1. Trang chủ
  2. » Tất cả

CSND- TRANG - MNDONGPHU (1).DOC

26 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 14,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại bếp ăn, tôi luôn luôn lắng nghe những ý kiến đóng góp của chị emđồng nghiệp và học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước để từ đó thammưu với ban giám hiệu nhà trường về chế độ th

Trang 1

MÃ SKKN:

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

“Một số Biện pháp chế biến món ăn cho trẻ tại trường

Trang 2

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NĂM HỌC: 2019 - 2020

Trang 3

Phần I Đặt vấn đề 1/15

4 Đối tượng nghiên cứu khách thể nghiên cứu 2/15

Phần II Giải quyết vấn đề : Những biện pháp nghiên cứu

Biện pháp 2: Tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm để nâng cao khả

năng chế biến món ăn cho trẻ

6/15

Biện pháp 3: Cải tiến phuơng pháp chế biến 9/15 Biện pháp 4: Tham gia hội thi cô nuôi giỏi các cấp 11/15 Biện pháp 5 : Phối kết hợp với phụ huynh 11/15

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 4

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do chọn đề tài

Trẻ em là những mầm non tương lai của đất nước, là nguồn hạnh phúc vôtận của mỗi gia đình, là nguồn động viên lớn giúp chúng ta quên đi mệt mỏitrong một ngày làm việc, là nguồn kế tục vẻ vang của ông cha ta và phát huy sựnghiệp của đất nước.Vì vậy, mọi trẻ em khi sinh ra đều có quyền được chăm sóc

và nuôi dưỡng về mọi mặt để trẻ có thể phát triển toàn diện.Quá trình chăm sóc– giáo dục trẻ là nhiệm vụ của toàn xã hội nói chung và của các trường mầm nonnói riêng Bởi ở trường mầm non, cô phải chăm sóc thế nào để trẻ có một cơ thểkhoẻ mạnh và một sức khoẻ tốt nhất, để từ đó tạo ra niềm tin từ các bậc phụhuynh khi gửi con tới trường

Bản thân là một cô nuôi, tôi đã không ngừng học hỏi, trau dồi kiến thức từnhững buổi kiến tập tại các các trường điểm do Phòng giáo dục và đào tạo tổchức Tại bếp ăn, tôi luôn luôn lắng nghe những ý kiến đóng góp của chị emđồng nghiệp và học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước để từ đó thammưu với ban giám hiệu nhà trường về chế độ thực đơn theo mùa, theo tuần củatrẻ, cân đối hài hoà các chất dinh dưỡng với nhau giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hếtxuất, nhằm giúp trẻ có thể lực và sức khoẻ tốt nhất khi tham gia mọi hoạt động

mà trẻ được học tại trường

Nhưng bên cạnh đó, khi tham gia phối hợp cùng các cô giáo cho trẻ ăn tạicác lớp bé và nhà trẻ tôi nhận thấy: Còn một số trẻ kén ăn, ăn chưa ngon miệng,chưa hết xuất của mình, đó là điều tôi luôn trăn trở, suy nghĩ để luôn đổi mớicách chế biến các món ăn cho trẻ để hấp dẫn trẻ hơn, kích thích trẻ ăn ngon

miệng, ăn hết xuất Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn đề tài " Một số biện

pháp chế biến món ăn cho trẻ tại trường mầm non”để làm đề tài nghiên cứu.

2 Mục đích nghiên cứu

- Bản thân hiểu sâu hơn về đổi mới phương pháp và thực sự mang lại hiệu quảcao cho mỗi nhân viên nấu ăn trong quá trình tổ chức thực hiện chế biến cácmón ắn cho trẻ, giúp mỗi cô nuôi chủ động, mạnh dạn, tích cực, sáng tạo hơntrong qua trình chế biến khảu phần ăn cho trẻ vừa đẹp mắt hấp dẫn lại vừa đảmbảo đầu đủ các chất dinh dưỡng và khẩu phần ăn cho trẻ trong ngày theo tùng độtuổi

3 Nội dung nghiên cứu

- Để thực hiện được đề tài này đạt được kết quả cao và theo đúng mục đích mà

đề tài đưa ra thì tôi đã đưa ra một số nội dung để nghiên cứu như sau:

+ Khảo sát thực tế tình hình của trẻ đầu năm học, đưa ra một số phương pháp đểnghiên cứu trong việc giúp trẻ các độ tuổi ăn ngon miệng hơn

+ Lập kế hoạch tổ chức thực hiện nghiên cứu đề tài

Trang 5

+ Đối chứng việc trẻ ở các độ tuổi (Trước và sau khi thực hiện theo các phươngpháp tổ chức mới).

4 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu: “Một số biện pháp chế biến món ăn cho trẻ tại trường

mầm non”

Khách thể nghiên cứu: là học sinh, phụ huynh, giáo viên và đồ dùng để phục vụchế biến món ăn

5 Thành phần tham gia nghiên cứu.

Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu một số Biện pháp chế biến món ăn cho trẻ tạitrường mầm non ở đơn vị mình đang công tác

Đối tượng nghiên cứu: là Học sinh các độ tuổi tại trường mầm non tôi đang côngtác

6 Phương pháp nghiên cứu.

Để hoàn thành nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, tôi sử dụng một số phương phápnghiên cứu sau :

- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc, nghiên cứu và hệ thống hoá một số tàiliệu làm cơ sở lý luận cho đề tài

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp phỏng vấn

- Phương pháp thống kê toán học

7 Kế hoạch nghiên cứu.

Để thực hiện đề tài và đem lại hiệu quả cao, trước khi thực hiện đề tài tôi đãvạch ra một kế hoạch cụ thể theo từng giai đoạn:

Giai đoạn 1: từ ngày 05 đến ngày 12 tháng 9 năm 2019, lựa chọn đối tượng,

phương pháp nghiên cứu và các giải pháp

Giai đoạn 2: 13 tháng 9 đến 30 tháng 9 năm 2019, điều tra thu thập tài liệu,

khảo sát thực tế

+ Khảo sát trể trẻ bằng phương pháp quan sát, điều tra

+Khảo sát trên phụ huynh bằng phương pháp phỏng vấn

Giai đoạn 3:Tháng 10/ 2019 đến hết tháng 3/ 2020, tự nghiên cứu và thực hiệncác giải pháp đã lựa chọn

Giai đoạn 4:Tháng 4/ 2020, viết sáng kiến kinh nghiệm

PHẦN II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ : NHỮNG BIỆN PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỔI MỚI

1 Cơ sở lý luận

Trang 6

Dinh dưỡng là nhu cầu sống hàng ngày của con người, đặc biệt là trẻ emcần dinh dưỡng để phát triển thể lực và trí tuệ còn người lớn cần dinh dưỡng để duy trì sự sống và làm việc, hay nói cách khác dinh dưỡng quyết định sự tồn tại

và phát triển của cơ thể mà đặc trưng cơ bản của sự sống là sinh trưởng, phát triển, sinh sản, cảm ứng, vận động, trao đổi chất và năng lượng Như chúng ta cũng đã biết con người là một thực thể sống nhưng sự sống không thể tồn tại được nếu con người không ăn và uống Từ đó cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của việc ăn và uống, đây là nhu cầu hàng ngày, một nhu cầu cấp bách, bức thiết không thể thiếu được đối với mỗi con người chúng ta, đặc biệt là trẻ em vì trẻ em lúc này đang trong thời kỳ phát triển mạnh Vì vậy nhu cầu dinh dưỡng rất lớn Nếu thiếu ăn trẻ sẽ là đối tượng đầu tiên chịu hậu quả của các bệnh về dinh dưỡng như: suy dinh dưỡng, còi xương bên cạnh đó căn bệnh béo phì ở trẻ

em có xu hướng gia tăng ở một số đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và đang xảy ra ở khu vực nông thôn chúng ta, đây cũng là mối quan tâm của nhiều gia đình và nhà trường nhất là ở độ tuổi mẫu giáo Vì trẻ mẫu giáo lúc này nhu cầu dinh dưỡng của trẻ rất lớn, nếu chúng ta không có khẩu phần dinh dưỡng thích hợp thì dẫn đến bệnh béo phì ở trẻ Hiện nay trong thời kỳ của nền kinh tế thị trường công nghiệp hoá và hiện đại hoá của nước ta thì các vấn đề nẩy sinh do chế độ dinh dưỡng không đầy đủ và không hợp lý vẫn là vấn đề mà chúng ta cần phải quan tâm và xem xét

Để làm được điều đó thì nền giáo dục mầm non không những quan tâm đến vấn

đề dạy dỗ trẻ những kiến thức sơ đẳng để hình thành phát triển nhân cách đầu tiên cho trẻ mà bên cạnh đó chúng ta những người làm giáo dục cần quan tâm hơn nữa về công tác chăm lo cho trẻ một cách phù hợp để giúp trẻ có được một

cơ thể khoẻ mạnh

“ Vì lợi ích mười năm trồng cây

Vì lợi ích trăm năm trồng người”

Nuôi dưỡng là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ trongtrường mầm non Nuôi dưỡng đảm bảo chất lượng có tác dụng tăng cường vàbảo vệ sức khỏe cho trẻ, giúp trẻ phát triển tốt tạo điều kiện để thực hiện nộidung giáo dục toàn diện

Muốn có chất lượng nuôi dưỡng tốt, trước hết là cô nuôi cần phải làm tốt việcchế biến món ăn cho trẻ, thực hiện tốt quy chế nuôi dạy trẻ, đặc biệt phải luôntìm tòi, sáng tạo để nâng cao chất lượng chế biến món ăn cho trẻ

Bởi thực tế, trẻ 24-36 tháng đã ăn được cơm nát và ăn nhiều loại thức ăn hơnnhưng trẻ rất dễ bị chớ, nôn và khó ăn vì vậy cần có cách chế biến riêng: Chú ýtới thức ăn mềm, nghiền nát, nấu nhừ xay nhỏ Trẻ mẫu giáo (3 – 6 tuổi), trẻ cónhu cầu ăn ngon hơn và tiêu hóa được nhiều loại thức ăn hơn, thích lựa chọn các

Trang 7

món ăn hấp dẫn với trẻ Mặt khác, trẻ lại mau chán ăn và ít tập trung vào bữa ăn.

Để nâng cao chất lượng của các con món ăn cho trẻ và làm sao lôi cuốnđược trẻ bằng nhiều hình thức hình thức trang trí , đổi cách chế biến, nâng cao

và thu hút sự hứng thú tích cực một cách hiệu quả cao nhất Chính vì lẽ đó nêntôi đã chọn viết về đề tài

2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu.

Năm học 2019 - 2020 tổng số trẻ đến trường đầu năm: 367 trẻ

Toàn trường có 11 nhóm lớp:

Trong đó: Nhà trẻ 02 lớp từ 24 – 36 tháng tuổi 51 trẻ

Lớp mẫu giáo từ 3 – 6 tuổi là 09 lớp: 316 trẻ

Năm học 2019 - 2020 công tác nuôi dưỡng bán trú đạt 100%

Qua kiểm tra, theo dõi sức khỏe của trẻ khi vào trường đầu năm học 2019

-2020 tôi thấy tình hình sức khỏe trẻ như sau:

- 8 cô nuôi có bằng cao đẳng nấu ăn

- Học sinh đi học đều, chuyên cần đúng giờ

- Nhà trường ký hợp đồng thực phẩm với các công ty nhà nước: Yêu cầu cáccông ty có đầy đủ cam kết an toàn vệ sinh thực phẩm và đưa hàng ngon, giá cảđưa theo giá cả ngoài thị trường

Trang 8

- Phụ huynh đa số làm nghề nông và buôn bán nên họ vẫn chưa có nhiềuthời gian quan tâm đến việc chăn sóc và giáo dục trẻ ở nhà cũng như ởtrường.

- Thời tiết thay đổi bất thường, giá cả thực phẩm biến động ngày một tăngcao, do đó việc thay đổi thực đơn cân đối khẩu phần và chế biến món ăn chotrẻ gặp nhiều khó khăn

- Nhiều trẻ lớp bé kén ăn, ăn chậm, nhiều trẻ được gia đình quá nuôngchiều thường xúc cho trẻ ăn, cho trẻ ăn dong

c Điều tra thực tiễn

Qua khảo sát cho thấy hầu hết trẻ ở mọi lứa tuổi đều biếng ăn hoặc ăn khônghết xuất vì sự lặp đi lặp lại các món ăn đơn giản mà không có sự thay đổi thựcđơn hoặc sáng tạo cách trang trí hay cách chế biến Từ những suy nghĩ đó tôimạnh dạn nghiên cứu và áp dụng đổi mới các món ăn và thay đổi thực đơnphong phú cho trẻ trong trường mầm non nơi tôi đang công tác

3,Mô tả , phân tích các biện pháp hoặc cải tiến mới

Biện pháp 1: Phối kết hợp với giáo viên tổ chức cho trẻ ăn ở trên lớp.

Mục đích của việc nâng cao chất lượng chế biến món ăn cho trẻ là: trẻ ăn

ngon miệng, ăn hết suất Khi đã xây dựng được thực đơn phong phú, đã lựachọn và chế biến món ăn cho trẻ Sau khi chế biến xong các món ăn và chia địnhlượng tại bếp, tôi đã đến từng lớp để trực tiếp cùng với các giáo viên tham gia tổchức giờ ăn cho trẻ và ghi sổ rút kinh nghiệm từng ngày và tìm hiểu nguyênnhân trẻ ăn hết (không) hết suất, trẻ thích ăn món nào để kịp thời điều chỉnh rútkinh nghiệm…Nếu như trẻ thích ăn món nào tôi tiếp tục chế biến cho trẻ ăn Khiphụ giờ ăn lớp D1( Nhà trẻ) tôi thấy các cháu ăn rất ít đặc biệt là các cháu mới

đi học, trẻ rất khó ăn cơm Qua tìm hiểu tôi thấy cơm cần phải nấu nát hơn, cácmón ăn cần xay nhỏ hơn Tôi đã cùng bàn bạc các cô nuôi cần nấu cơm cho trẻnhà trẻ nát hơn cho thêm nước và với thịt cần xay nhỏ 3 lần, ninh kỹ mềm hơn

để trẻ dễ ăn Là bếp trưởng tôi đã phân công các cô nuôi giờ ăn phụ thêm vàocác lớp bé và nhà trẻ để phụ giúp các cô cho cháu ăn đồng thời rút kinh nghiệm

để chế biến món ăn cho trẻ ngon hơn, phù hợp hơn với trẻ

- Tôi thường quan sát những cháu nào có biểu hiện biếng ăn, giảm cân hoặccháu nào tăng cân, béo phì

- Đề xuất ý kiến với ban giám hiệu nhà trường điều chỉnh lại thực đơn cho cáccháu hàng ngày để phù hợp với thể trạng của các cháu đó, đồng thời, phối hợpvới giáo viên các lớp tăng cường chăm sóc đặc biệt đến trẻ suy dinh dưỡng + Đối với cháu không tăng cân thì cố gắng thường xuyên động viên, khích lệcho các cháu ăn hết xuất

Trang 9

+ Đối với các cháu có biểu hiện béo phì thì tôi khuyên các cháu ăn ít cơm,đường và trước khi ăn cho các cháu ăn nhiều rau quả.

Ngoài ra, chúng tôi đã lập sổ theo dõi khẩu vị ăn của trẻ, số lượng cơm, canh,thức ăn thừa hoặc thiếu, lý do để kịp thời điều chỉnh cách chế biến hàng ngày

- Nếu món ăn trẻ không thích hoặc chế biến chưa đảm bảo thì tôi sẽ rút kinhnghiệm và trao đổi với ban giám hiệu và cùng với các chị em trong tổ nuôi đểthay đổi cách chế biến phù hợp, hấp dẫn hơn để trẻ ăn ngon miệng và hết suất

Biện pháp 2 Tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm để nâng cao khả năng chế biến món ăn cho trẻ:

Trong công việc chúng ta luôn phải học hỏi tòi cái mới lạ để nâng caotrình độ chuyên môn của mình, đặc biệt các cô nuôi là người trực tiếp chế biến

ra các món ăn để chăm sóc sức khoẻ cho trẻ ở trường mầm non thì vấn đề họccách chế biến món ăn mới cho trẻ càng quan trọng hơn

Hiểu được điều đó nên tôi đã không ngừng học hỏi, tìm tòi qua nhữngngười xung quanh, qua đồng nghiệp, những kênh truyền hình liên quan đến chếbiến món ăn.như : Vua đầu bếp, nội trợ, cùng vào bếp, cách chế biến món ăn chotrẻ

Tôi thường xuyên mạnh dạn nấu những món ăn mà tôi vừa học hỏi ở nhà, đểmọi người trong gia đình, các con nhỏ cùng thưởng thức và cho ý kiến nhận xét.Điều đó giúp tôi tự tin hơn trong công việc chế biến món ăn cho trẻ tại trường.Qua ý kiến nhận xét của gia đình, cùng với kinh nghiệm chế biến của bản thântôi đã lựa chọn được rất nhiều món ăn mới, ngon, phù hợp với trẻ và cùng đưa ratham khảo với các bạn đồng nghiệp, tham mưu với ban giám hiệu để xây dựngthực đơn mới theo mùa Hoặc cùng món ăn tôi đã tham mưu ban giám hiệu chỉcần thay đổi thêm, bớt lượng rau, nguyên liệu mới là đã tạo ra hương vị mới chomón ăn đối với trẻ

THỰC ĐƠN MÙA HÈ CỦA TRẺ

Năm học: 2019 – 2020 tuần 1 & 3

Bữa chính chiều

Trang 10

- Sữa Chua Ba Vì

- Cơm tẻ

- Thịt gà xào thập cẩm

- Canh bí đỏ ninh xương gà

- Dưa hấu

- Cơm tẻ

- Thịt bò xào thập cẩm

- Canh rau ngót nấu thịt

- Dưa hấu

- Mì Phở

- Canh chua thịt lợn

- Sữa Gigo

- Cơm tẻ

- Thịt lợn đức trứng

- Canh mùng tơi nấu thịt

- Sữa Chua Ba Vì

- Canh Bí đỏ nấu thịt lợn

- Chuối tiêu

- Cháo Ngao

THỰC ĐƠN MÙA HÈ CỦA TRẺ

Năm học: 2019 – 2020 tuần 2 & 4

Bữa chính chiều

Trang 11

- Cơm tẻ

- Đậu phụ dim thịt lợn

- Canh bầu trắng nấu Thịt lợn

- Sữa chua

Ba vì

- Chè đỗ xanh

- Chuối tiêu - Cơm tẻ

- Thịt vịt

om me

- Canh raungót nấu thịt

- Sữa Gigo

- Cơm tẻ

- Thịt lợn kho tàu Trứng cút

- Canh rau Mùng tơi nấu thịt lợn

- Sữa Gigo - Mì phở

- Canh cua nấu chua

- Cơm tẻ

- Cá viên xốt

cà chua

- Canh chua nấu cá

- Sữa chua

Ba vì

- Cơm tẻ

- Ruốc thịtlợn

- Canh bí xanh nấu thịt

- Dưa hấu

- Cơm Tẻ

- Thịt Vịt xào thập cẩm

- Canh bí đỏ ninh xương Vịt

- Dưa hấu - Cháo Vịt

đỗ xanh

Biện pháp 3 Cải tiến phương pháp chế biến:

Chế biến món ăn ngon, đảm bảo cân đối không mất chất dinh dưỡng, hấpdẫn là nghệ thuật của mỗi cô nuôi Để lôi cuốn trẻ ăn ngon miệng, khi chế biếncác món ăn cho trẻ tôi thường phối hợp các loại rau, củ, quả có màu sắc đẹp tạocho trẻ cảm giác hứng thú, thích ăn Ngoài ra để tạo hương vị thơm, ngon đối

Trang 12

với các món ăn tôi thường tẩm ướp thức ăn khoảng 10 -15 phút trước, phi hành,tỏi thơm sau đó mới đem xào nấu thêm các thực phẩm gia giảm.

Khi chế biến món ăn tôi đã chú ý xay hoặc băm nhỏ các loại thịt, cá bỏxương nấu nhừ, mềm cho trẻ dễ ăn, dễ hấp thụ, dễ tiêu hoá

Có nhiều món ăn tôi đã cùng các cô nuôi thêm một số thực phẩm gia giảm vàđổi mới cách chế biến mới rất đơn giản nhưng hiệu quả như:

Ví dụ:

Tôm, trứng, thịt đảo bông

a Nguyên liệu: ( 1 cháu)

- Hành mùi rửa sạch, thái nhỏ

- Phi thơm hành củ, cho cà chua vào xào

chín với nước mắm, trút thịt lợn, thịt tôm

vào xào cho thịt chín mềm, sau đó trút

trứng vào đảo cho đến khi trứng chín

Tôm, trứng, thịt hấp vân

a Nguyên liệu: ( 1 cháu)

Tôm lớp tươi: 15g Trứng vịt: 5g

Thịt lợn: 10gMộc nhĩ: 0.2gNấm hương: 0.3gNước mắm: 0.5mlHành mùi: 0.5gDầu thực vật: 0.5mlVải phin sạch

- Thịt lợn rửa sạch thái miếng, saynhuyễn như giò sống

- Nấm hương, mộc nhĩ ngâm nở, cắt bỏchân, rửa sạch để ráo nước Nấm hươngcánh dầy thái mỏng Mộc nhĩ thái chỉ

Trang 13

bông, nêm gia vị vừa ăn, cho hành, mùi,

tắt bếp chia theo định xuất

nhỏ

- Rau mùi sơ chế, rửa sạch, để ráo nước

- Vải phin nhúng vào nước sôi vắt ráonước

- Giò lợn, tôm thúc nước mắm

- Dùng chảo chống dính cho một lớp dầumỏng, đổ trứng vào tráng mỏng, trángriêng một lá lòng đỏ, một lá lòng trắng,chia đôi giò sống, nấm, mộc nhĩ làm 2phần

- Trải lá trứng lên khay, lớp đỏ trước lấymột phần giò dàn một lớp mỏng xếpnấm lẫn mộc nhĩ lên trên, phết thêm mộtchút giò mỏng lên nấm và mộc nhĩ

- Đặt 2 lá trứng so le nhau rồi cuộn lại,lấy vải phin cuộn bên ngoài, dùng dâylạt buộc xung quanh rồi đem hấp chínthời gian 20 phút Trứng chín mềm, lớpcuộn không bong vỡ, vân xen lẫn màuvàng, nâu trắng, dậy mùi thơm của nấm,thái mỏng chai theo định xuất

Lơ xanh: 5g

Cà chua: 3gHành mùi: 0.2gNước mắm, gia vị vừa đủDầu thực vật: 0.5ml

Ngày đăng: 14/06/2021, 23:21

w