Hoàn cảnh cô đơn tội nghiệp của Kiều - Không gian mênh mông, cảnh vật rợn ngợp không một bóng người.. - Bao trùm tâm trạng Kiều là nỗi cô đơn xấu hổ và tủi thẹn.[r]
Trang 1Nhiệt liệt chào mừng các thầy các cô về dự giờ thăm lớp 9A
Trường THCS Thọ Nghiệp – Xuân Trường – Nam Định
Giáo viên: Trần Văn Quang
Nhiệt liệt chào mừng các thầy các cô về dự giờ thăm lớp 9A
Trường THCS Thọ Nghiệp – Xuân Trường – Nam Định
Nhiệt liệt chào mừng các thầy các cô về dự giờ thăm lớp 9A
Trường THCS Thọ Nghiệp – Xuân Trường – Nam Định
Nhiệt liệt chào mừng các thầy các cô về dự giờ thăm lớp 9A
Trường THCS Thọ Nghiệp – Xuân Trường – Nam Định
Nhiệt liệt chào mừng
các thầy các cô về dự giờ thăm lớp 9A Trường THCS Thọ Nghiệp – Xuân Trường – Nam Định
Giáo viên: Trần Văn Quang
Trang 2của Nguyễn Du ?
Bài tập 2 Chọn đáp án em cho là đúng nhất trong các câu hỏi sau.
a) Câu thơ: “ Kiều càng sắc sảo mặn mà” nói về vẻ đẹp nào của Kiều?
A Nụ cười và giọng nói C Trí tuệ và tâm hồn
B Khuôn mặt và hàm răng D Làn da và mái tóc
b) Cụm từ: “nô nức yến anh” trong câu thơ “Gần xa nô nức yến anh” sử
dụng phép tu từ gì?
A Liệt kê C Hoán dụ
C
Trang 4I Đọc, tìm hiểu chung
1 Vị trí, xuất xứ của đoạn trích: - Đoạn trích thuộc phần II của tác phẩm
Truyện Kiều có tựa đề là: “Gia biến và
lưu lạc”
Trang 5Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa ? Bốn bề bát ngát xa trông Buồn trông ngọn nước mới sa,
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia Hoa trôi man mác biết là về đâu ?
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng Chân mây mặt đất một màu xanh xanh Tưởng người dưới nguyệt chén đồng, Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Tin sương luống những rày trông mai chờ Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai
Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.
Tiết 32: KIỀU Ở NGƯNG BÍCH
(Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Trang 6I Đọc, tìm hiểu chung
1 Vị trí, xuất xứ của đoạn trích:
2 Phương thức biểu đạt:
Tự sự kết hợp
miêu tả và biểu cảm
3 Bố cục của đoạn trích:
* Ba phần:
- 6 câu đầu: Hoàn cảnh cô đơn tội nghiệp của Kiều
- 8 câu tiếp: Nỗi nhớ thương của Kiều
- 8 câu cuối: Nỗi lo âu sợ hãi của Kiều trước cảnh vật
Trang 7Tiết 32: KIỀU Ở NGƯNG BÍCH
(Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)
I Đọc, tìm hiểu chung
II Đọc, tìm hiểu văn bản
1 Hoàn cảnh cô đơn tội nghiệp của Kiều
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân,
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung.
Bốn bề bát ngát xa trông, Cát vàng cồn nọ bụi hồng dăm kia.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya, Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.
- Không gian mênh mông, cảnh vật rợn
ngợp không một bóng người.
- Lầu Ngưng Bích ở vị trí cao, nằm chơi vơi giữa mênh mông trời nước
- Cảnh vật rời rạc, tan tác, chia ly
- Từ ngữ miêu tả không gian: non xa, trăng gần, bát ngát, xa trông
Trang 9Tiết 32: KIỀU Ở NGƯNG BÍCH
(Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)
I Đọc, tìm hiểu chung
II Đọc, tìm hiểu văn bản
1 Hoàn cảnh cô đơn tội nghiệp của Kiều
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân,
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung.
Bốn bề bát ngát xa trông, Cát vàng cồn nọ bụi hồng dăm kia.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya, Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.
- Không gian mênh mông, cảnh vật rợn
ngợp không một bóng người.
- Bao trùm tâm trạng Kiều là nỗi cô đơn
xấu hổ và tủi thẹn.
- Bút pháp tả cảnh ngụ tình: Mượn cảnh thiên nhiên, miêu tả cảnh thiên nhiên để làm nổi bật tâm trạng con người
Trang 10I Đọc, tìm hiểu chung
II Đọc, tìm hiểu văn bản
1 Hoàn cảnh cô đơn tội nghiệp của Kiều
- Không gian mênh mông, cảnh vật rợn
ngợp không một bóng người.
- Bao trùm tâm trạng Kiều là nỗi cô đơn
xấu hổ và tủi thẹn.
2 Nỗi thương nhớ của Kiều
a Nỗi nhớ Kim Trọng
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng, Tin sương luống những rày trông mai chờ.
Bên trời góc bể bơ vơ, Tấm son gột rửa bao giờ cho phai Xót người tựa cửa hôm mai, Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ Sân Lai cách mấy nắng mưa,
- Sử dụng ngôn ngữ độc thoại nội tâm
- Những từ ngữ chỉ không gian thời gian:
dưới nguyệt, rày trông, mai chờ, bên trời, góc bể…
- Kiều có tấm lòng thủy chung son sắt,
lòng vị tha cao cả.
Trang 11Tiết 32: KIỀU Ở NGƯNG BÍCH
(Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)
I Đọc, tìm hiểu chung
II Đọc, tìm hiểu văn bản
1 Hoàn cảnh cô đơn tội nghiệp của Kiều
- Không gian mênh mông, cảnh vật rợn
ngợp không một bóng người.
- Bao trùm tâm trạng Kiều là nỗi cô đơn
xấu hổ và tủi thẹn.
2 Nỗi thương nhớ của Kiều
a Nỗi nhớ Kim Trọng
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng, Tin sương luống những rày trông mai chờ.
Bên trời góc bể bơ vơ, Tấm son gột rửa bao giờ cho phai Xót người tựa cửa hôm mai, Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.
- Kiều có tấm lòng thủy chung son sắt,
lòng vị tha cao cả.
Trang 12I Đọc, tìm hiểu chung
II Đọc, tìm hiểu văn bản
1 Hoàn cảnh cô đơn tội nghiệp của Kiều
- Không gian mênh mông, cảnh vật rợn
ngợp không một bóng người.
- Bao trùm tâm trạng Kiều là nỗi cô đơn
xấu hổ và tủi thẹn.
2 Nỗi thương nhớ của Kiều
a Nỗi nhớ Kim Trọng
CÂU HỎI THẢO LUẬN
? Khi miêu tả nỗi nhớ thương của Kiều, thi hào Nguyễn Du miêu tả nỗi nhớ Kim Trọng trước, nhớ cha mẹ sau Việc miêu
tả nỗi nhớ như vậy có hợp lý không? Tại sao?
Hợp lý vì:
+ Kiều luôn cảm thấy mình có lỗi với Kim Trọng, nàng đã phản bội lại lời thề đêm trăng thiêng liêng.
+ Mối tình đầu của Kiều với Kim Trọng lúc nào cũng cháy bỏng trong lòng nàng.
- Kiều có tấm lòng thủy chung son sắt,
lòng vị tha cao cả.
Trang 13LUYỆN TẬP CỦNG CỐ
Chọn đáp án mà em cho là đúng nhất Câu 1: Hai câu thơ “Tưởng người dưới nguyệt chén dồng – Tin sương
luống những rày trông mai chờ” nói lên nỗi nhớ của Kiều với ai?
A Nhớ Thúy Vân C Nhớ cha mẹ.
B Nhớ Kim Trọng D Nhớ quê hương.
Câu 2: Cụm từ “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai” Sử dụng cách nói
nào?
A Cách nói ẩn dụ C Cách nói hoán dụ.
B Cách nói Nhân hóa D Cách nói so sánh.
B
A
Trang 14KIỀU Ở LẦU NGƯNG BÍCH
Hoàn cảnh cô đơn
tội nghiệp của Kiều
Nỗi thương nhớ của
Kiều
Nỗi lo lắng sợ hãi trước cảnh vật
Không
gian
mênh
mông,
bát
Tâm trạng
cô đơn xấu
Nỗi nhớ Kim Trọng
Nỗi nhớ cha mẹ
Trang 15Giờ học kết thúc Xin chân thành cảm ơn các thầy
cô giáo và các em học sinh