3 Giới hạn chỉ số BMI liên quan với tuổi (Trần Hữu Dàng, 2011) Nhóm tuổi Chỉ số khối lượng cơ thể theo BMI (kg/m 2 )
Trang 15Bảng 1 4 Tiêu chuẩn phân biệt tăng cân quá mức và béo phì theo chỉ số khối lượng cơ
thể BMI (kg/m2) (Trần Hữu Dàng, 2011) Mức độ béo phì % vượt cân nặng mong muốn BMI (kg/m 2 )
Béo phì bệnh lý > 100% hoặc > 100 pound so cân
nặng mong muốn ( 1 pound =
453,6 g)
Bảng 1 5 Phân độ béo phì theo chỉ số BMI (WHO, 2000)
Phân độ dựa theo tỷ vòng bụng/vòng mông
Béo phì dạng nam khi:
VB/VM > 0,9 đối với nam
VB/VM > 0,85 đối với nữ (Lê Bạch Mai và cộng sự, 2007)
Phân độ dựa theo công thức Broca
Trọng lượng lý tưởng đượcc tính theo công thức: Trọng lượng lý tưởng = chiều cao (cm) – 100
Trang 16Phân độ dựa theo công thức Lorentz
Trọng lượng lý tưởng = chiều cao (cm) – 100-Chiều cao(cm)−n
150Trong đó: n=4 cho nam, n=2 cho nữ (Trần Khánh Chi và cộng sự, 2011)
Phân độ béo phì dựa vào BMI và số đo vòng bụng
Bảng 1 6 Phân độ béo phì cho người trưởng thành châu Á (Lê Bạch Mai và cộng sự,
2007)
Số đo vòng bụng Nam <90 cm Nam 90cm
25 – 29.9
30
Thừa cân Béo vừa phải Béo nhiều
Thừa cân vừa Béo nhiều Quá béo
Trang 17VAI=[ 𝑉𝐵
0.81][ 1.52
HDL] cho nữ Trong đó: VB: vòng bụng (cm), VM: vòng mông (cm), TRI: Triglycerid (mmol/l), HDL: HDL-cholesterol (mmol/l) (Amato và cộng sự, 2010)
Giá trị bình thương VAI= 1 đối với những người bình thường có phân bố mỡ bình
thường và mức TRI và HDL bình thường (Stępień và cộng sự, 2010)
Chỉ số mỡ cơ thể (BAI)
BMI đã được sử dụng để đánh giá béo phì trong gần 200 năm Tuy nhiên, BMI mặc
dù dễ dàng để tính toán nhưng không chính xác phản ánh mỡ cơ thể hay những thay đổi trong thành phần cơ thể diễn ra ở các giai đoạn khác nhau trong cuộc đời mỗi con người (Ambrosi và cộng sự 2014) Nhằm bổ sung cho khiếm khuyết này, BAI là một chỉ số thay thế BAI được sử dụng để phản ánh phần trăm mỡ cơ thể của người trưởng thành (Bergman, 2011) Phần trăm mỡ cơ thể được đo bằng phương pháp hấp thụ tia X năng lượng kép (DXA) được xem như là một "tiêu chuẩn vàng" để xác nhận Vòng mông và chiều cao tương quan mạnh với % mỡ cơ thể và BAI được đề xuất dựa trên nền tảng vòng mông và
chiều cao (Bergman, 2011)
BAI= 𝑉𝑀
Trong đó: VM: vòng mông (cm), CC: chiều cao (m)
1.3 Phân loại béo phì:
1.3.1 Phân loại béo phì theo sinh bệnh học:
Béo phì đơn thuần (béo phì ngoại sinh): Là béo phì không có nguyên nhân sinh bệnh học rõ ràng
Béo phì bệnh lý (béo phì nội sinh): Là béo phì do các vấn đề bệnh lý liên quan tới béo gây nên:
Trang 18Béo phì do suy giáp trạng: Thường xuất hiện muộn, béo vừa, chậm lớn, da khô, táo bón và chậm phát triển tinh thần
Béo phì do cường vỏ thượng thận: Có thể do tổn thương tuyến yên hoặc u tuyến thượng thận, tăng cortisol và insulin huyết thanh, không dung nạp glucose, thường béo ở mặt và thân, kèm theo tăng huyết áp
Béo phì do thiếu hormon tăng trưởng: Béo phì thường nhẹ hơn so với các nguyên nhân khác, béo chủ yếu ở thân kèm theo chậm lớn
Béo phì trong hội chứng tăng hormon nang buồng trứng: thường xuất hiện sau dậy thì Người béo phì có các dấu hiệu của rậm lông hoặc nam hóa sớm, kinh nguyệt không đều, thường gặp các u nang buồng trứng kèm theo
Béo phì trong thiểu năng sinh dục
Béo phì do các bệnh về não: Do tổn thương vùng dưới đồi, u não, chấn thương sọ não, phẫu thuật thần kinh Các nguyên nhân này gây hủy hoại vùng trung tâm não trung gian, ảnh hưởng đến sức thèm ăn, tăng insulin thứ phát nên thường kèm theo béo phì (Nader và cộng sự, 2009; Yanovski, 2015)
1.3.2 Phân loại béo phì theo hình thái của mô mỡ và tuổi bắt đầu béo
phì:
Béo phì bắt đầu từ nhỏ (trẻ em, thanh thiếu niên): Là loại béo phì có tăng số lượng và kích thước tế bào mỡ
Béo phì bắt đầu ở người lớn: Là loại béo phì có tăng kích thước tế bào mỡ còn
số lượng tế bào mỡ thì bình thường
Béo phì xuất hiện sớm: Là loại béo phì xuất hiện trước 5 tuổi
Béo phì xuất hiện muộn: Là loại béo phì xuất hiện sau 5 tuổi
Các giai đoạn thường xuất hiện béo phì là thời kỳ nhũ nhi, 5 tuổi, 7 tuổi và vị thành
niên (tuổi tiền dậy thì và dậy thì) Béo phì ở các thời kỳ này làm tăng nguy cơ của béo phì
trường diễn và các biến chứng khác (Hall K D and Guo J ,2017; Jerrett, 2010)
Trang 191.3.3 Phân loại béo phì theo vùng của mô mỡ và vị trí giải phẫu:
Béo bụng (béo trung tâm, béo phần trên, béo hình quả táo, béo kiểu đàn ông - thể
Android): Là dạng béo phì có mỡ chủ yếu tập trung ở vùng bụng
Béo đùi (béo ngoại vi, béo phần thấp, béo hình quả lê, béo kiểu đàn bà - thể Gynoid):
Là loại béo phì có mỡ chủ yếu tập trung ở vùng mông và đùi Phân loại này giúp dự đoán nguy cơ sức khoẻ của béo phì Béo bụng có nguy cơ cao mắc và tử vong do các bệnh tim mạch, đái tháo đường, tăng Insulin máu, rối loạn Lipit máu, không dung nạp Glucose hơn
so với béo đùi (Yanovski, 2015)
1.4 Hậu quả về sức khỏe của béo phì và các bệnh lý liên quan
Sự gia tăng béo phì trên toàn thế giới có tác động quan trọng trên sự suy giảm sức khỏe và làm giảm chất lượng sống (Visscher,2001; Taylor, 2013) Đặc biệt, béo phì góp phần quan trọng trong tỷ lệ mới mắc hàng năm của các bệnh tim mạch, đái tháo đường típ
2, ung thư, viêm xương khớp, tàn phế trong công việc và ngưng thở khi ngủ trên toàn cầu Béo phì có tác động rõ rệt hơn trên bệnh suất so với tử suất Visscher và Seidell dự đoán vào năm 2001, tàn phế do bệnh tim mạch liên quan với béo phì sẽ tăng đặc biệt trong các nước công nghiệp hóa, vì bệnh nhân sống sót sau bệnh tim mạch ở các nước này thường hơn trong các nước không công nghiệp hóa(Visscher,2001) Người ta cũng đã chứng tỏ tàn phế do đái tháo đường típ 2 liên quan đến béo phì, cũng sẽ tăng lên, đặc biệt ở các nước thu nhập thấp và trung bình, do cung cấp insulin thường không đủ ở các nước này Kết quả
là, trong những nước này, dự kiến sẽ tăng tàn phế do các bệnh thận, xơ cứng động mạch, bệnh thần kinh và bệnh võng mạc Tăng tỷ lệ béo phì hiện mắc có khả năng sẽ dẫn đến sự gia tăng về số năm mà đối tượng bị tàn phế hay mắc bệnh liên quan với béo ph (Visscher,2001) Nghiên cứu gánh nặng toàn cầu của béo phì và WHO gần đây đã ghi nhận rằng béo phì góp phần chủ yếu trên sức khỏebệnh tật, tàn phế và tử vong trong nhiều khu vực trên thế giới.(WHO, 2009)
Trang 20Béo phì đã nhanh chóng trở thành một mối quan tâm sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng ở Hoa Kỳ, và có liên quan đến một số tác động xấu đến sức khỏe trong thời thơ ấu
và sau này trong cuộc sống, bao gồm các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch (bao gồm tăng huyết áp và thay đổi mức lipid), (Aglony, 2009) ung thư (Biro, 2010) căng thẳng tâm lý, (Gale 2008) bệnh hen suyễn, (Almad, 2009) và bệnh tiểu đường(Chiarelli, 2008) Một số nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ giữa béo phì và bắt đầu dậy thì sớm và dậy thì sớm ở trẻ em gái, (Aksglaede, 2009), mặc dù nghiên cứu khác đã tìm thấy sự khác biệt về thời gian dậy thì ngay cả sau khi kiểm soát chỉ số BMI trong dân số (Aksglaede, 2009), Như vậy, mức độ mà dịch béo phì có thể góp phần vào dậy thì sớm là không rõ
1.4.1 Béo phì và các bệnh không lây nhiễm
Tăng huyết áp, đột quỵ và bệnh tim mạch
Tăng huyết áp (THA), đột quỵ và các bệnh tim mạch tăng ở người BP (Padwal, 2016) Một số cơ chế liên quan đến sự phát triển của THA, đột quỵ và bệnh tim mạch, các adipokine tiền viêm và tiền huyết khối có thể góp phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, tăng thể tích mạch máu, sức cản động mạch lớn hơn và giải phóng angiotensinogen
từ các tế bào mỡ mở rộng có thể góp phần làm THA (Schnabel, 2013)
Viêm xương khớp mạn tính và bệnh Gout
Béo phì có nguy cơ bị đau lưng, bệnh viêm khớp mạn tính và bệnh Gout Trong đó viêm xương khớp phổ biến hơn ở những người béo phì Điều này có thể liên quan đến cả khớp chịu trọng lượng và không chịu trọng lượng, cho thấy rằng sinh lý bệnh phải liên quan đến cả khối lượng cơ thể tăng adipokine lưu thông, các yếu tố gây viêm hoặc các cơ chế sinh lý bệnh khác (Reyes, 2016)
Ung thư
Béo phì dự đoán sự phát triển của một số dạng ung thư, đặc biệt là ở phụ nữ Sản xuất estrogen bởi mô mỡ và nguy cơ ung thư nội mạc tử cung và vú liên quan đã được biết đến
Trang 21Ở phụ nữ sau mãn kinh, mô mỡ là nguồn chính của các hợp chất oestrogen vì buồng trứng không còn sản xuất oestrogen Ngoài ra, các yếu tố tăng trưởng được tạo ra bởi mô mỡ như yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi-21 (FGF21), yếu tố tăng trưởng thần kinh, biến đổi yếu
tố tăng trưởng và yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu, cũng như insulin, cũng có thể tham gia vào sự phát triển của các tế bào cuối cùng trở thành ác tính đóng góp một thành phần khác vào nguy cơ mắc các dạng ung thư đa dạng ở người BP (Gunter, 2012) Ngoài ra, ở người béo phì thường gặp các loại ung thư (Quan Vân Hùng , 2007) Ở nam giới là ung thư đại trực tràng và tiền liệt tuyến (Ambrosi, 2011) Trong khi nữ giới là ung thư túi mật, tuyến vú và tử cung (Trần Hữu Dàng, 2011; Lê Bạch Mai và cộng sự 2007)
Bệnh đường tiêu hóa
Bệnh sỏi mật phổ biến hơn ở bệnh nhân BP, đối với những người có xu hướng hình thành sỏi túi mật, lượng Cholesterol tăng thêm từ chất béo tăng lên có thể là điểm bùng phát cho sự hình thành sỏi và bệnh túi mật (Radmard, 2015)
1.4.2 Béo phì và các bệnh rối loạn nội tiết chuyển hóa
Đái tháo đường
Có mối liên quan chặt chẽ giữa béo phì và bệnh đái tháo đường không phụ thuộc insulin Nguy cơ đái tháo đường không phụ thuộc insulin tăng lên liên tục khi BMI tăng và giảm đi khi cân nặng giảm Một nghiên cứu cho thấy, nếu một người tăng từ 5-8kg thì nguy
cơ đái tháo đường tuýp 2 tăng gấp 2 lần so với người không tăng cân, khi tăng 20kg thì nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường tuýp 2 tăng gấp 4 lần Các nguy cơ đó tiếp tục tăng lên khi béo phì ở thời kỳ trẻ em và thiếu niên, tăng cân liên tục, hoặc béo bụng Khi cân nặng giảm, khả năng dung nạp glucose tăng, sự kháng lại insulin giảm ( Ludwig D S., 2011) Béo phì là một trong những yếu tố dự báo mạnh nhất của đái tháo đường tuýp 2 ( Menke A., 2014) Sự phát triển của bệnh đái tháo đường tuýp 2 phụ thuộc vào những thay
Trang 22đổi ở một hoặc cả hai biến số chính (độ nhạy insulin và bài tiết insulin) Béo phì có thể làm thay đổi một hoặc cả hai biến này (DeFronzo R A., 2015)
Tỉ lệ mắc đái tháo đường tuýp 2 ở trẻ em ngày càng gia tăng song song với sự gia tăng tỉ lệ hiện mắc của bệnh béo phì và tỉ lệ hiện mắc chung của đái tháo đường tuýp 2 ở trẻ em dưới 10 tuổi là 4,6%, tăng 30% kể từ năm 2001 ( Dabelea D., 2014) Theo nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Phương Hà xét nghiệm máu của 46 trẻ từ 8-10 tuổi bị thừa cân, béo phì tại Hà Nội thì rối loạn glucose máu chiếm tỉ lệ cao nhất 43,5% Nhóm nghiên cứu ghi nhận glucose máu lúc đói ≥ 100mg % là 12,2% và 18,5% đối với nam và nữ theo thứ tự (nữ cao hơn nam, p<0.01) ( Khashayar P., 2013)
Rối loạn chuyển hóa Lipid máu
Béo phì có liên quan với rối loạn chuyển hóa lipid máu bao gồm tăng trilycerid, tăng cholesterol và cholesterol lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL-C) Khi các acid béo không được
sử dụng sẽ tập hợp ở mô mỡ Tại các mô mỡ này, các acid béo kết nối tạo thành Triglycerid, khi lượng triglycerid quá nhiều sẽ tràn vào máu gây triglycerid máu cao Khi tập thể dục, các triglycerid phân hủy thành các acid béo vào máu và đi đến cơ thể để đốt cháy tạo năng lượng, quá trình đốt cháy này sẽ làm giảm lượng Triglycerid ở mô mỡ và trong máu ( Trần
Trang 23Tăng huyết áp cũng liên quan mật thiết với béo phì Có nhiều cơ chế gây tăng huyết
áp ở người béo phì Hệ thống thần kinh giao cảm được hoạt hóa là một cơ chế quan trọng trong quá trình hình thành bệnh tăng huyết áp ở những người béo phì (Kosis, 2015)
Các adipokin được tạo ra bởi tế bào mỡ có liên quan đến cân bằng glucose và lipid máu, sinh học mạch máu và hơn nữa, tham gia vào phản ứng viêm hệ thống, đặc trưng cho chứng béo phì và hội chứng chuyển hóa Điều này có thể biểu hiện mối quan hệ sinh lý quan trọng với biến chứng xơ vữa động mạch và các biến cố tim mạch (Geevarghese, 2016)
Hệ hô hấp
Hen phế quản: đầu mối của sự liên kết giữa béo phì và hen phế quản là viêm Protein phản ứng C (CRP) và fibrinogen có nồng độ cao hơn ở người béo phì hơn người không béo phì Có một sự tương quan chặt chẽ giữa số lượng bạch cầu ái toan trong đàm với vòng bụng Ngoài ra, ngừng thở khi ngủ cũng xuất hiện nhiều ở người béo phì, biểu hiện bằng một loạt lần ngừng thở nối tiếp nhau, mỗi lần ngừng từ 20-30 giây trong lúc tim vẫn đập bình thường Sau nhiều năm, bệnh sẽ có biến chứng suy hô hấp mạn tính, tăng huyết áp, rối loạn nhịp tim, tai biến mạch máu não, thậm chí đột tử (Trần Hữu Dàng, 2011) Các yếu
tố làm tăng nguy cơ ngừng thở khi ngủ là béo phì, tuổi, giới Ngừng thở khi ngủ lâu dài
có thể làm rối loạn chức năng ty lạp thể do thiếu oxy mô Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan giữa nồng độ leptin và adiponectin với ngừng thở khi ngủ Ở những bệnh nhân béo phì, leptin huyết thanh tăng lên và adiponectin giảm và những adipokine này có thể là dấu hiệu lâm sàng tiềm tàng của hội chứng ngừng thở khi ngủ nghiêm trọng (Al-Mutairi, 2014)
Hệ tiêu hóa
Gan nhiễm mỡ rất thường gặp ở bệnh nhân thừa cân, béo phì và liên quan đến mức
độ béo phì Cơ chế bệnh sinh chính xác của bệnh vẫn còn đang được nghiên cứu
Trang 24Sự tăng tổng hợp acid béo do khối lượng mỡ tăng lên có thể là nguyên nhân chính làm tăng các lipoprotein giàu tryglyceride tại gan Trên thực tế, các acid béo có thể kích hoạt con đường chết tế bào theo chương trình trong tế bào gan thông qua kinase Nterminal kinase (JNK) JNK kích hoạt protein propoptotic Bim dẫn đến tăng apoptosis, gọi là
“lipoapoptosis” (chết tế bào theo chương trình liên quan mỡ) Hơn nữa, béo phì dường như
là một yếu tố nguy cơ gây ung thư biểu mô tế bào gan (Wree, 2011)
Nhiều nghiên cứu dịch tễ học liên tục xác định nguy cơ phát triển ung thư biểu mô thực quản và ung thư đại trực tràng ở người béo phì Các mô mỡ, đặc biệt là mô mỡ nội tạng tăng hoạt động về mặt chuyển hóa và có tác dụng nội tiết hệ thống có thể kết nối bệnh
béo phì và ung thư bằng kháng insulin, adipokin và steroid sinh dục (Donohoe, 2010) Sự
giảm độ hòa tan dẫn đến quá bão hòa mật là nguyên nhân đầu tiên làm gia tăng sỏi mật ở người béo phì Người béo phì có chỉ số bão hoà mật cao hơn người không béo phì, có lẽ là
do sự tiết cholesterol vào mật tại gan (Trần Hữu Dàng, 2011)
Hệ tiết niệu
Béo phì làm tăng hoạt hệ thần kinh giao cảm, tăng insulin máu Các yếu tố trên góp phần làm tăng tái hấp thu natri và ứ đọng dịch gây nên tăng huyết áp do thận ở người béo phì Sự kết hợp tăng mức lọc cầu thận và tăng huyết áp có thể khởi đầu cho tổn thương thận về sau này (Trần Hữu Dàng, 2011)
Hệ sinh dục
Có mối quan hệ giữa béo phì với chức năng sinh sản: giảm hoạt động tình dục và bất lực thường gặp ở nam giới, gia tăng tỷ lệ chảy máu tử cung và mất kinh ở nữ giới (Trần Hữu Dàng, 2011)
Hệ cơ xương khớp
Loãng xương: khi lipid bị oxy hóa kích thích hủy cốt bào và ức chế tạo cốt bào trong
mô xương đồng thời với tình trạng giảm dòng máu đến nuôi xương do xơ vữa sẽ làm giảm
Trang 25cung cấp canxi và các chất dinh dưỡng cần cho xây dựng mô xương, dẫn đến mất xương
và loãng xương (Trần Hữu Dàng, 2011)
Viêm khớp: béo phì đã được nhận biết như một yếu tố làm thúc đẩy viêm khớp do làm gia tăng các lực sinh học tác động trực tiếp lên bề mặt khớp
Thoái khớp: khi trọng lượng cơ thể tăng thì sức nặng đè lên các khớp càng lớn, nhất
là vùng lưng, khớp háng, khớp gối, cổ chân làm cho các khớp này sớm bị tổn thương và lão hóa nhanh (Trần Hữu Dàng, 2011)
1.5 Các nguyên nhân gây bệnh
Béo phì được xác định bởi các yếu tố khác nhau như di truyền (Hamilton và cộng sự 2007; Messina và cộng sự 2015), nhưng chủ yếu là do thiếu hoạt động thể chất, có liên quan đến sự mất cân bằng năng lượng Trên thực tế, con người hấp thụ quá nhiều thức ăn cần thiết gây tăng cân Hơn nữa, một chế độ ăn uống không lành mạnh, trong đó tiêu thụ nhiều đường, chất béo và muối và hấp thụ ít khoáng chất, vitamin và các vi chất dinh dưỡng khác có thể dẫn đến tăng cân (Mazzeo et al 2016) Hơn nữa, việc ít tập thể dục và sự thay đổi của môi trường khiến mọi người dành thời gian ở trong nhà, trước các thiết bị của họ
Sở dĩ thích ở nhà riêng vì sợ tội phạm Tuy nhiên, các hoạt động giải trí đã thay đổi: trên thực tế, mọi người ít làm các hoạt động chân tay hơn và thậm chí ít vận động hơn (Fontaine
và cộng sự 2003)
Ngoài ra, mặc dù thực tế là yếu tố di truyền rất hiếm để xác định béo phì, nhưng một
số người có khuynh hướng béo phì Họ thực sự mắc các chứng rối loạn di truyền như hội chứng Prader –Willi và hội chứng Bardet-Biedl Tuy nhiên, có một số hormone, insulin, leptin, neuropeptide Y, cortisol, ghrelin, norepinephrine, serotonin, inteleukin-6 TNF và các pepetides khác liên quan đến béo phì (Messina và cộng sự 2015)
Ví dụ, Orexyn có liên quan đến căn bệnh nói trên (Messina et al 2015) Nó là một
Trang 26(Date et al 1999; Tao et al 2006) Sự phân bố các tế bào thần kinh orexin và các thụ thể của chúng giải thích cách chúng tham gia vào nhiều quá trình sinh lý, bao gồm điều chỉnh giấc ngủ, kích thích và tiêu thụ năng lượng, cho thấy vai trò quan trọng trong sự phát triển của bệnh béo phì (Tsujino, Sakurai 2009; Hara et al 2001; Kotz 2006) Béo phì có liên quan đến giảm nồng độ orexin (Bronský J 2007) Hệ thống Orexin điều chỉnh và củng cố các mô hình ngủ / thức Những bệnh nhân gây ngủ, thiếu orexin, có kiểu ngủ thay đổi, giấc ngủ bị chia cắt nhiều và chỉ số BMI tăng cao (Kok et al 2002) Điều này cho thấy tầm quan trọng của orexin trong việc duy trì các mô hình ngủ / thức bình thường và cân bằng nội môi năng lượng
1.5.1 Cơ chế bệnh sinh của thừa cân, béo phì
Nguyên lý điều hòa năng lượng Cơ chế bệnh sinh của TCBP là do mất cân bằng năng lượng, khi quá nhiều lượng calo được hấp thụ và quá ít lượng calo được tiêu hao Khi có
sự mất cân bằng năng lượng sẽ xảy ra một trong hai khuynh hướng: tăng cân (năng lượng hấp thụ lớn hơn năng lượng tiêu hao) hoặc sụt cân (năng lượng hấp thụ nhỏ hơn năng lượng tiêu hao) Trong giai đoạn tiền BP, do hấp thụ năng lượng cân bằng với năng lượng tiêu hao nên đối tượng không tăng cân Trong giai đoạn tăng cân, có sự mất cân bằng năng lượng, trong một thời gian dài do năng lượng hấp thụ cao hơn năng lượng tiêu hao nên có hiện tượng tăng cân Ở giai đoạn giữ và duy trì cân nặng, đối tượng 10 lặp lại sự cân bằng năng lượng ở một mức mới cao hơn mức cũ Cơ thể đã quen với trọng lượng cơ thể gia tăng gồm cả mỡ và khối cơ nên sẽ có khuynh hướng duy trì cân nặng mới này (WHO, 2014)
Trang 27Hình 1 4 Mô hình nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh của béo phì
1.5.2 Mô mỡ hoạt động như một cơ quan nội tiết
Một số lý do khiến mỡ tích tụ trong cơ thể như Lipid cung cấp năng lượng cao hơn
về độ đậm so với các loại thực phẩm khác, lượng dự trữ mỡ trong cơ thể là không giới hạn, lượng Lipid ăn vào có thể được dự trữ trong các mô mỡ với tỉ lệ có thể lên đến 96% và việc ăn nhiều Lipid không làm gia tăng oxy hóa Lipid Cơ chế điều hòa kiểm soát lượng Lipid ăn vào: chuyển hóa Lipid thường không tốt bằng Glucid, Protein và mỡ không chuyển
hóa sang nhóm khác (Van Der Horst, 2007)
Trang 28Bảng 1 7 Đặc tính của các chất sinh năng lượng
Khả năng làm no trong bữa ăn Cao Trung bình Thấp
Năng lượng dư thừa từ thức ăn dẫn đến sự tích tụ chất béo trong các tế bào mỡ, làm
tăng kích thước tế bào (phì đại) và/hoặc tăng số lượng tế bào mỡ (Van Der Horst, 2007)
Sự phì đại và/hoặc tăng số lượng tế bào mỡ để chứa chất béo này là những tổn thương bệnh
lý của bệnh BP, do sự phân phối chất béo ở các vị trí bất thường như mỡ nội tạng, mỡ tim
và mỡ trong cơ bắp có thể xảy ra khi các tế bào mỡ đạt đến khả năng lưu trữ tối đa của chúng Mở rộng các tế bào mỡ và microbiome có thể tương tác để tăng môi trường viêm của vật chủ (Rosenbaum, 2015) Trước kia, các mô mỡ được cho là để dự trữ năng lượng
và giữ nhiệt, các nghiên cứu hiện nay cho thấy, chúng hoạt động như một cơ quan nội tiết,
do chúng tiết ra một số loại hormone và các yếu tố báo hiệu bao gồm adipokines hóa chất trung gian gây viêm và các axit béo tự do Não bộ điều khiển cảm giác thèm ăn, trung tâm điều hòa cảm giác thèm ăn nằm ở trên trục đường ruột - não bộ, những yếu tố kích thích cảm giác thèm ăn là nguyên nhân gây TCBP Ngoài ra, nồng độ cao hơn các apidokines lưu hành trong máu có thể gây nên những hậu quả xấu cho sức khỏe, trong đó có bệnh ĐTĐ tuýp 2, xơ vữa động mạch, rối loạn chuyển hóa Lipid máu, tăng huyết áp (THA)…
(Halberg, 2008)Hai loại suy giảm chức năng có liên quan đến việc tăng kích thước và khối
lượng tế bào mỡ trong BP Đầu tiên là những vấn đề liên quan đến khối mỡ như viêm
xương khớp (Bray, 2011), ngưng thở khi ngủ (Wall, 2012) và các phản ứng tâm lý xã hội
Trang 29đối với người mắc bệnh BP (Bray, 2011), Thứ hai là hậu quả chuyển hóa và viêm do sự bài tiết quá mức của sản phẩm bởi tế bào mỡ mở rộng (Halberg, 2008) và dự trữ mỡ ở vị
trí bất thường (Neeland, 2013) Nồng độ axit béo tự do tăng khi kích thước của tế bào mỡ
tăng lên, có thể tạo ra sự thay đổi trong việc đào thải insulin của gan và sự chuyển hóa Cholesterol trong gan dẫn đến tăng nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ và bệnh túi mật ở người BP (Bonfrate, 2014) Một số nghiên cứu đã chỉ ra cơ chế gây ra cảm giác thèm ăn bị xáo trộn trong não bộ của những người mắc bệnh BP (Heymsfield, 2017) Vai trò chính của não trong việc điều chỉnh trọng lượng cơ thể trở nên rõ ràng từ các quan sát khi động vật bị tổn thương và con người có khối u ảnh hưởng đến việc phát triển hành vi ăn uống bất thường
và BP bị điều khiển bởi vùng dưới đồi điều này chứng tỏ là các mạch thần kinh trung ương kiểm soát cân bằng năng lượng nội môi tích hợp các tín hiệu từ các mô ngoại biên như mô
mỡ (Farooqi, 2014),
1.5.3 Tình trạng kháng Insulin
Kháng insulin là tình trạng insulin không gắn được vào thụ thể trên tế bào ở mô đích làm cho Glucose không được hấp thu vào tế bào BP, đặc biệt là BP nội tạng (tích tụ mỡ quanh bụng), có liên quan trực tiếp đến kháng insulin ở cả người lớn và trẻ em Ở trẻ em rất dễ gặp tình trạng kháng insulin trong giai đoạn dậy thì Tuổi dậy thì, chủng tộc và tình trạng BP gây ảnh hưởng độc lập đến mức độ nghiêm trọng của tình trạng kháng insulin
(Casazza,2009)
1.5.4 Di truyền
Trong cùng một môi trường, một số người trở nên BP và những người khác thì không, điều này được giải thích bằng yếu tố di truyền Các gen khác nhau có thể được kích hoạt một cách chọn lọc hoặc được áp đặt như là một phần của sự phát triển thời thơ ấu hoặc tương tác với điều kiện môi trường để thay đổi kiểu hình Hơn nữa, có tồn tại một sự khác biệt sâu sắc giữa nền tảng di truyền và môi trường sống hiện tại (Bochukova, 2010)
Trang 30Theo giả thuyết “kiểu gen tiết kiệm”, trong quá trình tiến hóa của loài người, chúng
ta đã phải trải qua nhiều thời kỳ thiếu dinh dưỡng, do đó, áp lực lựa chọn rất có thể đã góp phần vào việc thúc đẩy các hành vi ăn quá nhiều, giảm việc tiêu hao năng lượng và giảm các hoạt động thể lực Những người chịu đựng được nạn đói trong thời gian dài và có thể
dự trữ, huy động năng lượng hiệu quả hơn thì tái sản sinh nhiều hơn những người không
có khả năng thích ứng này, sau đó dẫn đến sự biến đổi quá mức của các biến thể di truyền thúc đẩy khả năng ăn nhiều hơn, hấp thụ calo mức độ cao hơn và tích tụ năng lượng trong
các mô mỡ nhiều hơn (Yanovski, 2018) Do đó, sự gia tăng bệnh BP có lẽ là do tương tác
gen với một môi trường mới có xu hướng dễ gây ra bệnh BP hơn trước kia, chứ không phải
sự thay đổi từ trong gen của con người (Loos,2012) Tuy nhiên, nhiều gen khác đã được xác định có liên quan đến BP và phân phối chất béo (Locke, 2015) Ngoài ra, các nghiên cứu về bộ gen cho thấy chỉ có khoảng 2% phương sai của BMI có thể được giải thích bằng các thể đa hình nucleotide (Hebebrand, 2010) Điều chỉnh lượng thức ăn: Các nghiên cứu chứng minh rằng người mang alen FTO có thể đã làm giảm cảm giác no và cảm giác về việc dư thừa năng lượng, những dữ liệu này làm tăng tầm quan trọng của não bộ - nơi FTO
14 phổ biến nhất - trong việc điều chỉnh lượng thức ăn (Hess, 2013) Ngoài ra, các mạng lưới não không chỉ kiểm soát sự thèm ăn và cảm giác no mà còn sinh nhiệt, điều chỉnh hoạt động thần kinh tự phát và do đó có thể bảo vệ trọng lượng cơ thể (Richard, 2015) Những hiểu biết quan trọng về tính tự động và tiềm thức về cân bằng năng lượng nội môi đã khiến chúng ta phải cân nhắc về việc đưa quyết định cá nhân liên quan đến lựa chọn thực phẩm
và tập thể dục thành mục tiêu hành động trong việc phòng ngừa hoặc điều trị BP (Clemmensen, 2017)
1.5.5 Nguyên nhân nội tiết
Tổn thương hạ đồi do chấn thương, bệnh lý ác tính, viêm nhiễm gây ăn quá nhiều, suy sinh dục, giảm gonadotropin Béo phì vùng hạ đội tương đối hiếm gặp Phụ nữ suy giáp thường có tăng cân vì giảm tốc độ chuyển hóa, tuy nhiên hiếm khi nào có béo phì rõ rệt Béo phì do cường vỏ thượng thận (hội chứng Cushing) với triệu chứng thường gặp nhất
Trang 31là béo, chủ yếu ở vùng mặt cổ, vùng thượng đòn sau cổ, tạo thành hình ảnh "u trâu", mặt tròn đầy như mặt trăng, bụng và thân cũng béo, trong khi tay chân lại gầy U tụy tiết insulin (insulinoma) gây béo phì do insulin làm hạ glucose máu nên phải ăn nhiều Hội chứng buồng trứng đa nang với hơn 50% phụ nữ có hội chứng này bị béo phì
1.5.6 Nguyên nhân về dinh dưỡng
Nguyên nhân dinh dưỡng của béo phì là đa dạng, chủ yếu do (Trần Hữu Dàng, 2011) Các thành phần của chế độ ăn, ăn quá nhiều, chế độ ăn giàu chất béo
Canxi: hàng loạt nghiên cứu đã ghi nhận mối tương quan nghịch giữa BMI với hàm lượng canxi trong chế độ ăn
Bú sữa mẹ: nuôi con bằng sữa mẹ ít hơn ba tháng thường đi kèm với tăng nguy cơ béo phì ở trẻ em khi đến trường
1.5.7 Nguyên nhân khác
Tăng cân có thể do sản phẩm của các hormon steroide và các nhóm thuốc sau: chống trầm cảm, chống loạn thần, benzodiazepine Khi phụ nữ ngưng hút thuốc lá thì tăng cân thường xảy ra và có liên quan đến sự giảm sút nicotine Lối sống tĩnh tại ít hoạt động làm giảm tiêu thụ năng lượng và gia tăng cân nặng (Trần Hữu Dàng, 2011)
1.6 Thừa cân, béo phì và chất lượng cuộc sống
Người thừa cân béo phì thường bị trêu chọc, dẫn đến tâm lý tự ti, cô độc, thậm chí
có những biểu hiện tiêu cực như coi thường bản thân Các tổn thương tâm lý này nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời sẽ kéo dài đến tuổi trưởng thành sẽ trở nên khó hoà nhập cộng đồng, có tư tưởng nổi loạn, thậm chí có ý định tự tử Khi tăng cân, khả năng hoạt động thể chất bị giảm, những ảnh hưởng từ sự tự ti đối với cân nặng và dẫn đến việc sử dụng những loại thực phẩm ngon nhiều hơn, do đó dẫn đến một chu kỳ tăng cân nhiều hơn
Trang 32thẳng và tự ti đối với trọng lượng cơ thể, góp phần vào việc thực hiện các hành vi làm tăng khả năng tăng cân Trong quá trình phát triển của bệnh BP, yếu tố tâm lý dẫn đến việc nghiện ăn là điển hình hơn so với nghiện thức ăn ( Hebebrand J., 2014)
Người bị béo phì thường không cảm thấy thoải mái, kém lanh lợi trong cuộc sống, năng suất lao động kém hơn người bình thường: Người béo phì thường có cảm giác bực bội khó chịu vào mùa hè do lớp mỡ dày đã trở thành một hệ thống cách nhiệt Người béo phì cũng thường xuyên cảm thấy mệt mỏi toàn thân, nhức đầu, tê buốt ở hai chân làm cho cuộc sống thiếu thoải mái Người béo phì làm việc chóng mệt nhất là ở môi trường nóng Mặt khác, do khối lượng cơ thể cao nên để hoàn thành một công việc trong lao động, người béo phì nhiều công sức hơn Hậu quả là hiệu suất lao động giảm rõ rệt so với người bình thường Người béo phì thường phản ứng chậm chạp hơn so với người bình thường nên dễ
bị tai nạn giao thông cũng như tai nạn lao động ( Viện Dinh dưỡng, 2019)
2 Chế độ dinh dưỡng người mắc bệnh béo phì
2.1 Nguyên tắc cơ bản điều trị béo phì
Thừa cân béo phì là vấn đề sức khoẻ cộng đồng của nhiều quốc gia trên thế giới, do
đó biện pháp tiếp cận để phòng chống cần dựa trên việc chăm sóc sức khoẻ cộng đồng Thực tế, đã có rất nhiều giải pháp can thiệp phòng chống thừa cân béo phì trong 50 năm qua, nhưng thừa cân béo phì vẫn trở thành đại dịch, sự gia tăng rõ rệt của bệnh béo phì trầm trọng cũng có thể phản ánh sự thất bại của các hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu trong việc chăm sóc và điều trị bệnh béo phì Sự thờ ơ của các hệ thống chăm sóc sức khỏe
và các cơ quan bảo hiểm đối với các đặc điểm của sự tiến triển và tính chất mạn tính của bệnh béo phì, ảnh hưởng đến quá trình diễn biến của bệnh Ngoài ra, các nhà cung cấp dịch
vụ chăm sóc sức khỏe có thể có thái độ và định kiến tiêu cực với những người mắc bệnh béo phì, điều này dẫn đến giảm chất lượng chăm sóc và do đó bệnh nhân không tuân thủ chương trình điều trị ( Phelan S M., 2015) Sự thất bại của hệ thống y tế bắt đầu sớm nhất
là đối với hệ thống giáo dục của các trường đại học về y khoa Ví dụ, trong Kỳ thi Cấp phép về hoạt động Y tế Hoa Kỳ, các khái niệm quan trọng nhất về phòng ngừa và điều trị
Trang 33béo phì đã không được kiểm tra trong các kỳ thi ( Kushner R F., 2017) Thách thức lớn nhất của việc đối phó với đại dịch béo phì là biến những kiến thức về tính phức tạp của bệnh BP thành các giải pháp điều trị bệnh béo phì ở cả cấp độ cá nhân và xã hội ( Swinburn
B A.,2011)
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến béo phì, trong đó các nguyên nhân không thể phòng tránh được cần có các biện pháp khác nhau trong quản lý và điều trị, như các rối loạn về gen, các tình trạng bệnh lý liên quan đến rối loạn chuyển hóa Bên cạnh đó, nhóm nguyên nhân có thể phòng tránh được là mục tiêu tác động của các can thiệp trong phòng chống béo phì hiện nay, như mất cân bằng năng lượng, các yếu tố về lối sống và môi trường ( Byrne L K., 2011)
Thay đổi chế độ ăn uống hơp lí và hoạt động thể lực đúng mức là một trong những yếu tố quan trong điều trị béo phì hiệu quả Các biện pháp cụ thể là ( Bùi Thị Hương, 2011): Chế độ ăn năng lượng (calorie) thấp, cân đôi, ít đói, ít đường, đủ đạm, vitamin, nhiều rau quả
Luyện tập ở môi trường thoáng
Xây dựng nếp sông năng động, tăng cường hoạt động thể lực
Chế độ ăn cho người béo phì
Giảm năng lượng của khẩu phần ăn từng bước một, mỗi tuần giảm khoảng 300 kcal
so với khẩu phần ăn trước đó cho đến khi đạt năng lượng tương ứng đến mức BMI
BMI từ 25-29,9 thì năng lượng đưa vào một ngày là 1500 kcal
BMI từ 30-34,9 thì năng lượng đưa vào một ngày là 1200 kcal
BMI từ 35-39,9 thì năng lượng đưa vào một ngày là 1000 kcal
BMI là 40 thì năng lượng đưa vào một ngày là 800 kcal
Trang 34Trong đó tỉ lệ năng lượng giữa các chất là 15-16% protein, 12-13% lipid 71-72% glucid
Ăn ít chất béo, bột
Đủ chất đạm, vitamin, muối khoáng, cần bổ sung viên đa vitamin và vi lượng tổng hợp
Tăng cường rau và hoa quả
Tạo thói quen ăn uống theo đúng chế độ
2.2 Biện pháp thay đổi khẩu phần ăn và thói quen ăn uống
2.2.1 Thay đổi khẩu phần ăn
Các biện pháp can thiệp thay đổi chế độ ăn uống trước đây chủ yếu nhằm vào việc thay đổi tỉ lệ thành phần các chất dinh dưỡng đa lượng (Glucid, Protein, Lipid) trong khẩu phần cuả người thừa cân, béo phì Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng tiến hành trong vòng hai năm, so sánh các chế độ ăn với bốn chế phẩm có tỉ lệ các chất dinh dưỡng đa lượng khác nhau đã kết luận rằng: “Khẩu phần giảm calo có hiệu quả giảm cân
mà không phụ thuộc vào tỉ lệ các chất dinh dưỡng đa lượng trong khẩu phần đó” ( Sacks
F M., 2009) Hơn nữa, các chế độ ăn uống giảm calo không giúp có cảm giác no, luôn có
xu hướng muốn tìm đồ ăn thêm dẫn tới việc duy trì chế độ ăn uống đó gặp nhiều khó khăn Với những kết quả tương tự đến từ một số thử nghiệm khác, các khuyến nghị chính sách y
tế về các biện pháp can thiệp chế độ ăn uống đã chuyển từ khẩu phần ít calo chú trọng thay đổi tỉ lệ các chất dinh dưỡng đa lượng sang phương pháp thay đổi khẩu phần nhấn mạnh việc kiểm soát kích thước khẩu phần và đậm độ năng lượng ( US Department of Agriculture and US Department of Health and Human Services, 2010)
Nghiên cứu cho rằng, bữa ăn giàu protein giúp người thừa cân đốt bỏ mỡ thừa Những người thừa cân và béo phì có thể loại bỏ nhiều mỡ hơn bằng cách ăn những khẩu phần giàu protein, theo một nghiên cứu mới đây
Trang 35Các nghiên cứu trước đây đã chứng minh những người thừa cân có khả năng "đốt"
mỡ không hiệu quả bằng những người bình thường Trong nghiên cứu mới, một nhóm tác giả ở Úc đã đánh giá thử liệu hàm lượng protein trong bữa ăn làm tăng khả năng đốt mỡ hay không Họ nhận thây những người đàn ông và phụ nữ thừa cân đôì nhiều mỡ sau bữa
ăn hcm khi họ dùng bữa sáng và bữa trưa có nhiều protein hơn Có vẻ rằng tăng hàm lượng protein giúp cải thiện khả năng đốt mỡ ở những người này Những người thừa cân sau khi
ăn khẩu phần giàu protein có khả năng đốt mỡ còn hiệu quả hơn những người bình thường Các nghiên cứu trước cho rằng ăn nhiều protein giúp người ta giảm cân dễ dàng một phần
là do protein ức chế cảm giác thèm ăn tốt hơn mỡ hay carbohydrate Nghiên cứu mới không được thiết kế để tìm hiểu khả năng giảm cân của protein Do đó, đốt mỡ hiệu quả hơn không hẳn là giảm cân khi dùng protein trong thời gian dài cần phải tiến hành các nghiên cứu tiếp theo để trả lời câu hỏi này Có 18 người tình nguyện tham gia nghiên cứu: 6 người
có trọng lượng bình thường, 6 người thừa cân và 4 bị béo phì với độ tuổi trung bình là 40 Những người này được đánh giá sự trao đổi chất trong 3 ngày riêng biệt, ở ngày thứ nhất, họđược cho ăn các bữa ăn "đối chứng" chứa 58% carbohydrate và 14% protein Vào hai ngày còn lại khẩu phần ăn có tỉ lệ dinh dưỡng cân bằng: 1/3 năng lượng từ protein và 1/3
từ carbohydrate Trong 8 giờ sau khi ăn bữa "đối chứng", nhóm nghiên cứu nhận thấy những người thừa cân và béo phì đốt ít mỡ hơn những người khác Khoảng cách này được thu hẹp khi họ được dùng bữa có tỉ lệ protein cao Khẩu phần ăn giàu protein bao gồm sữa
ít béo, thịt nạc, trứng cùng với bánh mì và rau quả Nói chung, mọi người nên giảm bớt thịt muối và bơ, tăng cá, thịt gia cầm, sữa ít béo và đậu trong khẩu phần ăn hàng ngày ( Bùi Thị Hương, 2011)
Ăn sáng càng nhiều, càng dễ giảm cân: Bữa sáng từ lâu vẫn được tôn vinh là bữa quan trọng nhất trong ngày, đặc biệt cho việc giảm cân Nay các nhà khoa học còn chứng minh bữa sáng càng lớn thì giảm cân càng nhiều Nghiên cứu mới cho thây những phụ nữ
ăn một nửa lượng calo trong ngày vào bữa sáng thì sẽ giảm được rìhiều cân hơn so với
Trang 36nhiều tinh bột, cũng như thúc đẩy sự trao đổi chất Các nhà nghiên cứu tại bệnh viện Clinicas ở Caracas, Venezuela, đã tìm hiểu thói quen ăn sáng ảnh hưởng tới cân nặng của
100 phụ nữ béo phì như thế nào Tất cả đều được ăn chế độ ít calo và ít carbohydrate Tuy nhiên một nửa được ăn bữa sáng lớn, chiếm gần một nửa lượng calo trong ngày Nửa còn lại ăn sáng ít Khi đi được nửa chặng nghiên cứu (4 tháng), những phụ nữ ăn bữa sáng nhỏ giảm trung binh 12kg, nhiều hơn nhóm còn lại 2,2kg Nhưng kết quả không chỉ dừng ở đó Sau 8 tháng, những người ăn sáng ít lại tăng trung bình 8kg, trong khi người ăn bữa sáng lớn tiếp tục giảm cân và mất đi thêm 7,5kg Đến cuôì nghiên cứu, những ai ăn nhiều trong bữa sáng giảm hơn 21% tổng số cân nặng, so với chỉ 4,5% ở những phụ nữ khác Những người ăn nhiều cũng cho biết họ cảm thây ít đói hơn, đặc biệt trước bữa trưa và ít thèm đồ ngọt hơn Nhà nghiên cứu Daniela Jakubowicz cho biết những chế độ ăn chỉ đơn thuần hạn chế carbohydrate không đera lại hiệu quả bởi nó không làm giảm thèm muốn những
đồ ăn giàu calo Ngoài ra, bỏ bữa sáng khiến cơ thể thiếu chất và dẫn đến tích trữ nhiều hơn vào bữa trưa và bữa tối Ăn một nửa lượng calo trong ngày trong bữa sáng còn giúp
cơ thể có thời gian để tiêu hóa thức ăn hiệu quả ( Bùi Thị Hương, 2011)
2.2.2 Kích thước khẩu phần
Các nghiên cứu gần đây cho thấy kích thước khẩu phần có tác động mạnh mẽ, bền vững đối với lượng thực phẩm tiêu thụ Cảm giác no phụ thuộc vào thể tích các thức ăn đưa vào cơ thể trong một bữa ăn ( Kral T V E and Rolls B J ,2011) Hướng dẫn chế độ
ăn uống năm 2010 cho người Mỹ không chỉ khuyên mọi người ăn ít calo hơn mà còn khuyến nghị tăng tỉ lệ rau và trái cây trong bữa ăn ( US Department of Agriculture and US Department of Health and Human Services, 2010) Việc tăng tỉ trọng rau, quả trong khẩu phần giúp giảm lượng calo tiêu thụ ( Rolls B J., Roe L S., and Meengs J S , 2010) Các nghiên cứu khác cho thấy ở cả trẻ em và người lớn, việc tăng lượng rau ăn vào lúc bắt đầu bữa ăn có thể giảm lượng calo của cả bữa ăn ( Spill M K., Birch L L., Roe L S et al, 2010)
Trang 37Việc bổ sung ngũ cốc nguyên hạt trong khẩu phần cũng giúp làm tăng kích thước khẩu phần Một số nghiên cứu từ các quốc gia và châu lục khác nhau, bao gồm Malaysia ( Koo H C., 2016), Bahrain ( Gharib N and Rasheed P., 2011) và châu Âu (Kleiman S., 2012), đã chứng minh rằng trẻ em vẫn bị thiếu chất xơ và một số vi chất dinh dưỡng trong chế độ ăn của chúng, mặc dù có đủ lượng calo và các chất dinh dưỡng đa lượng Một phân tích gộp gần đây kết luận rằng những người lớn sử dụng ngũ cốc nguyên hạt trong khẩu phần có nguy cơ TCBP thấp hơn ( Ye E Q., 2012) Ngoài ra, các nghiên cứu dịch tễ và các thử nghiệm lâm sàng can thiệp ngẫu nhiên được tiến hành trên người trưởng thành ở Mỹ đều cho thấy rằng khối lượng mỡ bụng giảm hơn ở những người dùng chế độ ăn có ngũ cốc nguyên hạt so với những người dùng chế độ ăn có ngũ cốc tinh chế ( Maki K C., 2010)
Một biện pháp kiểm soát kích thước khẩu phần khác là hạn chế tiếp xúc các thực phẩm giàu năng lượng Điều này có thể làm được với các loại đồ ăn nhanh được đóng gói dưới dạng lỏng Có bằng chứng cho thấy việc tiêu thụ đồ ăn nhanh dạng lỏng giúp hạn chế năng lượng và giảm cân ( Heymsfield S B., 2010) Ngoài ra còn có bằng chứng cho thấy tác động tiêu cực của đồ ăn nhanh dạng rắn đối với việc giảm cân ( Rock C L., 2010) Các nghiên cứu đều cho thấy biện pháp kiểm soát khẩu phần có hiệu quả giảm cân, tuy nhiên hiệu quả duy trì lâu dài cân nặng đã đạt được của biện pháp này cần phải được nghiên cứu thêm
2.2.3 Đậm độ năng lượng
Đậm độ năng lượng của thực phẩm là yếu tố quyết định đáng kể đến cảm giác no và tổng lượng calo trong khẩu phần không phụ thuộc vào tỉ lệ các chất dinh dưỡng đa lượng Những nghiên cứu về đậm độ năng lượng cho thấy rằng việc tiêu thụ một lượng lớn các loại thực phẩm có đậm độ năng lượng thấp và nhiều nước như súp, xà lách hoặc trái cây,
có liên quan đến việc giảm lượng calo ăn vào ( Rolls B J ,2010) Việc được ăn nhiều thức
ăn hơn trong khi vẫn giảm năng lượng đưa vào có thể góp phần xây dựng một chế độ ăn uống năng lượng thấp vì có thể kiểm soát cơn đói
2.2.4 Biện pháp thay đổi thói quen ăn uống
Trang 38Các biện pháp can thiệp thay đổi thói quen ăn uống chỉ có thể đạt hiệu quả duy trì cân nặng hoặc giảm cân khi kết hợp với các biện pháp can thiệp tâm lý để thay đổi hành vi Các can thiệp về tâm lý được sử dụng với mục tiêu duy trì những thay đổi hành vi đã đạt được từ các biện pháp can thiệp thay đổi chế độ ăn và tăng cường hoạt động thể lực ( De Miguel-Etayo P, 2013)
Cần nên tránh những thói quen ăn uống, sinh hoạt sai gây ảnh hưởng việc điều trị giảm cân như ( Bùi Thị Hương, 2011):
Không ăn quá nhiều vào buổi tối
Không dùng thức ăn nhiểu đường và dầu mỡ
Giảm tối đa các loại thịt đỏ (thịt heo, bò, tôm, cua ) và lưu ý không nhịn ăn, uống nước
Hạn chế việc ăn vặt và các loại trái cây ngọt: Sầu riêng, mít
Tránh xa các loại snack nhiều năng lượng như khoai tây chiên, đậu phông chiên Không nên dự trữ thức ăn giàu năng lượng như: Bánh kẹo, chocolate, bơ, mứt, nước ngọt, kem
Không tập luyện qua loa dưổí 30 phút: Vì thông thường sau 30-45 phút vận động, cơ thể mới sử dụng năng lượng từ mỡ
Ăn quá nhanh:Một nghiên cứu cho thây khi ăn nhanh 1 bát mỳ Ý, cơ thể sẽ hấp thụ
646 calo trong 9 phút trong khi những người ăn chậm, từ từ thưởng thức thì mất trung bình
là 29 phút để hấp thụ 579 calo Ngoài ra, vội vàng ăn còn có hại đến hệ tiêu hoá, dễ bị đau
dạ dày
Ăn trong ánh sáng yếu: Trong một nghiên cứu của trường Đại học Caliíornia (Mỹ) năm 2002, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng những người "phàm ăn" thường thích
Trang 39thưởng thức các món ăn trong ánh sáng mờ mờ Đó là vì khi ăn dưới ánh sáng yếu, cảm giác tự ti vì ăn nhiều của họ sẽ biến mất, họ thoải mái ăn uống hơn
Không nhai kỹ: Phần lớn những nghiên cứu đều cho thây, nhai kỹ khi ăn giúp phòng ngừa trướng bụng và đau dạ dày Khi không nhai kỹ mà nuốt chửng thức ăn, những thức
ăn này sẽ râd khó tiêu hoá hết Bởi vì thức ăn thông qua việc nhai sẽ tiếp xúc được nhiều hơn với enzym có trong nước bọt
2.3 Những lí do khiến viêc giảm cân không hiệu quả
Chủ quan trong chế độ ăn uống: Nếu mỗi ngày bạn chỉ cần dư ra 50kcal (tức khoảng
1 trái chuôi hay 1/4 chén cơm) liên tục trong vòng 1-2 tuần thì sẽ lên được 0,5kg Béo phì
là một quá trình tích lũy mỡ dần dần kéo dài nhiều tháng nhiều năm chứ không phải một sớm một chiều mà béo ngay Khi sự cung cấp năng lượng vượt hơn mức tiêu hao (là năng lượng cần thiết cho cơ thể sông, vận động và phát triển) thì lượng calo dư đó sẽ chuyển thành mỡ và tích trữ lại trong cơ thể Do đó bạn phải quan tâm ngay sau khi tăng cân không cần thiết đều đều mỗi tháng l-2kg trong 3 tháng liên tiếp Ngoài ra bạn phải can thiệp ngay lúc này, để nếu cơ thể không thể trở lại trọng lượng như cũ thì ít nhất cũng không bị tăng cân thêm.( Bùi Thị Hương, 2011)
Buông xuôi; Không có ý chí chiến thắng bản thân, không chống lại nổi những cám
dỗ của thức ăn hoặc ngại khó, lười biếng trong việc tập thể dục là những nguyên nhân chính gây ra béo phì ( Bùi Thị Hương, 2011)
Nhịn đói: Nhịn đói không phải là cách giảm lượng ăn vào hiệu quả Chúng ta thường
có thói quen nhịn ăn buổi sáng, buổi trưa ăn qua loa để tối về đói quá đành làm một bữa thịnh soạn Hậu quả là bạn sẽ tăng cân chứ không thể giảm trọng lượng ( Bùi Thị Hương, 2011)
Nôn nóng giảm cân nhanh: Các bệnh nhân đến phòng khám béo phì đều mong muốn