1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHUNG KIEN THUC NGU VAN ON THI VAO LOP 10

22 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 53,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thới qua “bức chân dung” cả cuộc sống và những suy nghĩ của người thanh niên , qua sự cảm nhận của các nhân vật khác chủ yếu là ông họa sĩ về anh và những người như anh, tác giả đã[r]

Trang 1

MỘT SỐ KIẾN THỨC NGỮ VĂN CƠ BẢN

ÔN THI VĂO LỚP 10 NĂM HỌC 2011-2012

A.PHẦN VĂN HỌC TRUNG ĐẠI

I. Chuyện người con gâi Nam Xương – Nguyễn Dữ

1.Phần văn:

Cađu 1: Giôùi thieôu sô löôïc veă Nguyeên Döõ vaø taùc phaơm Truyeăn kì mán lúc.

** Veă taùc giạ:

+Nguyeên Döõ soâng ôû theâ kư XVI,giai ñoán cheâ ñoô phong kieân ñang töø ñưnh cao cụa söï phaùt trieơn cuoâi theâ kư XV,baĩt ñaău

rôi vaøo tình tráng loán ly suy yeâu

+Nguyeên Döõ laø moôt daôt só tieđu bieơu,chư laøm quan moôt naím roăi caùo quan veă ôû aơn giöõ caùch soâng thanh cao ñeân trón ñôøi Duøvaôy,qua taùc phaơm,ođng vaên toû ra quan tađm ñeân xaõ hoôi vaø con ngöôøi.

**Veă taùc phaơm:

+Truyeăn kyø mán lúc goăm hai möôi truyeôn vieât baỉng chöõ HAÙN,theo loâi vaín bieăn ngaêu coù xen laên moôt soâ baøi thô.

+Nhađn vaôt chính trong caùc truyeôn laø phú nöõ coù phaơm chaât toât ñép,khao khaùt hánh phuùc löùa ñođi nhöng gaịp nhieău baât hánh,nhöõng trí thöùc phong kieân soẫng ngoaøi voøng cöông toạ cụa leê giaùo

+Keât thuùc moêi taùc phaơm coù lôøi bình,baøn luaôn veă yù nghóa cađu chuyeôn (hieôn nay chöa xaùc ñònh ñöôïc lôøi bình cụa taùc giạ hay cụa ngöôøi ñôøi sau theđm vaøo).

+Truyeăn kì mán lúc ñöôïc Vuõ Khađm Lađn ñôøi haôu Leđ khen laø”Thieđn coơ kì buùt”,”Chuyeôn ngöôøi con gaùi Nam xöông” laø

moôt trong hai möôi truyeôn tređn.

Cađu 2 : Trình baøy nhöõng hieơu bieđt cụa em veă giaù trò ngheô thuaôt cụa nhöõng ñoán ñođâi thoái vaø nhöõng lôøi töï bách trong

“Chuyeôn ngöôøi con gaùi Nam Xöông” cụa Nguyeên Döõ?

** Giaù trò ngheô thuaôt cụa höõng ñoán ñoâi thoái vaø nhöõng lôøi töï bách trong “Chuyeôn ngöôøi con gaùi Nam Xöông” cụa

Nguyeên Döõ.

Chuyeôn coù nhieău lôøi thoái vaø töï bách cụa nhađn vaôt,ñöôïc saĩp xeâp raât ñuùng choê laøm cho cađu chuyeôn trôû neđn sinh ñoông hôn,goùp phaăn khođng nhoû vaøo vieôc khaĩc hoá quaù trình tađm lí vaø tính caùch nhađn vaôt (lôøi cụa baø mé Tröông Sinh laø cụa moôt người nhđn haôu vaø töøng trại; lôøi cụa Vuõ Nöông bao giôø cuõng chađn thaôt,dòu daøng,meăm moûng coù tình, coù lyù,ngay cạ trong luùc töùc giaôn nhaât,laø lôøi cụa moôt ngöôøi phú nöõ hieăn thúc,neẫt na,trong traĩng,khođng coù gì khuaât taât;lôøi cụa beù Ñạn hoăn nhieđn thaôt thaø)

Cađu 3:Toùm taĩt “Chuyeôn ngöôøi con gaùi Nam Xöông”.

** Xöa coù chaøng Tröông vöøa cöôùi vôï xong ñaõ ñaău quađn ñi lính đeơ lái ngöôøi mé giaø vaø ngöôøi vôï trẹ laø Vuõ Thò Thieât, coøn

gói laø Vuõ Nöông,búng mang dá chöûa Mé Töông Sinh oâm cheât Vuõ Nöông lo ma chay chu taât.Giaịc tan,Tröông Sinh trôû veă nhaø,nghe lôøi con trai beøn nghi vôï mình khođng chung thuyû.Vuõ Nöông bò oan,thanh minh khođng ñöôïc,beøn gieo mình xuoâng sođng Hoaøng Giang töï vaên.Sau khi vôï traăm mình töï saùt,moôt ñeđm Tröông Sinh cuøng con trai ngoăi beđn ñeøn,ñöùa con chư chieâc boùng tređn töôøng vaø noùi ñoù chính laø ngöôøi hay tôùi vôùi me ïñeđm ñeđm.Luùc ñoù Tröông Sinh môùi hieơu vôï mình bò oan Phan Lang laø ngöôøi cuøng laøng vôùi Vuõ Nöông,do cöùu thaăn ruøa Linh Phi,vôï vua Nam Hại,neđn khi cháy nán,cheât ñuoâi ôû bieơn ñöôïc Linh Phi cöùu soâng ñeơ trạ ôn.Phan Lang gaịp Vuõ Nöông trong ñoông cụa Linh Phi Hai ngöôøi nhaôn ra nhau Phan Lang trôû veă traăn gian,Vuõ Nöông gôûi chieẫc hoa vaøng cuøng lôøi nhaĩn vôùi Tröông Sinh.Tröông Sinh nghe Phan Lang keơ,thöông nhôù vôï vođ cuøng beøn laôp ñaøn giại oan tređn bôø Hoaøng Giang.Vuõ Nöông trôû veă”Ngoăi tređn kieôu hoa,ñöùng giöõa doøng…luùc aơn,luùc hieôn”.

Cađu 4:Phađn tích taân bi kòch vaø vẹ ñép ngöôøi phú nöõ qua vaín bạn “Chuyeôn ngöôøi con gaùi Nam Xöông”

2.Ph ần Tiếng Việt

Cđu1 Coù maây caùch daên lôøi noùi hay yù nghó cụa moôt ngöôøi,moôt nhađn vaôt?(2:daên tröïc tieâp,daên giaùn tieâp)

Cđu2.Theâ naøo laø daên tröïc tieâp?(Nhaĩc lái nguyeđn vaín lôøi noùi hay yù nghó cụa ngöôøi hoaịc nhađn vaôt vaø ñaịt lôøi noùi hay yù

nghó ñoù vaøo trong daâu ngoaịc keùp)

Cđu3.Theâ naøo laø caùch daên giaùn tieâp?(Thuaôt lái lôøi noùi hay yù nghó cụa ngöôøi hoaịc nhađn vaôt vaø thay ñoơi caùc daâu cađu).

Trang 2

Câu4.Lời trao đổi của nhân vật trong tác phẩm văn học (nhất là văn xuôi) thường được dẫn bằng cách nào?(trực tiếp).

-Giới thiệu “Chuyện người con

gái Nam Xương” –Nguyễn Dữ.

-Nội dung của truyện

đảm đang, hiếu thảo

2-Phân tích bi kịch (nỗi oan của

bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

IIThân bài

-Số phận của Vũ Nương là một bi kịch thương tâm, Nguyễn Dữ đã dành sự đồng cảm sâu sắc và lịng cảm phục đối với nàng

+Vũ Nương vừa cĩ nhan sắc vừa cĩ đức hạnh: “tính tình thùy mị nết na, lại

thêm cĩ tư dung tốt đẹp”.Nhờ vậy nên Trương Sinh, con nhà hào phú “mến vì dung hạnh” đã xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về

+Trong đạo vợ chồng, Vũ Nương là người vợ hết mực thương chồng và thủy

chung Biết chồng cĩ tính “đa nghi” nàng đã“ giữ gìn khuơn phép” khơng để xảy

ra cảnh vợ chồng phải “thất hịa” Sống giữa thời loạn lạc, Trương Sinh phải tịng

quân đi chinh chiến ở biên ải xa xơi Buổi tiễn chồng ra trận, Vũ Nương đã rĩt

chén rượu đầy chúc chồng “được hai chữ bình yên”; nàng chẳng mong được đeo

ấn phong hầu mặc áo gấm trở về quê cũ Ước mong của nàng thật bình dị, vì nàng coi trọng hạnh phúc gia đình hơn mọi cơng danh phù phiếm ở đời Những năm

tháng xa cách, Vũ Nương thương nhớ chồng khơn kể xiết : “ mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn gĩc bể chân trời khơng thể nào ngăn được” Tâm trạng nhớ thương đau buồn ấy của Vũ Nương cũng là tâm trạng chung

của những người chinh phụ trong mọi thời loạn lạc xưa nay:

Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời Trời thăm thẳm xa vời khơng thấu

Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong

(Ching phụ ngâm) Thể hiện tâm trạng ấy, Nguyễn Dữ vừa cảm thơng với nỗi đau khổ của Vũ Nương, vừa ca ngợi tấm lịng thủy chung thương nhớ đợi chờ chồng của nàng.

+Vũ Nương là người phụ nữ đảm đang, hiếu thảo Chồng ra trận mới được một

tuần thì nàng sinh ra một đứa con trai đặt tên là Đản Mẹ chồng già yếu, ốm đau,

nàng “hết sức thuốc thang”, “ngọt ngào khơn khéo khuyên lơn” Vừa phụng dưỡng

mẹ già, vừa chăm sĩc nuơi dạy con thơ Lúc mẹ chồng qua đời, nàng đã “hết lời thương xĩt”, việc ma chay tế lễ được lo liệu, tổ chức rất chu đáo “như đối với cha

mẹ đẻ mình” Qua đĩ, ta thấy trong Vũ Nương cùng xuất hiện ba con người tốt

đẹp: nàng dâu hiếu thảo, người vợ đảm đang chung thủy, người mẹ hiền đơn hậu Đĩ là hình ảnh người phụ nữ lí tưởng trong xã hội phong kiến ngày xưa.

-Cũng như bao nhiêu người phụ nữ ngày xưa, cuộc đời của Vũ Nương là những trang buồn đầy nước mắt.Sau ba năm đợi chờ, Trương Sinh đã bình yên trở về Đây cũng là lúc đất bằng nổi sĩng, bi kịch lại đến với nàng Trương Sinh trở về, con thơ vừa học nĩi Tưởng rằng hạnh phúc sẽ mỉm cười với đơi vợ chồng trẻ.

Nhưng rồi chuyện “cái bĩng” từ miệng đứa con thơ đã làm cho Trương Sinh ngờ vực, “đinh ninh là vợ hư, mối nghi ngờ ngày càng sâu,khơng cĩ gì gỡ ra được”.

Vốn tính hay ghen lại gia trưởng , vũ phu, ít học hành Trương Sinh đã đối xử với

vợ hết sức tàn nhẫn Giấu biệt lời con nĩi, Trương Sinh đã mắng nhiếc nàng và đánh đuổi đi Vợ phân trần, khơng tin; hàng xĩm khuyên can cũng chẳng ăn thua

gì cả! Chính chồng và con – những người thân yêu nhất của Vũ Nương đã xơ đấy

Trang 3

-Ý nghĩa cái chết của Vũ

Nương (giá trị hiện thực, giá

đời xĩt xa đối với người con gái “bạc mệnh duyên phận hẩm hiu” Vũ Nương khơng phải làm “làm mồi cho cá tơm”, “làm cơm cho diều quạ”, khơng bị người

đời phỉ nhổ mà nang đã được các nàng tiên trong cung nước thương tình vì nàng

vơ tội, rẽ một đường nước cho nàng thốt chết Và cũng chẳng bao lâu sau đĩ,

Trương Sinh biết vợ mình chết oan chỉ vì chuyện “chiếc bĩng” Nàng tuy được hầu hạ Linh Phi, nhưng hạnh phúc của nàng ở trần thế bị tan vỡ “trâm gãy bình rơi”,quyền làm mẹ , làm vợ của nàng vĩnh viễn khơng cịn nữa Đĩ là nỗi đau đớn

- “Tryền kì mạn lục” là kiệt tác của nền văn học cổ Việt Nam, xứng đáng là “thiên

cổ kì bút” Người đọc mãi mãi thương cảm Vũ Nương, thương cảm những người phụ nữ tài hoa bạc mênh “Chuyện người con gái Nam Xương” tố cáo hiện thực

xã hội phong kiến Việt Nam thế kỉ 16, nêu bật thân phận và hạnh phúc người phụ

nữ trong bi kịch gia đình Gần 500 năm sau, “Chuyện người con gái Nam Xương”

mà nỗi xĩt thương đối với số phận bi thảm của người vợ, người mẹ như vẫn cịn mãi trong ta.

II.HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ – Trích Hồi thứ mười bốn

1.Ph ần văn

Câu hỏi:

Cảm nhận về hình ảnh người anh hùng Nguyễn Huệ qua chiến công thàn tốc đại phá quân Thanh trong hồi 14 của

“Hoàng Lê nhất thống chí” ?

Trả lời:

+Đoạn trích hồi 14 trong “Hoàng Lê nhất thống chí” không chỉ ghi chép lại sự kiện lịch sử diễn biến gấp gáp qua từng mốc thời gian mà còn chú ý miêu tả hành động, lời nói của nhân vật, sự đối lập giữa hai đạo quân, đặc biệt là hình ảnh người anh hùng Quang Trung có tính cách quả cảm, mạnh mẽ có trí tuệ sáng suốt nhạy bén, có tài dụng binh như thần, người tổ chức và linh hồn của chiến công vĩ đại.

+Khi nghe quân Thanh chiếm Thăng Long, Nguyễn Huệ định xuất quân ngay, nhưng lại dừng lại để lên ngôi hoàng đế Nguyễn Huệ đã biết nghe tướng sĩ dù đang cơn giận Ý kiến về việc lên ngôi, ân xá để lấy lòng người đã thuyết phục Nguyễn Huệ vì đó là ý kiến sáng suốt Nguyễn Huệ Đã thể hiện tính chất dân chủ của một vị tướng.

+Nguyễn Huệ là người hành động là người có hành động quyết đoán : nghe giặc chiếm Thăng Long, Bắc Bình Vương

giận lắm, định thân chinh cầm quân đi ngay Trong vòng một tháng Bắc Bình Vương đã làm được bao nhiêu việc lớn: tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế, đốc suất đại binh ra Bắc, gặp gỡ người cống sĩ ở huyện La Sơn, tuyển mộ quân lính và mở

duyệt binh lớn ở Nghệ An, phủ dụ tướng sĩ, định kế hoạch hành quân, đánh giặc và kế hoạch đối phó với nhà Thanh sau chiến thắng.

+Nguyễn Huệ có trí sáng suốt, sâu xa, nhạy bén: Sáng suốt trong việc phân tích tình hình thời cuộc; đưa ra lời phủ dụ quân lính được xem như là bài hịch ngắn, gọn có tác động kích thích lòng yêu nước; xét đoán và dùng người tài trí qua việc xử trí các tướng sĩ ở Tam Điệp; hiểu sở trường, sở đoản của tướng sĩ, khen chê đúng người, đúng việc.

Trang 4

+Trong chiến đấu , Nguyễn Huệ đã thể hiện ý chí quyết thắng và tầm nhìn xa rộng( tầm nhìn chiến lược): Mới khởi binh,

đã dám chắc phương lược tiến đánh đã có tính sẵn, tính cả kế hoạch ngoại giao sau khi chiến thắng đối với một nước lớn gấp mười nước mình.

+Xuất quân thần tốc :Ngày 25/12 ( tháng chạp) xuất quân từ Phú Xuân, ngày 29/12 (tháng chạp) đến Nghệ An vượt 350

km núi đèo, ngày 30/12 (tháng chạp) tuyển quân, duyệt binh ở Nghệ An và ra Tam Điệp (150km), đêm 30/12(tháng chạp) tiến ra Thăng Long đến ngày 5/1 (tháng giêng) ăn tết ở Thăng Long vượt dự tính 2 ngày Hành quân xa bằng chân (đi bộ), bằng cáng, võng liên tục như vậy nhưng quân lính vẫn chỉnh tề.

+Hình Quang Trung trong chiến trận thật lẫm liệt: Quang Trung thân chinh cầm quân thể hiện một tổng chỉ huy thật sự

qua việc họach định phương lược tiến đánh, tự mình thống lĩnh một mũi quân, cưỡi voi đi đốc thúc, xông pha tên đạn, lãnh đạo đánh các trận thật đẹp,thắng áp đảo quân thù, tạo thế bất ngờ trong chiến đấu, công phá đồn Ngọc Hồi một

cách sáng tạo Hình ảnh của vua nổi bật trong trận Ngọc Hồi: khói tỏa mù trời, cách gang tấc không thấy gì, nhà vua cưỡi voi đi đốc thúc Hình ảnh Quang Trung ngổi trên bành voi, chiến bào đỏ đã sạm đen vì khói súng, dẫn đầu đoàn tượng

binh vào Thăng Long quả thật lẫm liệt oai hùng hiếm có trong lịch sử.

+Hồi mười bốn là bức tranh sinh động về người anh hùng Nguyễn Huệ, vị vua văn võ song toàn chỉ huy tài tình cuộc hành binh thần tốc tiêu diệt bọn xâm lược Mãn Thanh, làm thất bại âm mưu xâm lược của chúng.

III.TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU

1.Ph ần tập làm văn

Đê bài: Hãy viết một bài văn thuyết minh ngắn giới thiệu về nhà thơ Nguyễn Du và giá trị tác phẩm “truyện Kiều”.

I- Mở bài:

-Giới thiệu khái quát về Nguyễn

Du (thiên tài văn học-“thi sĩ của

các thi sĩ”

-Giới thiệu truyện Kiều (tác phẩm

lớn của Nguyễn Du, đỉnh cao của

nghệ thuật thi ca tiếng Việt).

II-Thân bài :

a/ Thuyết minh về cuộc đời và sự

nghiệp văn học của Nguyễn Du:

-Thân thế: sinh mất, bút hiệu, quê

quán, gia đình

-Thời đại: đầy biến động

-Về cảnh đời :+Năng khiếu văn

học bâm sinh

+Trải qua mười năm

giĩ bụi => cĩ vốn sống phong phú.

-Sự nghiệp văn chương : thơ chữ

Hán, chữ Nơm.

b/ Thuyết minh về giá trị của

I- Nguyễn Du được coi là một thiên tài văn học, một tác gia văn học tài hoa và lỗi lạc nhất

của văn học Việt Nam “thi sĩ của các nhà thi sĩ” Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) là

tác phẩm lớn nhất của ơng, là đỉnh cao chĩi lọi nhất của nghệ thuật thơ ca tiếng Việt II-

a/ Cuộc đời và sự nghiệp văn học của Nguyễn Du:

-Nguyễn Du (1765-1820) tên chữ là Tố Như,hiệu là Thanh Hiên;quê ở làng Tiên Điền , huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; sinh trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan

và cĩ truyền thống văn học.

Quê hương ơng vẫn lưu truyền câu ca:

Bao giờ ngàn Hống hết cây Sơng Lam hết nước , họ này hết quan.

Cuộc đời của Nguyễn Du gắn bĩ với những biến cố lịch sử của giai đoạn cuối thế kỷ XVIII đầu hế kỷ XIX Đây là giai đoạn lịch sử đầy biến động với hai đặc điểm nổi bật : chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng , bão táp phong trào nơng dân khởi nghĩa nổi lên khắp nơi, đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn.

Trong hồn cảnh ấy, Nguyễn Du sống phiêu bạt nhiều năm trên đất Bắc (1786-1796).

“Ơng trải qua mười năm giĩ bụi”, cĩ lúc ốm đau khơng cĩ thuốc, mái tĩc sớm bạc Năm

1802, Gia Long triệu Nguyễn Du ra làm quan Ơng được làm chánh sứ sang Trung Quốc (1913-1914) Năm 1820, ơng được cử làm chánh sứ lần thứ hai, nhưng chưa kịp đi ,ơng đã mất.

Năng khiếu văn học bẩm sinh, vốn sống vơ cùng phong phú, kết hợp với trái tim yêu thương vĩ đại đã tạo nên thiên tài Nguyễn Du

Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Du vơ cùng rạng rỡ, để lại nhiều thơ chữ Hán và chữ Nơm:

Về chữ Hán cĩ 3 tập thơ : Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục, Thanh Hiên thi tập.

Về chữ Nơm cĩ Truyện Kiều, Văn chiêu hồn

b/ Truyện Kiều:

Nguyễn Du đã lấy cốt truyện từ “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân

(Trung Quốc) mà sáng tạo ra truyện Kiều bằng thơ lục bát dài 3254 câu, đậm đà màu sắc dân tộc.

Giá trị nội dung và nghệ thuật:

Về nội dung: Truyện Kiều cĩ hai giá trị lớn là giá trị hiện thực và giá trị nhân

đạo:

Trang 5

Về nghệ thuật :

Truyện Kiều là kết tinh hành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên các phương diện ngơn ngữ, thể loại Với truyện Kiều, ngơn ngữ văn học dân tộc và thể thơ lục bát đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ Với tryuện Kiều , nghệ thuật tự sự đã cĩ bước phát triển vượt bậc từ nghệ thuật dẫn chuyện đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, khắc họa tính cách và miêu tả tâm lý nhân vật.

Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc, niềm tự hào của nhân dân ta, đất nước ta:

III-Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày

(Kính gửi cụ Nguyễn Du - Tố Hữu) Truyện Kiều là tập đại thành của ngơn ngữ văn học dân tộc.

Đoạn: CHỊ EM THÚY KIỀU (Trích truyện Kiều)

2.Ph ần văn

Câu1 Qua đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” em có nhận xét gì về nghệ thuật tả người của Nguyễn Du ?

-Đoạn thơ miêu tả nhân vật theo bút pháp nghệ thuật ước lệ quen thuộc trong văn học cổ Nghĩa là sử dụng

những qui ước trong biểu hiện nghệ thuật như dùng hình tượng thiên nhiên đẹp: trăng , hoa , ngọc, tuyết,….để nói về vẻ

đẹp con người Để gợi lên vẻ đẹp duyên dáng, thanh cao, trong trắng của người thiếu nữ :

Mai cốt cách , tuyết tinh thần Vẻ đẹp trang trọng, đoan trang của Thúy Vân được so sánh với hình tượng thiên nhiên, với những thứ cao đẹp trên đời: trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc:

Vân xem trang trọng khác vời Khuơn trăng dầy dặn nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tĩc tuyết nhường màu da

Gợi tả vẻ đẹp của Thúy Kiều, tác giả vẫn dùng những hình tượng ước lệ:

Làn thu thủy, nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm , liễu hờn kém xanh Hình ảnh ước lệ “làn thu thủy” – làn nước mùa thu gợn sóng gợi lên thật sống động vẻ đẹp của đôi mắt trong sáng, long lanh, linh hoạt,…Còn hình ảnh ước lệ “nét xuân sơn” – nét núi mùa xuân lại gợi lên đôi mày thanh tú trên giương mặt trẻ

trung.

Cái tài của Nguyễn Du là tuy sử dụng bút pháp ước lệ nhưng chân dung hai chị em Thúy Vân, Thúy Kiều hiện lên thật

sinh động, đa dạng , “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”.

Khi miêu tả chân dung nhân vật là chân dung mang tính cách số phận Vẻ đẹp của Thúy Vân tạo sự hòa hợp, êm

đềm với xung quanh, “mây thua”, “tuyết nhường” nên nàng sẽ có cuộc đời bình lặng, suôn sẻ Còn vẻ đẹp của Thúy Kiều làm cho tạo hóa phải ghen ghét, các vẻ đẹp khác phải đố kị – “hoa ghen”, “liễu hờn” – nên số phận nang phải éo

le đau khổ.

-Sự tinh tế của tác giả là khi miêu tả nhân vật Thúy Kiều, tác giả miêu tả chân dung Thúy Vân trước để làm nền nổi bật lên chân dung Thúy Kiều Có thể coi đây là thủ pháp nghệ thuậït đòn bẩy Nguyễn Du chỉ dành bốn câu để gợi tả Vân, trong khi đó dành tới mười hai câu thơ để cực tả vẻ đẹp của Kiều Vẻ đẹp của Vân chủ yếu là ngoại hình, còn vẻ đẹp của Kiều là nhan sắc , tài năng , tâm hồn.

Thúy Vân, Thúy Kiều là những nhân vật chính diện nên khi miêu tả tác giả chủ yếu tác giả dùng bút pháp ước lệ Vì vẻ

đẹp của hai chị em Kiều là vẻ đẹp lí tưởng nên Nguyễn Du đã dùng những khuôn mẫu, ước lệ để diễn tả vẻ đẹp vượt ra ngoài, vượt lên trên khuôn mẫu của tuyệt sắc giai nhân.

Câu2-Em có nhận xét gì về cách sử dụng từ ngữ của Nguyễn Du trong việc miêu tả ngoại hình hai chị em Thuý Kiều ,cách miêu tả ấùy đã dự báo số phận của hai nhân vật như thế nào?

Trang 6

-“Chị em Thuý Kiều” là đoạn thơ miêu tả nhân vật vô cùng đặc sắc trong thơ trung đại, một trong những nét đặc sắc ấùy là việc sử dụng từ ngữ.

+Miêu tả ngoại hình hai chị em Thuý Kiều , Nguyễn bút pháp ước lệ – truyền thống của văn học cổ điển, dùng hình tượng thiên nhiên đẹp : trăng, hoa, ngọc, tuyết, để nói về vẻ đẹp con người.

+Cách sử dụng ngôn ngữ để miêu tả hai nhân vật có điểm khác Với Thuý Vân thì dùng “thua”, “nhường”:

Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da Còn Thuý Kiều thì dùng “ghen”, “hờn”:

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

*Vẻ đẹp của Vân là vẻ đẹp đoan trang, phúc hậu, một vẻ đẹp mà thiên nhiên (mây,tuyết) cũng phải chịu thua, nhường!

Nhưng chỉ đến mức ấy thôi, nghĩa là ở trong vòng trời đất , vẫn trong qui luật tự nhiên Vẻ đẹp của Vân tạo sự hoà hợp,

êm đềm với xung quanh Vẻ đẹp này báo hiệu tính cách ,số phận cuộc đời sau này của Thuý Vân là một cuộc đời êm ả, bình lặng.

*Vẻ đẹp của Thuý Kiều là vẻ đẹp sắc sảo mặn mà, khác nhiều với vẻ đẹp trang trọng hiền hoà của Vân Một vẻ đẹp đếùn

độ “hoa ghen”, “liễu hờn” Điều đó chứng tỏ nhan sắc Thuý Kiều đã vượt ra ngoài khuôn khổ, ngoài tưởng tượng ,ngoài

qui luật tự nhiên Thiên nhiên ,tạo hoá có sự ganh ghét , đố kị , báo hiệu một sự trả thù sau này của trời đất (thiên nhiên)

đối với số phận của Kiều Hai từ ghen hờn đã báo trước cuộc đời Kiều chắc sẽ trải qua nhiều tai ương , bất hạnh.

Trong miêu tả, Nguyễn Du đã dự cảm về thân phận mỗi người trong tương lai : Thuý Vân thì êm đềm phẳng lặêng, còn tương lai Thuý Kiều đầy sóng gió bất trắc.

CẢNH NGÀY XUÂN (Đoạn thơ tả cảnh thiên nhiên) 1Phần tập làm văn

Đề1- Phân tích bức tranh cảnh thiên nhiên ở bốn câu thơ đầu trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”?

“Cảnh ngày xuân” (Trích truyện Kiều - Nguyễn Du) là bức tranh thiên nhiên mùa xuân cùng với cảnh lễ hội xuân nhộn nhịp, tươi vui Trong dĩ, bốn câu đầu gợi tả khung cảnh mùa xuân :

Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngồi sáu mươi.

Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bơng hoa.

Hai câu đầu:

Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngồi sáu mươi gợi tả mùa xuân theo cách riêng Trước hết hình ảnh “con én đưa thoi”là hình ảnh ẩn dụ nhân hĩa vừa gợi thời gian vừa gợi

khơng gian, Hình ảnh chim én bay liệng trong bầu trời xuân ất nhanh như chiếc thoi chạy đi chạy lại trên khung dệt khơng những nêu lên nét đặc trưng của mùa xuân (mùa xuân chim én về) mà cịn gợi thời gian trơi đi rất nhanh (như thoi đưa), ngày

xuân , ngày vui trơi rất nhanh Cảm giác nuối tiêc thời gian thống hiện ở câu thơ “Thiều quang chín chục đã ngồi sáu mươi” khi tác giả tả ánh sáng đẹp của mùa xuân đã trải qua hơn sáu mươi ngày, đã hết tháng hai sang tháng ba Những số từ “ chín chục, ngồi sáu mươi” cùng với từ “đã” nĩi lên điều ấy Trong tháng cuối cùng của mùa xuân chim én vẫn rộn ràng bay liệng

giữa bầu trời trong sáng.

Hai câu thơ tiếp theo khơng hồn tồn là sáng tạo của Nguyễn Du Ơng đã tiếp thu và đổi mới từ hai câu thơ cổ Trung Quốc :

Phương thảo thiên liên bích

Lê chi sổ điểm hoa

( cỏ non liền với trời xanh, tên cành lê cĩ mấy bơng hoa)

So với hai câu thơ xưa, rõ ràng hai câu thơ của Nguyễn Du trở thành một bức họa tuyệt đẹp về mùa xuân:

Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bơng hoa.

Gam màu làm nền cho bức tranh xuân là thảm cỏ xanh non trải rộng tới chân trời Trên cái nền xanh dịu mát đĩ điểm xuyết một vài bơng hoa lê trắng Câu thơ cổ Trung Quốc chỉ nĩi cành lê điểm vài bơng hoa mà khơng nĩi tới màu sắc của hoa lê.

Nguyễn Du chỉ thêm một chữ “trắng” cho hoa lê mà bức tranh xuân đã khác Trong câu thơ của Nguyễn Du , chữ trắng đã

thành điểm nhấn, làm nổi bậc thần sắc của hoa lê, của bức tranh Màu xanh của cỏ non và sắc trắng của hoa lê làm cho màu

sắc cĩ sự hài hịa tới mức tuyệt diệu Tất cả đều gợi lên vẻ đẹp riêng của mùa xuân: “ cỏ non” mới mẻ, tinh khiết, giàu sức sống; “xanh tận chân trời” khống đạt trong trẻo; “trắng điểm một vài bơng hoa” thanh khiết Chữ “điểm” làm cho cảnh vật

trở nên sinh động, cĩ hồn chứ khơng tĩnh tại.

Trang 7

Màu trắng –xanh hài hòa gợi cảm giác mênh mông mà không quạnh vắng, trong sáng mà tẻ trung, nhẹ nhàng mà thanh khiết Đúng là một bức họa tuyệt tác về cảnh ngày xuân trong sáng.

Đề2- Hãy phân tích sáu câu cuối trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”?

Sáu câu cuối trong đoạn thơ “Cảnh ngày xuân” ghi lại cảnh chị em Thúy Kiều đi chơi xuân đang dần bước trở về nhà Mặt trời đã “tà tà” gác núi Ngày hội ngày vui đã trôi qua nhanh:

Tà tà bóng ngã về tây Chị em thơ thẩn dan tay ra về Bước dần theo ngọn tiểu khê Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh Nhịp thơ chậm rải.Nhịp sống như ngừng trôi Tâm tình thì “thơ thẩn”, cử chỉ thì “dan tay”, nhịp chân thì “bước dần” Một cái nhìn man mác, bâng khuâng: “lần xem” đối với cảnh vật Tất cả đều nhỏ bé: khe suối chỉ là “ngọn tiểu khê”, “dịp cầu nho nhỏ”; phong cảnh “thanh thanh”; dòng nước “nao nao” Cả một không gian êm đềm , vắng lặng.Tâm tình chị em Kiều như dịu lại trong bóng tà dương Như đang đợi chờ một cái gì sẽ đến, sẽ nhìn thấy? Cặp mắt cứ “lần xem” gần xa:

Bước dần theo ngọn tiểu khê Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh Nao nao dòng nước uốn quanh Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang Tác giả đã sử dụng liên tiếp một loạt từ láy: “tà tà”, “thơ thẩn”, “thanh thanh”, “nao nao”, việc dùng từ của thi

nhân vừa chính xác vừa tinh tế , vừa có tác dụng gợi nhiều cảm xúc cho người đọc Các từ láy vừa gợi tả được hình ảnh sự vật, vừa thể hiện tâm trạng con người.

Cảnh vẫn mang cái thanh , cái dịu của mùa xuân : nắng nhạt, khe nước nhỏ, một dịp cầu nhỏ bắc ngang Mọi chuyển động đều nhẹ nhàng : mặt trời từ từ ngã bóng về tây, bước chân người thơ thẩn, dòng nước uốn quanh; tất cả nhạt dần , lặng dần Cảnh ở

đây được cảm nhận qua tâm trạng Những từ láy “tà tà”, “thanh thanh”, “nao nao” không chỉ biểu đạt sắc thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con người hai chữ “nao nao”(nao nao dòng nước uốn quanh) đã nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật.

Nỗi niềm man mác bâng khuâng thấm sâu , lan tỏa trong tâm hồn giai nhân đa tình , đa cảm Cảm xúc bâng khuâng, xao

xuyến về một ngày vui xuân đang còn mà sự linh cảm một điều xảy ra đã xuất hiện Dòng nước “nao nao” uốn quanh như báo

trước ngay lúc này thôi Kiều sẽ gặp nấm mộ Đạm Tiên :

Sè sè nắm đất bên đường Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh

Sẽ gặp chàng thư sinh “phong tư tài mạo tót vời” – Kim Trọng.

Cảnh vật và thời gian được miêu tả bằng bút pháp ước lệ tượng tưng nhưng rất sống động, gần gũi, thân quen đối với

bất cứ người Việt Nam nào Không còn xa lạ vì “ngọn tiểu khê” ấy, “dịp cầu nho nhỏ” ấy là màu sắc đồng quê, là cảnh quê

hương đất nước mình Tính dân tộc là một nét đẹp đậm đà trong thơ Nguyễn Du, nhất là những vần thơ tả cảnh.

Đề tổng hợp: Qua việc tìm hiểu cốt truyện và các đoạn trích ,em hãy phân tích nhân vật Thúy Kiều để làm nổi bật giá trị

nhân đạo của truyện Kiều.

Gợi ý làm bài

I-MB:

-Giới thiệu truyện Kiều

-Nêu giá trị nội dung nhân đạo thể

hiện qua nhân vật Thúy Kiều

II- TB:

(Lần lược phân tích các nội dung:)

1-Truyện Kiều là tiếng nói cảm

thương sâu sắc trước số phận bi

kịch:

Nhân vật Thúy Kiều là hiện thân

những bi kịch của người phụ nữ

trong xã hội phong kiến:

+Có mối tình lý tưởng nhưng bị

I.Thân bài

(Phần mở bài viết thành một đoạn văn có 2 ý):

-Nguyễn Du là nhà thơ thiên tài của dân tộc Truyện Kiều của ông là kiệt tác của nền thơ

ca cổ, sáng ngời tinh thần nhân đạo.

-Giá trị nhân đạo của Truyện Kiều thể hiện ở tiếng nói cảm thương sâu sắc trước số phận bi kịch, tiếng nói khẳng định, ngợi ca con người và những khát vọng chân chính của con người Tiếng nói nhân đạo ấy toát lên từ hình tượng Thúy Kiều.

IIThân bài

1-Truyện Kiều là tiếng nói cảm thương sâu sắc trước số phận bi kịch của người phụ

nữ trong xã hội phong kiến.

Nhân vật Thúy Kiều là hiện thân những bi kịch của người phụ nữ Đời Kiều là “ tấm gương oan khổ”, chịu đủ những bi kịch Tuy nhiên, hai bi kịch lớn nhất của Kiều là bi

kịch tình yêu bị tan vỡ và bi kịch bị chà đạp về nhân phẩm.

+ Mối tình Kim - Kiều là một mối tình của tình yêu lý tưởng Đó là mối tình giữa

“Người quốc sắc kẻ thiên tài”, nhưng cuối cùng “Giữa đường đứt gánh tương tư”,

“ nước chảy hoa trôi lỡ làng” Tình yêu tan vỡ không bao giờ hàn gắn được, “màn

Trang 8

tan vỡ.

+Kiều có ý thức về nhân phẩm

(nàng luôn tìm cách vươn lên và

thoát ra khỏi chốn bùn nhơ) nhưng

bị chà đạp về nhân phẩm (nang bị

dìm xuống sâu hơn)

2- Nội dung thứ hai: Khẳng định

ca ngợi những vẻ đẹp của con

người:

+Tài sắc của Thúy Kiều

đoàn viên” có hậu về cơ bản cũng chỉ là “một cung gió thảm mưa sầu”.

+Kiều đau đớn cùng cực vì thình yêu tan vỡ và nhất là giá trị , phẩm chất trong sạch của nàng bị xúc phạm Khi mối tình đầu đẹp đẽ vừa chớm nở thì cũng chính ngay

sau đó Kiều phải trao duyên lại cho em , đành từ bỏ Kim Trọng để bán mình chuộc cha cứu gia đình (bị vu oan giá họa để làm tiền của bọn quan lại) Nàng trở thành món hàng

để kẻ buôn người họ Mã “Cò kè bớt một thêm hai”, thất thân với tên buôn người bịp

bợm , tàn ác này, để rồi phải :

Thanh lâu hai lược, thanh y hai lần.

Và Kiều đã tìm mọi cách để thoát khỏi cuộc sống nhục nhã đau đớn ấy Khi biết bị lừa vào lầu xanh ,nàng tự vận nhưng không thành, theo Sở Khanh để thoát khỏi chốn thanh lâu, lại bị đánh đập hành hạ và phải vào lầu xanh lần thứ nhất Biểu hiện nỗi đau xót của Kiều là:

Thân lươn bao quản lấm đầu Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa.

Có nỗi đau nào lớn hơn khi con người trọng nhân phẩm, luôn ý thức về nhân phẩm mà

cuối cùng tuyên bố từ bỏ nhân phẩm, “xin chừa”?

Lấy Thúc Sinh ,chấp nhận làm vợ lẻ để khỏi phải làm gái lầu xanh thì rơi vào tay mẹ con Hoạn Thư Nàng bị đánh đập , hành hạ và trở thành Hoa nô,làm kẻ ở , người hầu.Chế độ đa thê, sản phẩm của giai cấp phong kiến, tất nhiên cũng không thể bảo vệ

hạnh phúc cho những kẻ “sắn bìm chút phận con con” như nàng Trốn khỏi nhà Hoạn

Thư , thì lại bị bán vào lầu xanh lần hai, lấy Từ Hải thì bị Hồ Tôn Hiến lừa và trở thành

kẻ giết chồng, Mỗi lần tìm cách vươn lên để thoát ra thì nàng bị dìm xuống sâu hơn Thân thế trầm luân của Kiều là kết quả tất yếu của một xã hội do thế lực hắc ám thống

trị Cuộc đời người con gái có nhan sắc “nghiêng nước ,nghiêng thành”, có tài hoa “pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm”, có tâm hồn tình cảm trong trắng nồng nàn ấy rút cục cũng chỉ là “một cung gió thảm mưa sầu” Kiều đã trải qua hầu hết những kiếp đời đau

khổ , tủi nhục của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến: tình duyên tan vỡ, làm gái lầu xanh, làm nô tì, làm vợ lẻ, đi tu, bị làm nhục khi chồng (Từ Hải) vừa chết Nhà thơ vĩ đại giàu lòng nhân đạo đã tổng kết cuộc đời ấy bằng những lời thơ đau xót:

Thương thay cũng một kiếp người Hại thay mang lấy sắc tài làm chi Những là oan khổ lưu ly Chờ cho hết kiếp còn gì là thân

2- Thúy Kiều không chỉ xuất hiện với tư cách là một nạn nhân đau khổ mà còn là hiện thân của vẻ đẹp, nhan sắc, tài hoa, tâm hồn.

+ Sắc và tài của Kiều đạt tới mức lý tưởng Thể hiện vẻ đẹp, tài năng của Kiều , Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp ước lệ của văn học cổ có phần lý tưởng hóa để trân

trọng một vẻ đẹp “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” Đẹp đến độ “nghiêng nước nghiêng thành” Và tài “Sắc đành đòi một tài đành họa hai” Kiều thông minh ,

đa tài - cầm, kỳ, thi, họa.

+Cái thông minh tài hoa của Kiều cũng chính là sự biểu hiện phong phú của một trái tim nồng nàn yêu đương, sôi nổi, một tấm lòng giàu vị tha Nàng dám yêu

thương sôi nổi của một cô gái sống cách đây mấy trăm năm, khi quan hệ chân chính giữa nam nữ thanh niên còn bị ngăn cấm bỡi muôn vàn luật lệ khắt khe của chế độ phong kiến Chỉ mới gặp gỡ, nàng đã để trái tim rung động trước hình ảnh một chàng trai xa lạ, với những ước mơ thầm kín nhưng vô cùng tha thiết:

Người đâu gặp gỡ làm chi, Trăm năm biết có duyên gì hay không!

Mối tình vượt lễ giáo phong kiến cũng là một mối tình rất trong sạch, thủy chung Kiều chính là người phụ nữ ngay thẳng trong sạch Yêu đương sôi nổi nhưng nàng cũng biết giữ những bước đi quá trớn có hại cho tình yêu.

+Tâm hồn đẹp đẽ của người con gái họ Vương còn thể hiện ở tấm lòng vị tha nhân hậu Nàng hy sinh tình yêu để cứu gia đình, cha mẹ Khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích

của mụ Tú Bà, nàng như quên mình ,nghĩ về người khác Kiều nhớ tới cha mẹ với những

tình cảm chân thực Nàng tưởng bóng dáng tội nghiệp “tựa cửa hôm mai” của người đã

sinh dưỡng nàng Kiều day dứt không nguôi vì nỗi không chăm sóc được cha mẹ già :

“Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ”.Thúy Kiều “tưởng” Kim Trọng “rày trông mai chờ”, day dứt vì như mình đã phụ bạc người yêu “tấm son gọt rửa bao giờ cho phai”

Trang 9

+Tâm hồn :trong trắng ,thủy chung

(mối tình Kim-Kiều), giàu lòng vị

tha, nhân hậu (Đ/v cha mẹ, với

người yêu, với những người mình

Kiều báo ân ,báo oán)

III-KB : Khẳng định lại giá trị

nhân đạo qua nhân vật Kiều

Kiều còn là người chí nghĩa chí tình “Ơn ai một chút chẳng quên” Khi có điều kiện, hậu

tạ những người đã cưu mang mình, nàng thấy những công ơn đó không gì có thể đền đáp nổi:

Nghìn vàng gọi chut lễ thường,

Mà lòng phiếu mẫu mấy vàng cho cân.

3- Kiều còn là hiện thân của khát vọng tình yêu tự do, khát vọng hạnh phúc và khát vọng

về quyền sống.

+Khát vọng tình yêu tự do đầy màu sắc lãng mạn đựợc thể hiện qua mối quan hệ Thúy Kiều-Kim Trọng Nguyễn Du đã dành tất cả tài năng và tâm huyết để viết lên một bản tình ca say đắm có một không hai trong lịch sử văn học Việt Nam Mối tình Kim-Kiều vượt ra ngoài lễ giáo phong kiến bằng tình yêu tự do, chủ động của hai người Khác với nhiều phụ nữ xưa chịu sự sắp đặt của cha mẹ, Kiều chủ động đến với tình yêu theo tiếng gọi của trái tim Kiều táo bạo, chủ động đồng thời cũng thủy chung như nhất trong tình yêu.

+Khát vọng về quyền sống về hạnh phúc đã đưa Kiều trở thành đại diện cho con người bị áp bức vùng lên làm chủ số phận của mình trong tư thế chiến thắng, tư thế chính nghĩa.

Nàng rằng: lồng lộng trời cao Hại nhân nhân hại sự nào tại ta

Ở đâyThúy Kiều đã gặp gỡ bao người phụ nữ bị áp bức khác cũng vùng lên đòi quyền

sống, đòi lẽ công bằng, trừng trị kẻ ác trong Tấm Cám, trong Thạch Sanh và trong nhiều

truyện Nôm khuyết danh khác , về căn bản không có gì khác nhau, chỉ khác là một bên còn mượn những yếu tố thần linh phù tợ, còn một bên đã vươn tới tư tưởng tự con người quyết định theo công lý của mình.

III.Kết bài

Với nhân vật Thúy Kiều, Nguyễn Du nhà nhân đạo chủ nghĩa rất mực yêu thương, rất mực trân trọng , rất mực đề cao con người, đề cao những khát vọng chân chính của con người

B.PHẦN TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM

I- Truyện “Làng” – Kim Lân:

Phần văn:

Câu1- Truyện ngắn “Làng” đã xây dựng được một tình huống truyện làm bộc lộ sâu sắc tình yêu làng quê

và lòng yêu nước ở nhân vật ông Hai Đó là tình huống nào?

Truyện ngắn “Làng” của Kim Lân sở dĩ hấp dẫn người đọc từ đầu đến cuối, nhân vật ông Hai sở dĩ trở nên thân quý với người đọc, chính là vì tác giả đã sáng tạo ra được một tình huống truyện đặc sắc , Tình huống truyện

đã làm bộc lộ sâu sắc tình yêu làng quê và tinh thần yêu nước ở người nông dân Đó là tình huống ông Hai tình cờ nghe được tin dân làng Chợ Dầu yêu quý của ông đã trở thành Việt gian theo Pháp, phản lại kháng chiến, phản lại Cụ Hồ.

Tình huống này xét về mặt hiện thực rất hợp lý; về mặt nghệ thuật nó tạo nên một cái nút thắt của câu

chuyện Tình huống bất ngờ ấy đã khiến ông Hai đau xót, tủi hổ , day dứt trong sự xung đột giữa tình yêu làng quê

và tinh thần yêu nước, mà tình cảm nào cũng tha thiết, mạnh mẽ Đặt nhân vật vào tình huống ấy, tác giả đã làm bộc lộ sâu sắc cả hai tình cảm nói trên ở nhân vật và cho thấy lòng yêu nước, tinh thần kháng chiến đã chi phối và thống nhất mọi tình cảm khác trong con người Việt Nam thời kỳ kháng chiến

Câu2-Nhận xét những nét nghệ thuật chính của truyện ngắn “Làng” (nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật, ngôn ngữ nhân vật) ?

* Miêu tả tâm lý nhân vật:Tâm trạng của nhân vật chính (ông Hai) là tâm trạng của người nông dân Bắc Bộ được

miêu tả rất cụ thể, tỉ mỉ, có diễn biến có quá trình, được biểu hiện qua từng suy nghĩ, thái độ, cử chỉ, lời nói và hànhđộng Như thể là tác giả đã nhập thẳng vào nhân vật ông Hai mà miêu tả, mà kể, mà phân tích , mà lý giải từng diễnbiến nhỏ của nỗi lòng

Trang 10

+Đặt nhân vật trong một tình huống bất ngờ mà hợp lý không chỉ tạo thành nút truyện , tạo sự căng thẳng và hấp dẫn của truyện mà còn là dịp tốt để đẩy câu chuyện đến cao trào, để có dịp trình bày những day dứt, những đau khổ

và giải tỏa của nhân vật và là dịp tốt để khẳng định chủ đề, ca ngợi tình yêu làng yêu quê, yêu nước gắn bó như thế nào, mang màu sắc riêng độc đáo như thế nào trong tâm hồn người nông dân Việt Nam

+Nhân vật ông Hai vừa chân thật,vừa giản dị , vừa sống động lại có chiều sâu Đó là hình ảnh tiêu biểu và phổ biến của người nông dân Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp với quyết tâm sẵn sàng:

Nhà tan cửa nát, cũng ừ!

Đánh thắng giặc Pháp, cực chừ, sướng sau!

* Ngôn ngữ và lời kể:Lời văn tự nhiên, hồn hậu , đậm ý vị quần chúng nông dân với cách dùng từ, đặt câu hết sức

dễ hiểu, mộc mạc : dám đơn sai, Cụ Hồ trên đầu trên cổ,nó thì rút ruột ra,u rú xó nhà, ăn hết nhiều chứ ở hét bao

nhiêu, chơi sậm sụi với nhau.

Câu3- Chủ đề của truyện “Làng”?

Tình yêu làng thống nhất bền chặt với lòng yêu nước Đó là một tình cảm mới xuất hiện trong tâm hồn và tình cảm người nông dân Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám, trong cuộc kháng chiến chống Pháp

2.Phàn tập làm văn

Đề.1 : Suy nghĩ vè nhân vật ông Hai trong truyện ngắn “Làng” của Kim Lân.

ở nhân vật ông Hai

II- Thân bài:(Triển

II.Thân bài.

1.Tình yêu làng yêu nước của nhân vật ông Hai là tình cảm nổi bật, xuyên suốt toàn truyện:

-Khi tản cư, ông Hai nghĩ đến những ngày hoạt động kháng chiến giữ làng cùng anh em,

đòng đội Tình cảm yêu làng của ông đã gắn bó với tình cảm kháng chiến Ông không chỉ là một dân làng mà còn là một phụ lão , một chiến sĩ đã từng tham gia đánh giặc giữ làng mà nay phải xa làng đi tản cư

- Ở nơi tản cư, ông luôn theo dõi tin tức kháng chiến , tin tức của làng Dầu Sáng hôm ấy ,ông

Hai đang ở trong phòng thông tin, tâm trạng rất phấn chấn:Ruột gan ông lão như múa lên Vuiquá! Vui vì kháng chiến bao nhiêu, ông càng cụt hứng và đau khổ bấy nhiêu

-Trong lúc ông Hai đang hồ hởi với những chiến tích kháng chiến, những gương dũng cảm

anh hùng của quân và dân ta thì ông như bị sét đánh về cái tin cả làng Dầu “Việt gian theo

Tây”

+Ông sững sờ, “cổ ông lão nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân, lặng đi, tưởng như không

thở được ”- một cái tin động trời mà trước đó ông không thể tin, không thể ngờ lại có thể

xảy ra như thế Ông Hai còn cố gắng hỏi lại để hy vọng đó chỉ là tin đồn thất thiệt Nhưng rồi, bằng những chứng cứ cụ thể, ông Hai đành phải tin cái sự thật khủng khiếp ấy Cử chỉ đầu tiên của ông là lảng chuyện, cười cái nhạt thếch của sự bẽ bàng, rời quán về nhà (nơi tản cư) Những câu nói mỉa móc, căm ghét của những người tản cư nói về cái làng Việt gian ấy đuổi theo ông làm ông xấu hổ, ê chề như là họ đang mắng chửi chính ông-vì ông là người chợDầu, cái làng đốn mạt ấy Ông Hai cúi gằm mặt xuống mà đi : đi trong sự trốn tránh vì xấu hổ

và nhục nhã

+Về đến nhà , ông nằm vật ra giường như bị cảm.Trong đau khổ và xấu hổ, nhục nhã nhìn đàn con chơi đùa, ông Hai nghĩ đến sự hắt hủi,khinh bỉ của nọi người dành cho ngững đứa trẻ của cái làng Việt gian Thương con, ông thoắt vô cùng căm giận dân làng - những kẻ

mà ông đã gọi là chúng bay một cách căm ghét và khinh bỉ Ông nguyền rủa họ đã làm một

việc điếm nhục bậc nhất hại đến danh dự của làng, và tội còn to hơn thế: đó là tội phản bội, đầu hàng, bán nước

Trang 11

suốt toàn truyện:

-Chi tiết đi tản cư

chợ Dầu theo Tây

-Niềm vui khi tin

đồn được cải chính

+ Nhưng rồi ông lại khó tin là chuyện tày đình ấy có thể xảy ra Nhưng những chứng cứ hiển nhiên trở lại làm ông đành một lần nữa cay đắng chấp nhận sự thật và sự nhục nhã, sự giày vò tâm trí lại sôi réo trong lòng ông Ông nghĩ tới sự tẩy chay của mọi người, tới tương lai chưa biết làm ăn sinh sống như thế nào? Cụ thể nhất là ông sắp phải đón đợi thái độ ghẻ lạnh , móc máy của mụ chủ nhà khó tính, lắm điều

+Trò chuyệnvới vợ trong gian nhà ở nhờ , thái độ của ông vừa bực bội , vừa đau đớn, cố kìm nén, ông gắt gỏng vô cớ,trằn trọc thở dài, rồi lo lắng đến mức chân tay nhũn ra, nín thở, lắng nghe, không nhúch nhích, nằm im chịu trận

+Trong mấy ngày sau đó , ông không dám ra khỏi nhà, không dám đi đâu, chỉ ru rú trong nhà nghe ngóng tình hình bên ngoài, lo lăng sợ hãi thường xuyên: lúc nào cũng nghĩ đến chuyện ấy, cũng tưởng mọi người chỉ nói đến chuyện ấy

+Khi mụ chủ nhà khó tính đẩy vợ chồng ông Hai đến tình thế khó xử là không biết sẽ sống nhờ ở đâu, tâm trạng ông Hai lại càng trở nên u ám bế tắc và tuyệt vọng Chính trong phút giây tuyệt vọng ấy, ông lão đã chớm có ý định quay về làng cũ Nhưng trong ông lập tức lại diễn ra cuộc tự đấu tranh quyết liệt: Về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ, về làng là chịu đầu hàng thằng Tây Đến đây, tình cảm tự do, tình cảm cách mạng, lòng yêu làng yêu nước

đã thực sự hòa quyện trong tâm hồn người lão nông tản cư Và ông quyết định dứt khoát, trong cực kì đau khổ, uất hận: Muốn sao thì sao, không thể bỏ về làng, phải thù cái làng theo giặc ấy dù trước đây, dù cả đời ông đã gắn bó máu thịt với nó, vô cùng yêu thương, tự hào về

nó Thế là mâu thuẫn nội tâm trong ông Hai đã tạm thời tự ông tìm được hướng giải quyết trong tình thé thúc bách, Nhưng trong lòng ông đau đớn biết bao Ông chỉ còn biêt san vợi phần nào nỗi đau ấy trong câu chuyện với đứa con út còn thơ dại

+Đoạn đối thoại đã biểu hiện tình cảm thiêng liêng và sâu nặng của ông Hai với quê

hương, đất nước, với kháng chiến, với Cụ Hồ Những lời tâm tình thủ thỉ của ông với đứa con

nhỏ đó chính là tiếng lòng sâu thẳm của ông, nó nói lên thành tiếng quyết tâm và ý chí của ông, tâm sự của ông trong một hoàn cảnh cụ thể của ông với quê hương, với kháng chiến , với

vị lãnh tụ kính yêu của toàn dân Đó là tự nhủ giải bày lòng mình, như là tự minh oan cho chính mình Đó là tình yêu sâu nặng với cái làng quê đang tạm thời phải xa, phải thù Đó là tấm lòng chung thủy với cách mạng và kháng chiến, tấm lòng biết ơn chân thành, bền vững

và thiêng liêng cho đến chết:

Anh em đồng chí biết cho bố con ông

Cụ Hồ trên đầu trên cổ soi xét cho bố con ông Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai Chết thì chết có bao giờ dám

đơn sai.

quả là những suy nghĩ và lời lẽ chân thành rất mực, mộc mạc rất mực của người nông dân nghèo Bắc Bộ

+ Nhưng rồi cái tin làng theo giặc được cải chính Đến lúc này, mọi nỗi đau của ông Hai

biến mất Mới đến ngõ, chưa vào nhà, ông đã “bô, bô”, rồi “lật đật” sang nhà bác Thứ, “lật

đật” bỏ lên nhà trên,“lật đật” đi nơi khác để khoe Vừ khoe vừ múa tay lên Ông vui vì làng

ông vẫn kiên gan đi theo kháng chiến , vui đến mức chuyện nhà ông bị Tây đốt nhẵn tở thành nhỏ bé, không đáng lưu tâm Chi tiết này khiến người đọc cảm thấy cảm động hơn, trân trọng hơn tình yêu làng,tình yêu Tổ quốc, yêu kháng chiến của ông Hai Giờ đây tình yêu lớn lao sâu sắc ấy đã khiến ông quên mọi ưu phiền, ông đi khắp nơi để khoe Mà lần này, ông khoe rành rọt , tỉ mỉ như chính ông vừa dự xong trận đánh ấy

Đây lại là những lúc ông Hai lấy làm vinh dự về làng, tự hào về làng quê mình, anh dũng phá càn, thắng giặc

* Từ bao đời nay, tình yêu làng yêu quê đã trở thành tình yêu tự nhiên, sâu nặng , nó đã thấm sâu vào tâm thức tâm linh của người dân quê Thậm chí nhiều khi tình cảm ấy đã bị đẩy tới sự thiên vị và trở thành tâm lý bản vị hẹp hòi Truyện “Làng” , qua nhân vật ông Hai đã thể hiện sinh động và cả động tình yêu làng quê của người nông dân thống nhất với tình yêu nước và tinh thần kháng chiến Tình yêu Làng của người nông dân , sau Cách mạng tháng Tám có những biến đổi Tình yêu làng của người nong dân đã gắn bó với lòng yêu nước và ý thức giai cấp, tinh thần kháng chiến Tình yêu làng được đặt trong tình yêu nước rộng lớn

Ngày đăng: 11/06/2021, 04:18

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w