1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Tổng quan về Quảng Ninh

194 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 194
Dung lượng 40,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quảng Ninh là tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Quảng Ninh được ví như một Việt Nam thu nhỏ, vì có cả biển, đảo, đồng bằng, trung du, đồi núi, biên giới, sân bay. Theo quy hoạch phát triển kinh tế, Quảng Ninh vừa thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía bắc vừa thuộc Vùng duyên hải Bắc Bộ. Đây là tỉnh khai thác than đá chính của Việt Nam và có vịnh Hạ Long là di sản, kỳ quan thiên nhiên thế giới. Quảng Ninh hiện nay đang phát triển theo hướng lấy du lịch, dịch vụ làm trọng tâm phát triển, kết hợp bảo vệ môi trường biển đảo. Mục lục 1 Vị trí 2 Điều kiện tự nhiên 2.1 Địa hình 2.2 Tài nguyên đất 2.3 Tài nguyên rừng 2.4 Tài nguyên biển 2.5 Khí hậu 2.5.1 Sông ngòi, chế độ thuỷ văn và tài nguyên nước 2.6 Khoáng sản 3 Lịch sử 3.1 Tiền sử 3.2 Sơ sử 3.3 Phong kiến 3.4 Thời Pháp thuộc 3.5 Sau năm 1945 4 Hành chính 5 Kinh tế 5.1 Công nghiệp khai khoáng 5.2 Các khu công nghiệp 5.3 Thương mại 6 Xã hội 6.1 Dân cư 6.2 Tôn giáo 6.3 Ẩm thực 6.4 Nghệ thuật 6.5 Giáo dục 6.6 Y tế 7 Du lịch 7.1 Thắng cảnh 7.2 Di tích lịch sử 7.3 Các di tích quốc gia đặc biệt 7.4 Những lễ hội truyền thống của Quảng Ninh 7.5 Danh sách các bãi tắm du lịch tại Quảng Ninh[58] 8 Giao thông 8.1 Đường bộ 8.2 Đường thủy 8.3 Đường sắt 8.4 Đường hàng không 9 Hình ảnh 10 Chú thích 11 Liên kết ngoài Vị trí Quảng Ninh có vị trí ở địa đầu đông bắc Việt Nam, lãnh thổ trải theo hướng đông bắc - tây nam. Quảng Ninh nằm cách thủ đô Hà Nội 125 km về phía Đông[5]. Quảng Ninh tiếp giáp: Phía bắc giáp Khu tự trị Quảng Tây, Trung Quốc Phía đông và nam giáp Vịnh Bắc Bộ Phía tây nam giáp tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng Phía tây bắc giáp tỉnh Bắc Giang và tỉnh Lạng Sơn Bốn điểm cực tại Quảng Ninh: Cực Đông: trên đất liền là mũi Gót ở Trà Cổ, Móng Cái; ngoài biển là mũi Sa Vĩ. Cực Tây: sông Vàng Chua, xã Bình Dương, Đông Triều; xã Nguyễn Huệ, Đông Triều. Cực Nam: đảo Hạ Mai, xã Ngọc Vừng, Vân Đồn. Cực Bắc: thôn Mỏ Toòng, xã Hoành Mô, Bình Liêu. Quảng Ninh là 1 trong số 7 tỉnh thành tại Việt Nam có đường biên giới với Trung Quốc, nhưng lại là tỉnh duy nhất có cả đường biên giới trên bộ và trên biển với nước này. Điều kiện tự nhiên Vịnh Hạ Long - với gần 2000 hòn đảo Địa hình Quảng Ninh là tỉnh miền núi, trung du nằm ở vùng duyên hải, với hơn 80% đất đai là đồi núi. Trong đó, có hơn hai nghìn hòn đảo núi đá vôi nổi trên mặt biển, phần lớn chưa được đặt tên. Địa hình của tỉnh đa dạng có thể chia thành 3 vùng[6] gồm có Vùng núi, Vùng trung du và đồng bằng ven biển, và Vùng biển và hải đảo[7]. Vùng núi chia làm hai miền: Vùng núi miền Đông từ Tiên Yên qua Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà đến Móng Cái. Đây là vùng nối tiếp của vùng núi Thập Vạn Đại Sơn từ Trung Quốc, hướng chủ đạo là đông bắc - tây nam. Có hai dãy núi chính: dãy Quảng Nam Châu (1.507 m) và Cao Xiêm (1.472 m) chiếm phần lớn diện tích tự nhiên các huyện Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà, dãy Ngàn Chi (1.166 m) ở phía bắc huyện Tiên Yên. Vùng núi miền tây từ Tiên Yên qua Ba Chẽ, phía bắc các thành phố Hạ Long, Uông Bí và thấp dần xuống ở phía bắc thị xã Đông Triều. Vùng núi này là những dãy nối tiếp hơi uốn cong nên thường được gọi là cánh cung núi Đông Triều với đỉnh Yên Tử (1.068 m) trên đất Uông Bí và đỉnh Am Váp (1.094 m) trên đất Hạ Long.[8] Cánh cung Đông Triều chạy theo hướng tây - đông ở phía nam và hướng đông bắc - tây nam ở phía bắc, được coi là xương sống của lãnh thổ Quảng Ninh, có vai trò quan trọng trong việc hình thành các yếu tố tự nhiên ở hai sườn bắc - nam. Vùng trung du và đồng bằng ven biển gồm những dải đồi thấp bị phong hoá và xâm thực tạo nên những cánh đồng từ các chân núi thấp dần xuống các triền sông và bờ biển. Đó là vùng Đông Triều, Uông Bí, bắc Quảng Yên, nam Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà và một phần Móng Cái. ở các cửa sông, các vùng bồi lắng phù sa tạo nên những cánh đồng và bãi triều thấp. Đó là vùng nam Uông Bí, nam Quảng Yên (đảo Hà Nam), đông Quảng Yên, Đồng Rui (Tiên Yên), nam Đầm Hà, đông nam Hải Hà, nam Móng Cái. Tuy có diện tích hẹp và bị chia cắt nhưng vùng trung du và đồng bằng ven biển thuận tiện cho nông nghiệp và giao thông nên đang là những vùng dân cư trù phú của Quảng Ninh.[8] Vùng biển và hải đảo của Quảng Ninh là một vùng địa hình độc đáo. Hơn hai nghìn hòn đảo chiếm hơn 2/3 số đảo cả nước (2078/ 2779), đảo trải dài theo đường ven biển hơn 250 km chia thành nhiều lớp và diện tích các đảo chiếm 11,5% diện tích đất tự nhiên[9]. Có những đảo rất lớn như đảo Cái Bầu, Bản Sen, lại có đảo chỉ như một hòn non bộ. Có hai huyện hoàn toàn là đảo là huyện Vân Đồn và huyện Cô Tô. Trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long có hàng ngàn đảo đá vôi nguyên là vùng địa hình karst bị nước bào mòn tạo nên muôn nghìn hình dáng bên ngoài và trong lòng là những hang động kỳ thú. Vùng ven biển và hải đảo Quảng Ninh ngoài những bãi bồi phù sa còn những bãi cát trắng táp lên từ sóng biển. Có nơi thành mỏ cát trắng làm nguyên liệu cho công nghệ thuỷ tinh (Vân Hải), có nơi thành bãi tắm tuyệt vời (như Trà Cổ, Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng...).[8] Địa hình đáy biển Quảng Ninh, không bằng phẳng, độ sâu trung bình là 20 m. Có những lạch sâu là di tích các dòng chảy cổ và có những dải đá ngầm làm nơi sinh trưởng các rặng san hô rất đa dạng[7]. Các dòng chảy hiện nay nối với các lạch sâu đáy biển còn tạo nên hàng loạt luồng lạch và hải cảng trên dải bờ biển khúc khuỷu kín gió nhờ những hành lang đảo che chắn, tạo nên một tiềm năng cảng biển và giao thông đường thuỷ rất lớn.[8] Tài nguyên đất Quảng Ninh có quỹ đất dồi dào (611.081,3 ha). Trong đó: 10% là đất nông nghiệp, đất có rừng chiếm 38%, 43,8% là diện tích chưa sử dụng tập trung ở vùng miền núi và ven biển, còn lại là đất chuyên dùng và đất ở.[10] Với ưu thế của tỉnh miền núi, ven biển, khí hậu ẩm rất thuận lợi cho quá trình sinh trưởng phát triển các loài cây lấy gỗ, lấy nhựa như thông nhựa, thông mã vĩ, keo, bạch đàn... Đặc biệt, với đặc thù điều kiện lập địa trên diện tích đất đồi núi của tỉnh rất thích hợp với các loài cây gỗ quý, đặc sản, cây dược liệu, các loài cây mang tính bản địa. [11] Quảng Ninh có nhiều loại đất. Chiếm diện tích lớn nhất là đất feralit vàng đỏ và đất feralit đồng cỏ thứ sinh phát triển ở địa hình đồi núi thấp. Đất feralit vàng đỏ có mùn trên núi: loại đất này thường phân bố ở vùng núi có độ cao trên 700m thuộc cánh cung Đông Triều, chiếm 7,8% diện tích tự nhiên. Trên các vùng núi cao độ ẩm khá lớn, nhiệt độ thấp, đá mẹ nghèo bazơ, quá trình phân giải hữu cơ yếu nên lớp lá rụng mục dày, tạo thành tầng mùn cao. Loại đất này khá tốt, đất có màu vàng đỏ. Đất feralit vàng đỏ trên vùng đồi núi thấp (dưới 700m): loại đất này chiếm phần lớn diện tích đất tự nhiên của Quảng Ninh, phân bố ở hai sườn cánh cung Đông Triều với diện tích 0,44 triệu ha (chiếm 60,3% diện tích đất tự nhiên). Đất có khả năng giữ nước tốt do vậy đất có màu vàng khá điển hình. Tuy nghèo bazơ, chua nhưng không bị đá ong hoá, ở những nơi thực vật bị tàn phá chỉ còn là đồng cỏ, hình thành đất feralit đồng cỏ thứ sinh. Loại này phổ biến ở vùng đồi phía bắc Hạ Long, phía tây Tiên Yên, huyện Bình Liêu, Hải Hà. Đất bị xói mòn, cần hạn chế khai thác bừa bãi, tăng cường chất hữu cơ và vôi cho đất. Đất phù sa: bao gồm cả vùng phù sa cổ và phù sa mới, phân bố theo dọc quốc lộ 18 từ Đông Triều đến Móng Cái, là đoạn tiếp nối giữa vùng đất mặn ven biển với vùng đất đồi núi thấp, diện tích khoảng 40.105 ha (chiếm 6,6% diện tích đất tự nhiên) phân bố ở Tiên Yên, Móng Cái, Hải Hà, Đầm Hà. Đặc tính của loại đất này là thường chua, độ phì thấp. Vùng đất phù sa để trồng lúa tập trung ở Đông Triều, Quảng Yên, Hải Hà, Đầm Hà và lưu vực các sông suối, thung lũng thuộc Tiên Yên, Ba Chẽ. Tuy nhiên, với các loại đất này muốn sản xuất lương thực cần phải giải quyết vấn đề thuỷ lợi. Một số vùng đất thấp thường bị ngập úng, đất chua. Đất mặn ven biển: phân bố dọc bờ biển và ven sông Đá Bạc, Bạch Đằng,... có diện tích khoảng 50.900 ha (chiếm 8,4% diện tích đất tự nhiên), đất thường mặn, chua, ngập úng do thuỷ triều. Một số vùng được khai thác để trồng cói, làm ruộng muối, nuôi thuỷ sản và trồng sú vẹt. Đất cát và cồn cát ven biển: có diện tích 6.087 ha (chiếm 0,9% diện tích đất tự nhiên), phân bố ở ven biển, ven các đảo. Vùng quần đảo Vân Hải (Vân Đồn), đảo Vĩnh Thực (Móng Cái) có những bãi cát trắng dài hàng km hoặc dồn lại thành những cồn nhấp nhô liên tiếp. Giá trị chủ yếu là nguyên liệu cho ngành thuỷ tinh cao cấp. Loại đất này chỉ trồng phi lao chắn gió. Đất vùng đồi núi đá vôi ở các đảo, quần đảo: có diện tích 46.627 ha (chiếm 7% diện tích đất tự nhiên). Trong lịch sử phát triển hình thành vịnh đảo, cấu tạo nham thạch của các đảo không đồng nhất, có nơi là các đảo đá vôi, có nơi là đảo đất nên ở đây cũng hình thành các loại đất khác nhau. Nhìn chung, đất có đặc điểm giống đất feralit vàng đỏ trên vùng đồi núi thấp. Trên các đảo đá vôi có độ dốc lớn, xói mòn mạnh, tầng đất mỏng, nhiều nơi chỉ có chỗ trũng hoặc khe nứt. Trên các đảo đất: Tuần Châu, đảo Rều, Ngọc Vừng,... được cấu tạo bởi các đá phiến thạch, sa thạch silic có đất feralit màu vàng đỏ.

Trang 4

Quảng Ninh là tỉnh cĩ vị trí địa kinh tế đặc biệt quan trọng và thuận lợi cho phát triển, nằm trong vị trí

trung tâm của hai hành lang kinh tế: Cơn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phịng - Quảng Ninh; Nam Ninh

- Bằng Tường - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phịng - Quảng Ninh và vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ, giờ đây là hành lang kinh tế khu vực sơng Mêkơng (GMS)

Quảng Ninh cũng là địa phương duy nhất cĩ đường biên giới trên biển với Trung Quốc (cửa khẩu quốc tế Mĩng Cái), tiếp giáp một thị trường cĩ dân số đơng, kinh tế phát triển năng động của tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), do vậy, Quảng Ninh cĩ điều kiện thuận lợi trong khai thác, vận tải hàng hĩa khối lượng lớn Đặc biệt, khi các dự án đường cao tốc Nội Bài - Hạ Long - Mĩng Cái; sân bay quốc tế Vân Đồn, dự án đường sắt Yên Viên - Cái Lân hồn thành và đi vào hoạt động, hệ thống giao thơng kết nối Quảng Ninh với khu vực và thế giới sẽ đồng

bộ cả đường biển, bộ, sắt và đường hàng khơng

Với bờ biển dài 250 km, Quảng Ninh cĩ nhiều tiềm năng phát triển kinh tế biển như: Nuơi trồng, đánh bắt thủy hải sản Đặc biệt là phát triển cảng biển nước sâu cĩ quy mơ lớn như: Cảng Cái Lân, Cụm cảng Hải Hà…Đặc biệt, thắng cảnh Vịnh Hạ Long, từng hai lần được UNESCO cơng nhận di sản thiên nhiên thế giới, với quần thể gần hai nghìn hịn đảo lớn nhỏ cùng nhiều địa danh du lịch nổi tiếng như: Khu di tích Yên Tử, Khu di tích nhà Trần ở Đơng Triều, Cụm di tích Chiến thắng Bạch Đằng… Cùng với đĩ Quảng Ninh cịn cĩ các loại khống sản phong phú như: Than đá, đá vơi, sét xi măng, cao lanh, cát trắng đã đưa Quảng Ninh trở thành trung tâm cơng nghiệp khai thác than; cơng nghiệp đĩng tàu; sản xuất vật liệu xây dựng; sản xuất nhiệt điện lớn nhất miền Bắc Việt Nam

Theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh, phấn đấu đến năm 2020, Quảng Ninh

sẽ trở thành một địa bàn động lực, phát triển theo hướng cơng nghiệp hĩa, hiện đại hĩa, kinh tế hướng mạnh về xuất khẩu Đồng thời nhanh chĩng chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng các ngành cơng nghiệp và dịch vụ, đặc biệt là các ngành kinh tế giữ vai trị chủ đạo của tỉnh như: Than, điện, ximăng, cơ khí và đĩng tàu Trong những năm qua ngành cơng nghiệp Quảng Ninh luơn duy trì được nhịp độ phát triển, tốc độ tăng trưởng bình quân trên 12%/năm Hiện Quảng Ninh đang phấn đấu trở thành tỉnh cơng nghiệp vào năm

2015, về trước 5 năm so với tồn quốc vào năm 2020 Hướng tới mục tiêu này, phát triển cơng nghiệp - tiểu thủ cơng nghiệp và ngành nghề nơng thơn là một trong những chương trình kinh tế - xã hội trọng điểm đang được tỉnh và các địa phương tích cực thực hiện

Để giúp Quý bạn đọc hiểu thêm về Quảng Ninh, về chính sách và cơ hội hợp tác đầu tư của tỉnh nhà, về vùng đất mỏ Đơng Bắc của Tổ quốc với những chuyển biến mạnh mẽ, xin trân trọng giới thiệu tới tất cả Quý bạn đọc cuốn sách “Quảng Ninh Trên đường hội nhập” Hy vọng cuốn sách sẽ là cuốn cẩm nang hữu hiệu để các nhà đầu tư tham khảo, lựa chọn cơ hội hợp tác cùng tạo dựng một tương lai phát triển tốt đẹp./

Trân trọng!

Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh

LỜI GIỚI THIỆU

Trang 5

LỜI GIỚI THIỆU INTRODUCTION

Quang Ninh province has a very important economic geography and a lot of good conditions to develop

Located on the Tonkin gulf coastal economic belt and Con Minh – Lao Cai – Ha Noi – Hai Phong – Quang Ninh, Nam Ninh – Bang Tuong – Lang Son – Ha Noi – Hai Phong – Quang Ninh at 2 center corridors It

is now the ecomomic corridor Mekong river (GMS) regionQuang Ninh also the only one province has a sea borders with China (international border gate Mong Cai), which is contiguous to the market has a high development and flexible economic and large population of Guangxi (China) Quang Ninh is of great advantage to exploit and freight transport mass

Especially, when projects high speed Noi Bai – Ha Long – Mong Cai, international airport Van Don, railway Yen Vien – Cai Lan have been finished and on stream, transport system connection between Quang Ninh with region and in worldwide is synchronous by road, railway and airport

From long coastline, Quang Ninh has many economic potentials such as: rear and catching aquaculture seafoods especially development deep water port with large scale like: Cai Lan port, cluster of Hai Ha port Sepecially, The Ha Long bay landscape was recognition natural heritage twice by UNESCO, with nearly two thousands island and a lot of famous tourist sites: Yen Tu, Tran dynasty relics in Dong Trieu, Bach Dang victory

Quang Ninh also has many kind of minerals: coal,limestone, white sand made Quang Ninh become the biggest industrial centers of exploitation coal, shipbuilding, building materials and thermal power production in the North

Arcording to the economic and social development master plan of Quang Ninh province, Quang Ninh come a region as a Motive force towards industrialization and modernization, strong export orientation Simul-taneously, quickly changing economic structure towards growth proportion industrial and service especially in leadineconomic: Coal, electric, cement, mechanical and ship building

be-In recent years, Quang Ninh industrial always maintain pace development, growth average over 12 cent per year Quang Ninh striving become industrial province in 2015, go ahead 5 years before national target in

per-2010 Towards this target industrial, handicraft and rural industries are most important key programs provincial and local implementation

To help readers understand more about Quang Ninh, vigorous of policies and investment opportunities and the landmine in Northeast of fatherland with strong alteration, (We are pleased to introduce )we highly recom-mend a book “Quang Ninh Tren duong hoi nhap” We hope this book become your useful handbook let investor reference and selected cooperation opportunities create a nice future development together

Your respect

Chairman of the People's committee Quang Ninh

Trang 6

T rong những năm qua tỉnh Quảng Ninh đã cĩ sự phát triển vượt bậc trên tất cả các lĩnh vực

chính trị, văn hố cho đến kinh tế - xã hội Nổi bật nhất là phát triển kinh tế với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, tốc độ tăng trưởng bình quân trên 12%/năm, dặc biệt tăng nhanh tỷ trọng các ngành cơng nghiệp và dịch vụ, nhất là các ngành kinh tế giữ vai trị chủ đạo của tỉnh như: Than, điện, xi măng, cơ khí và đĩng tàu Qua đĩ thực hiện cĩ hiệu quả tiến trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố kinh tế địa phương, từng bước đạt mục tiêu đưa Quảng Ninh trở thành một tỉnh mạnh về cơng nghiệp vào năm 2015 về trước 5 năm so với tồn quốc vào năm 2020

Cuốn sách “Quảng Ninh Trên đường hội nhập” được chia làm 3 phần:

Phần I: Tổng quan

Phần II: Thành tựu phát triển và hội nhập

Phần III: Thu hút đầu tư

Sẽ mang đến cho Quý bạn đọc những thơng tin bổ ích, lý thú với cái nhìn sâu sắc, tồn diện về tiềm năng, thế mạnh cũng như vùng đất và con người nơi đây Cùng với đĩ Cuốn sách cịn giới thiệu các chủ trương, chính sách và triển vọng thu hút đầu tư, các tiềm năng, thế mạnh và mục tiêu chiến lược phát triển của tỉnh từ nay đến năm 2020; các kinh nghiệm, năng lực hoạt động của các đơn vị, doanh nghiệp tỉnh Quảng Ninh trước thời cơ mới Đây cũng là tài liệu quan trọng phục vụ các nhà đầu tư, các doanh nhân trong nước và quốc tế tìm kiếm cơ hội hợp tác, liên doanh - liên kết tại tỉnh Quảng Ninh Đồng thời, là nơi các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh quảng bá hình ảnh, thương hiệu tới đối tác, người tiêu dùng trong và ngồi nước

Dẫu quá trình biên soạn rất cơng phu, nghiêm túc song khơng thể tránh khỏi những thiếu sĩt, chúng tỗi rất mong nhận được sự thơng cảm và ý kiến đĩng gĩp của Quý vị

Nhân dịp này, Ban biên soạn xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới các cấp, các ban ngành, các tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tơi hồn thành cuốn sách này

Trân trọng giới thiệu cùng Quý bạn đọc!

Thư Ngỏ

BAN BIÊN SOẠN

Trang 7

Open Letter

Editorial Board

I n recent years, Quang Ninh Province has an outstanding development in all fields of politics, culture to

economic - social The highlight is the economic development with economic restructuring in the right direction, the average growth rate of more than 12% per year, especially increasing the proportion of industry and services, particularly in industries leading international role in the province such as coal, electricity, cement, engineering and shipbuilding etc Thereby the effective implementation the process of industrialization and modernization of the local economy and gradually achieve the goal to bring Quang Ninh become a province

of industrial power in 2015 on the first five years in comparison with nation 2020

The book "On the integration of Quang Ninh" is divided into three parts:

Part I: Overview

Part II: Achievements, development and integration

Part III: Attracting Investment

This book will bring to the readers with useful and interesting information with the sight of insight and overall about potential and strengths as well as land and the people here Along with that, the book also intro-duced the guidelines, policies and prospects for attracting investment; the potential, advantages and strategic objectives of the provincial development from now to 2020, the experience and capabilities operation of the units and enterprises in Quang Ninh province before the new chance This is also an important document for investors, entrepreneurs in the country and out site of the country to seek the opportunities to cooperate, joint venture and associate in Quang Ninh Also, this is a place for enterprises in the province to promote the image, the brand to partners, consumers and abroad

Although the process of compiling is very meticulously and seriously but can not avoid shortcomings, we hope to receive understanding and comments of the readers

On this occasion, the Editor would like to express sincere gratitude to all levels, departments, tions, units and enterprises in the province of Quang Ninh whom has created favorable conditions for our to complete book this book

organiza-Sincere introduce to the Readers!

Trang 8

Quảng Ninh

Nền tảng phát triển cho một diện mạo mới

Suốt dọc chiều dài từ Đơng Triều cho tới Mĩng Cái, hàng triệu người dân đất Mỏ đều ngập tràn một niềm tin sâu sắc về sự đổi thay của tỉnh nhà Đảng bộ và nhân dân tỉnh Quảng Ninh luơn tận dụng triệt để những tiềm năng, lợi thế phát triển cũng như phát huy truyền thống

kỷ luật, đồng tâm và những đổi mới trong tư duy, phương thức lãnh đạo để tạo nên những bước đột phá ấn tượng, tồn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Quảng Ninh hơm nay tự tin khốc lên mình một diện mạo mới, một sức sống mới tươi đẹp hơn dựa trên một nền tảng phát triển vững chắc

Điều kiện tự nhiên thuận lợi

Vị trí địa lý

Quảng Ninh là một tỉnh ở địa đầu phía Đơng

Bắc Việt Nam, cĩ dáng một hình chữ nhật lệch nằm

chếch theo hướng Đơng Bắc - Tây Nam Phía Tây

tựa lưng vào núi rừng trùng điệp Phía Đơng nghiêng

xuống nửa phần đầu vịnh Bắc Bộ với bờ biển khúc

khuỷu nhiều cửa sơng và bãi triều, bên ngồi là hơn

hai nghìn hịn đảo lớn nhỏ, trong đĩ cĩ 1.030 đảo cĩ tên, cịn lại hơn một nghìn hịn đảo chưa cĩ tên Điểm cực Bắc thuộc thơn Mỏ Toịng, xã Hồnh

Mơ, huyện Bình Liêu Điểm cực Nam ở đảo Hạ Mai thuộc xã Ngọc Vừng, huyện Vân Đồn Điểm cực Tây thuộc xã Bình Dương và xã Nguyễn Huệ, huyện Đơng Triều Điểm cực Đơng trên đất liền là mũi Gĩt ở đơng bắc xã Trà Cổ, thành phố Mĩng Cái

Trang 9

Quảng Ninh có biên giới quốc gia và hải phận

giáp giới nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa Trên

đất liền, phía Bắc của tỉnh (có các huyện Bình Liêu,

Hải Hà và thị xã Móng Cái) giáp huyện Phòng Thành

và thị trấn Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây với 132,8 km

đường biên giới; phía Đông là vịnh Bắc Bộ; phía Tây

giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Dương; phía

Nam giáp Hải Phòng Bờ biển dài 250 km

Địa hình

Quảng Ninh là tỉnh miền núi - duyên hải Hơn

80% đất đai là đồi núi Hơn hai nghìn hòn đảo nổi trên

mặt biển cũng đều là các quả núi

Vùng núi chia làm hai miền: Vùng núi miền

Đông từ Tiên Yên qua Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà đến

Móng Cái Đây là vùng nối tiếp của vùng núi Thập

Vạn Đại Sơn từ Trung Quốc, hướng chủ đạo là Đông

Bắc - Tây Nam Có hai dãy núi chính: dãy Quảng Nam

Châu (1.507 m) và Cao Xiêm (1.330 m) chiếm phần

lớn diện tích tự nhiên các huyện Bình Liêu, Hải Hà,

Đầm Hà, dãy Ngàn Chi (1.166 m) ở phía Bắc huyện

Tiên Yên Vùng núi miền Tây từ Tiên Yên qua Ba Chẽ,

Hoành Bồ, phía Bắc thị xã Uông Bí và thấp dần xuống

ở phía Bắc huyện Đông Triều Vùng núi này là những

dãy nối tiếp hơi uốn cong nên thường được gọi là

cánh cung núi Đông Triều với đỉnh Yên Tử (1.068 m)

trên đất Uông Bí và đỉnh Am Váp (1.094 m) trên đất

Hoành Bồ

Vùng trung du và đồng bằng ven biển gồm

những dải đồi thấp bị phong hoá và xâm thực tạo nên

những cánh đồng từ các chân núi thấp dần xuống

các triền sông và bờ biển Tuy có diện tích hẹp và bị

chia cắt nhưng vùng trung du và đồng bằng ven biển

thuận tiện cho nông nghiệp và giao thông nên đang là

những vùng dân cư trù phú của Quảng Ninh

Vùng ven biển và hải đảo Quảng Ninh ngoài

những bãi bồi phù sa còn những bãi cát trắng táp lên

từ sóng biển Có nơi thành mỏ cát trắng làm nguyên

liệu cho công nghệ thuỷ tinh (Vân Hải), có nơi thành

bãi tắm tuyệt vời (như Trà Cổ, Quan Lạn, Minh Châu,

Ngọc Vừng ) Quảng Ninh có hơn 2000 hòn đảo

chiếm hơn 2/3 số đảo cả nước (2078/ 2779), đảo trải

dài theo đường ven biển hơn 250 km chia thành nhiều lớp

Địa hình đáy biển Quảng Ninh, không bằng phẳng, độ sâu trung bình là 20 m Có những lạch sâu

là di tích các dòng chảy cổ và có những dải đá ngầm làm nơi sinh trưởng các rạn san hô rất đa dạng Các dòng chảy hiện nay nối với các lạch sâu đáy biển còn tạo nên hàng loạt luồng lạch và hải cảng trên dải bờ biển khúc khuỷu kín gió nhờ những hành lang đảo che chắn, tạo nên một tiềm năng cảng biển và giao thông đường thuỷ rất lớn

Khí hậu

Khí hậu Quảng Ninh tiêu biểu cho khí hậu các tỉnh miền Bắc Việt Nam vừa có nét riêng của một tỉnh miền núi ven biển Các quần đảo ở huyện Cô Tô và Vân Đồn có đặc trưng của khí hậu đại dương.Quảng Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới

có một mùa Hạ nóng ẩm, mưa nhiều; một mùa Đông lạnh, ít mưa và tính nhiệt đới nóng ẩm là bao trùm nhất

Do nằm trong vành đai nhiệt đới nên hàng năm

có hai lần mặt trời qua thiên đỉnh, tiềm năng về bức

mm là mùa mưa; còn mùa khô là mùa có lượng mưa tháng ổn định dưới 100 mm

Sông ngòi và chế độ thuỷ văn

Quảng Ninh có đến 30 sông, suối dài trên 10 km nhưng phần nhiều đều nhỏ Diện tích lưu vực thông thường không quá 300 km2, trong đó có 4 con sông lớn là hạ lưu sông Thái Bình, sông Ka Long, sông Tiên Yên và sông Ba Chẽ Mỗi sông hoặc đoạn sông thường

có nhiều nhánh Các nhánh đa số đều vuông góc với

Trang 10

sông chính Đại bộ phận sông

nhập vào vùng cửa sông khá

xa Lớp thực vật che phủ chiếm

tỷ lệ thấp ở các lưu vực nên

thường hay bị xói lở, bào mòn

và rửa trôi làm tăng lượng phù

sa và đất đá trôi xuống khi có

lũ lớn do vậy nhiều nơi sông

suối bị bồi lấp rất nhanh, nhất

là ở những vùng có các hoạt

động khai khoáng như ở các

đoạn suối Vàng Danh, sông

Mông Dương

Ngoài 4 sông lớn trên, Quảng Ninh còn có 11

sông nhỏ, chiều dài các sông từ 15 - 35 km; diện tích

lưu vực thường nhỏ hơn 300 km2, chúng được phân

bố dọc theo bờ biển, gồm sông Tràng Vinh, sông Hà

Cối, sông Đầm Hà, sông Đồng Cái Xương, sông Hà

Thanh, sông Đồng Mỏ, sông Mông Dương, sông Diễn

Vọng, sông Man, sông Trới, sông Míp

Tất cả các sông suối ở Quảng Ninh đều ngắn,

nhỏ, độ dốc lớn Lưu lượng và lưu tốc rất khác biệt

giữa các mùa Mùa đông, các sông cạn nước, có chỗ

trơ ghềnh đá nhưng mùa hạ lại ào ào thác lũ, nước

dâng cao rất nhanh Lưu lượng mùa khô 1,45m3/s,

mùa mưa lên tới 1500 m3/s, chênh nhau 1.000 lần

Về phía biển Quảng Ninh giáp vịnh Bắc Bộ, một

vịnh lớn nhưng kín lại có nhiều lớp đảo che chắn nên

sóng gió không lớn như vùng biển Trung Bộ Chế độ

thuỷ triều ở đây là nhật triều điển hình, biên độ tới 3-4

m Nét riêng biệt ở đây là hiện tượng sinh “con nước”

và thuỷ triều lên cao nhất vào các buổi chiều các tháng

mùa hạ, buổi sáng các tháng mùa đông những ngày

có con nước cường Trong vịnh Bắc Bộ có dòng hải

lưu chảy theo phương bắc nam kéo theo nước lạnh lại

có gió mùa đông bắc nên đây là vùng biển lạnh nhất

nước ta Nhiệt độ có khi xuống tới 130C

Tài nguyên thiên nhiên phong phú

Tài nguyên đất

Quảng Ninh có quỹ đất dồi dào với 611.081,3

ha, trong đó 75,370Ha đất nông nghiệp đang sử dụng, 146.019Ha đất lâm nghiệp với nhiều diện tích đất có thể trồng cỏ phù hợp cho chăn nuôi, khoảng gần 20.000Ha có thể trồng cây ăn quả

Trong tổng diện tích đất đai toàn tỉnh, đất nông nghiệp chỉ chiếm 10%, đất có rừng chiếm 38%, diện tích chưa sử dụng còn lớn (chiếm 43,8%) tập trung ở vùng miền núi và ven biển, còn lại là đất chuyên dùng

và đất ở

Tài nguyên nước

Nước mặt: Lượng nước các sông khá phong phú, ước tính 8.776 tỷ m3 phát sinh trên toàn lưu vực Dòng chảy lên tới 118 l/s/km2 ở những nơi có mưa lớn Cũng như lượng mưa trong năm, dòng chảy của sông ngòi ở Quảng Ninh cũng chia làm 2 mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9 có lượng nước chiếm 75-80% tổng lượng nước trong năm, mùa khô

từ tháng 10 đến tháng 4 có lượng nước chiếm 20 - 25% tổng lượng nước trong năm

Vịnh Hạ Long

Trang 11

Nước ngầm: Theo kết quả thăm dò, trữ lượng

nước ngầm tại vùng Cẩm Phả là 6.107 m3/ngày, vùng

Hạ Long là 21.290 m3/ngày

Lợi dụng địa hình, Quảng Ninh đã xây dựng gần

30 hồ đập nước lớn với tổng dung tích là 195, 53 triệu

m3, phục vụ những mục đích kinh tế - xã hội của tỉnh

như hồ Yên Lập (dung tích 118 triệu m3), hồ Chúc

Bài Sơn (11,5 triệu m3), hồ Quất Đông (10 triệu m3)

Nếu cộng tất cả, Quảng Ninh có từ 2.500 đến 3.000

ha mặt nước ao, hồ, đầm có điều kiện nuôi trồng thuỷ

sản

Tài nguyên biển

Với bờ biển dài 250 km, Quảng Ninh có nhiều

ngư trường khai thác hải sản Hầu hết các bãi cá

chính có sản lượng cao, ổn định, đều phân bố gần bờ

và quanh các đảo, rất thuận tiện cho việc khai thác

Ngoài ra, Quảng Ninh còn có trên 40.000 ha bãi triều,

20.000 ha eo vịnh và hàng vạn ha các vũng nông ven

bờ, là môi trường thuận lợi để phát triển nuôi và chế

biến hải sản xuất khẩu

Ven biển Quảng Ninh có nhiều khu vực nước

sâu, kín gió là lợi thế đặc biệt quan trọng thuận lợi cho

việc xây dựng, phát triển hệ thống cảng biển, nhất

là ở thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả, huyện Tiên

Yên, thị xã Móng Cái và huyện Hải Hà

Tài nguyên rừng

Quảng Ninh có 243.833,2 ha rừng và đất rừng

(chiếm 40% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh), trong

đó rừng tự nhiên chiếm khoảng 80% Còn lại là rừng

trồng, rừng đặc sản khoảng 100 ngàn ha, đất chưa

thành rừng khoảng 230 ngàn ha, là điều kiện để phát

triển thành các vùng gỗ công nghiệp, vùng cây đặc

sản, cây ăn quả có quy mô lớn

Tài nguyên khoáng sản

Quảng Ninh có nguồn tài nguyên khoáng sản

phong phú, đa dạng, có nhiều loại đặc thù, trữ lượng

lớn, chất lượng cao mà nhiều tỉnh, thành phố trong cả

nước không có được như: Than, cao lanh tấn mài, đất

sét, cát thủy tinh, đá vôi…

Than đá: Có trữ lượng khoảng 3,6 tỷ tấn, hầu hết thuộc dòng an-tra-xít, tỷ lệ các-bon ổn định 80 - 90%; phần lớn tập trung tại 3 khu vực: Hạ Long, Cẩm Phả và Uông Bí - Đông Triều; mỗi năm cho phép khai thác khoảng 30 - 40 triệu tấn

Các mỏ đá vôi, đất sét, cao lanh… Trữ lượng tương đối lớn, phân bố rộng khắp các địa phương trong tỉnh như: Mỏ đá vôi ở Hoành Bồ, Cẩm Phả; Các

mỏ cao lanh ở các huyện miền núi Hải Hà, Bình Liêu,

Ba Chẽ, Tiên Yên, thị xã Móng Cái; Các mỏ đất sét phân bố tập trung ở Đông Triều, Hoành Bồ và TP Hạ Long là nguồn nguyên liệu quan trọng để sản xuất vật liệu xây dựng cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu

Các mỏ nước khoáng: Có nhiều điểm nước khoáng uống được ở Quang Hanh (Cẩm Phả), Khe Lạc (Tiên Yên), Đồng Long (Bình Liêu) Ngoài ra, còn

có nguồn nước khoáng không uống được tập trung ở Cẩm Phả có nồng độ khoáng khá cao, nhiệt độ trên 350C, có thể dùng chữa bệnh

 Tiềm năng Du lịch - Văn hóa đặc sắc

Tiềm năng Văn hóa

Quảng Ninh là một vùng đất có nền văn hoá lâu đời Văn hoá Hạ Long đã được ghi vào lịch sử như một mốc tiến hoá của người Việt Cũng như các địa phương khác, cư dân sống ở Quảng Ninh cũng có những tôn giáo, tín ngưỡng để tôn thờ: Phật giáo, Ky

Tô giáo, thờ cúng tổ tiên và một vài tín ngưỡng dân gian khác

Ðạo Phật đến với vùng đất này rất sớm Trước khi vua Trần Thái Tông (1225-1258) đến với đạo Phật ở núi Yên Tử thì đã có nhiều bậc chân tu nối tiếp tu hành ở đó Vua Trần Nhân Tông (1279-1293) chọn Yên Tử là nơi xuất gia tu hành và lập nên dòng Thiền trúc Lâm ở Việt Nam Thế kỷ XIV, khu Yên Tử

và Quỳnh Lâm (Ðông Triều) là trung tâm của Phật giáo Việt Nam, đào tạo tăng ni cho cả nước Nhiều thế kỷ sau đó, Ðạo Phật vẫn tiếp tục duy trì với hàng trăm ngôi chùa ở Quảng Ninh, trong đó có những ngôi

Trang 12

chùa nổi tiếng như: Chùa Lôi Âm, chùa Long Tiên (Hạ

Long), Linh Khánh (Trà Cổ), Hồ Thiên (Ðông Triều),

Linh Quang (Quan Lạn) Trải qua nhiều biến cố của

lịch sử, sự tàn phá của thiên nhiên và cả con người,

hiện trên đất Quảng Ninh còn lại khoảng trên dưới 30

ngôi chùa nằm rải rác ở 8 huyện, thị, thành phố Chưa

có con số thống kê chính xác số lượng các tăng ni trên

địa bàn của tỉnh nhưng những người tôn thờ đạo Phật

lúc nào cũng đông (có thể càng ngày càng đông),

bằng chứng là cứ đến ngày rằm, ngày mồng một (âm

chục người Tín ngưỡng phổ biến nhất đối với cư dân

sống ở Quảng Ninh là thờ cúng tổ tiên, thờ các vị

tướng lĩnh nhà Trần có công với dân với nước, các vị

Thành Hoàng, các vị thần (sơn thần, thuỷ thần), thờ

các mẫu (Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu

Thoải)

Cả tỉnh có gần 500 di tích lịch sử, văn hoá, nghệ

thuật gắn với nhiều lễ hội truyền thống, trong đó có

những di tích nổi tiếng của Quốc gia như: Chùa Yên

Tử, đền Cửa Ông, Đình Trà Cổ, di tích lịch sử Bạch Đằng, chùa Long Tiên, đình Quan Lạn, chùa Cái Bầu - Thiền viện Trúc Lâm Giác Tâm Đây là những điểm thu hút khách thập phương đến với các loại hình du lịch văn hoá, tôn giáo, nhất là vào những dịp lễ hội

kỳ quan thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long

là địa điểm du lịch lý tưởng của Quảng Ninh cũng như miền Bắc Việt Nam

Có thể thấy, tiềm năng du lịch Quảng Ninh nổi bật nên với các thắng cảnh nổi tiếng và các bãi tắm đẹp Vịnh Hạ Long là di sản thiên nhiên thế giới, là thắng cảnh nổi tiếng của non nước Việt, có diện tích 1.553 km2 với 1.969 đảo, trong đó khu di sản thế giới được UNESCO công nhận có diện tích trên 434 km2 với 788 đảo, có giá trị đặc biệt về văn hoá, thẩm mĩ, địa chất, sinh học và kinh tế Trên vịnh

có nhiều đảo đất, hang động, bãi tắm, cảnh quan đẹp thuận lợi cho phát triển nhiều điểm, nhiều hình thức

du lịch hấp dẫn Vịnh Hạ Long cùng với đảo Cát Bà là khu du lịch trọng điểm quốc gia, động lực phát triển vùng du lịch Bắc Bộ

Phối cảnh tổng thể cảng tàu du lịch bãi cháy

Trang 13

Các bãi tắm đẹp

như Trà Cổ (Móng Cái),

Bãi Cháy, đảo Tuần Châu

đã được cải tạo, nâng cấp

với nhiều loại hình dịch vụ

phục vụ đa dạng các nhu

cầu của khách Bên cạnh

đó, vịnh Bái Tử Long cùng

các hải đảo và nhiều bãi

biển đẹp nổi tiếng như:

Quan Lạn, Minh Châu,

Ngọc Vừng, Trà Cổ, Bãi

Cháy, Ti Tốp cùng hàng

trăm di tích lịch sử kiến

trúc nghệ thuật tập trung

dọc ven biển với mật độ

cao vào loại nhất của cả

nước… tạo khả năng mở

nhiều tuyến du lịch kết

hợp rất hấp dẫn, trên đất

liền và trên các đảo Việc phát triển du lịch ở khu

vực Hạ Long - Bãi Cháy kết hợp với tuyến ven biển

đến Móng Cái, Hải Phòng - Đồ Sơn - Cát Bà… sẽ tạo

thành một quần thể du lịch - thể thao - giải trí ven

biển Với bờ biển dài, nhiều bãi biển đẹp, nhiều khu

du lịch hiện đại tầm cỡ quốc tế, hàng năm Quảng

Ninh đã thu hút hàng triệu lượt khách trong và ngoài

nước đến thăm quan, du lịch, nghỉ dưỡng và hội thảo

(Năm 2007, đón hơn 3,7 triệu lượt khách trong đó

trên 1,5 triệu lượt khách quốc tế, doanh thu đạt trên

2200 tỷ đồng)

 Bức tranh kinh tế - xã hội: Nhiều thành

tích nổi bật

Trong 5 năm (2005-2010) Quảng Ninh tự tin

khoác lên mình một diện mạo mới, sức sống mới

tươi đẹp hơn Điều dễ nhận thấy ở Quảng Ninh trong

những năm gần đây, đó là tốc độ đô thị hóa mạnh mẽ

Các công trình giao thông lớn như Quốc lộ 18A; Cầu

Bãi Cháy và rất nhiều những công trình giao thông

quan trọng khác được quan tâm đầu tư, xây dựng,

tạo thế và lực để Quảng Ninh ngày càng phát triển

Từ một tỉnh chủ yếu dựa vào sản xuất than,

ngày nay, Quảng Ninh được biết đến như là một

trung tâm công nghiệp lớn của cả nước với đầy đủ các ngành nghề sản xuất như: Than, điện, cơ khí, đóng tàu, vật liệu xây dựng mang tầm quốc tế

Các ngành, lĩnh vực kinh tế khác như cảng biển,

du lịch cũng đang dần trở thành ngành kinh tế lớn mạnh Quảng Ninh ngày càng phát huy lợi thế cửa ngõ, phát triển thương mại và xuất nhập khẩu Chỉ tính riêng năm 2009, giá trị xuất nhập khẩu của Quảng Ninh đã lên đến gần 3,5 tỷ USD Tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn 5 năm tăng 18,4% vượt 3,4% so với kế hoạch đặt ra Tận dụng lợi thế của vùng đất sở hữu di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, Quảng Ninh ngày càng khẳng định tầm vóc của một trung tâm du lịch lớn nhất của cả nước, của khu vực và cả thế giới

Song song với việc phát triển công nghiệp, tỉnh cũng xây dựng một lộ trình phát triển cho ngành nông nghiệp 5 năm qua, chương trình chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, chuyển đổi cơ cấu giống, cây trồng, vật nuôi, gắn với các chính sách ưu đãi về kỹ thuật, vốn bước đầu mang lại hiệu quả, nâng cao năng suất, sản lượng lương thực trên một diện tích đất Những mô hình kinh tế trang trại theo quy mô lớn, tập trung, xuất

Công ty Hạ Long bàn giao tàu

Trang 14

hiện ngày một nhiều Toàn tỉnh hiện đã có gần 1300

mô hình kinh tế trang trại, bước đầu hình thành một

số vùng sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp Những

cánh đồng thu hoạch hàng chục triệu đồng trên 1 ha;

mô hình nuôi trồng thủy sản có doanh thu hàng tỷ

đồng/năm ngày càng được nhân rộng, mở ra hướng

thoát nghèo, vươn lên làm giàu của không ít bà con

nông dân

Với nhiều chủ trương, định hướng phù hợp mang

tính chiến lược đã đưa Quảng Ninh đạt tốc độ tăng

trưởng kinh tế bình quân 5 năm qua là 12,7%, cao

gần gấp đôi so với bình quân chung của cả nước và

được xếp ở nhóm các địa phương dẫn đầu về tốc độ

tăng trưởng Riêng năm 2010 tỉnh được xếp thứ 5 cả

nước về thu ngân sách Nhà nước Năm 2010 GDP đầu

người ước đạt 1500 USD/năm (Hạ Long 2882 USD/

năm, Móng Cái 2580 USD/năm, Cẩm Phả vượt 2000

USD/năm)

Cũng trong năm 2010, ngành Y tế Quảng Ninh

đã hoàn thành nâng cấp mở rộng các bệnh viện tuyến

tỉnh, tuyến huyện, bệnh viện đa khoa khu vực và trạm

y tế xã, góp phần giảm tình trạng quá tải về khám

chữa bệnh cho nhân dân, tiến tới mục tiêu mỗi bệnh

nhân một giường bệnh

Về giáo dục, năm học 2009 - 2010, Quảng Ninh

đựoc xếp trong TOP 10 tỉnh dẫn đầu cả nước về kết

quả tốt nghiệp THPT Thời điểm này, số trường đạt

chuẩn quốc gia trên địa bàn tỉnh đã đạt trên 47%,

vượt 2% so với nghị quyết đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ

XII Hết năm 2010, Quảng Ninh sẽ hoàn thành những

mục tiêu cơ bản về đầu tư kiên cố, xoá trường học

- phòng học tạm và phòng học 3 ca, về đích trước 2

năm so với cả nước

Sự đột phá của Quảng Ninh trong 5 năm qua

còn toàn diện ở cả lĩnh vực văn hóa - xã hội Tỷ lệ hộ

nghèo đến thời điểm này chỉ còn 4,09%, giảm một

nửa so với năm 2006 Khoảng cách giàu - nghèo giữa

các vùng miền được rút ngắn Nông thôn mới được

xây dựng song hành cùng các trung tâm đô thị trên

toàn tỉnh Đời sống văn hóa ở khu dân cư, việc xây

dựng các thiết chế văn hóa từng bước được quan tâm,

có bước phát triển, tiến bộ, người dân được hưởng

thụ đời sống tinh thần ngày một phong phú

Công tác bảo vệ môi trường, việc lập lại trật tự trong khai thác, vận chuyển và kinh doanh than trên địa bàn được chỉ đạo quyết liệt, cụ thể tạo được sự chuyển biến tích cực, rõ nét

Thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận

an ninh nhân dân ngày càng vững chắc hơn; đường biên giới đất liền với nước bạn Trung Quốc đã được xác định một cách chính xác, rõ ràng, hoàn chỉnh với một hệ thống cột mốc được xây dựng vững bền, hiện đại Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã lan toả rộng khắp tới mọi tầng lớp nhân dân Đảng bộ tỉnh đã chỉ đạo gắn nội dung cuộc vận động với việc thi đua hoàn thành tốt các nhiệm vụ, mục tiêu cụ thể của từng địa phương, đơn vị

Công tác xây dựng Đảng tiếp tục được chú trọng, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và Đảng viên được nâng lên Trong đó, kết quả nổi bật nhất là phương thức lãnh đạo của cấp ủy được đổi mới gắn sát thực tiễn, sát cơ sở, thực hiện bằng quy chế và các chương trình, kế hoạch cụ thể Công tác xây dựng tổ chức Đảng, hệ thống chính trị ở cơ

sở được chăm lo Công tác kiểm tra, giám sát giữ gìn

kỷ luật Đảng của cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra các cấp được tăng cường

Với việc tập trung đầu tư vào những lĩnh vực kinh tế mũi nhọn, gắn với quan tâm phát triển văn hoá, xã hội của tỉnh đã góp phần nâng cao mức sống của người dân, ổn định an ninh quốc phòng trên địa bàn; là tiền đề vững chắc để Quảng Ninh phấn đấu trở thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2015

Tựu chung, với những lợi thế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cũng như tiềm năng du lịch - văn hoá đặc sắc, cùng với những chuyển biến tích cực về kinh tế - xã hội, hiện nay, Quảng Ninh đã

và đang trên đà phát triển mạnh Do vậy, đất Quảng Ninh là vùng đất hội tụ nội lực phát triển mạnh mẽ và

là địa điểm tin cậy cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước

Trang 15

Quang Ninh

Development base for a new appearance, new life

Along the way from Dong Trieu to Mong Cai, millions of peple in this mine land are filled with a profound belief in the change of the province Party and people of Quang Ninh always take full advantage of development potentiality and advantages as well

as promote discipline tradition, unanimousness and renew in thinking, methods of leadership to make impressive and comprehensive development in all aspects of social life Quang Ninh now is confident to put on her a new look, a new life which is more beautiful basing on a solid development base.

Favorable natural conditions

Geographical location

Quang Ninh is a northeast province of Vietnam,

has oblique rectangular shape towards northeast

- southwest Its western area puts its back to the

forest which extend endlessly Its eastern area tilts

down half of the northern Gulf with many sinuous beaches, river mouths and tidal banks and its outside has more than two thousand islands including 1030 named ones and more than a thousand unnamed ones

The furthest location in its North is

Mo Toong village, Hoanh Mo commune, Binh Lieu district; in the South is Ha Mai island, Ngoc Vung commune, Van Don district; in the West is Binh Duong and Nguyen Hue communes, Dong Trieu district; in the East is Got cape in the northeast Tra Co commune, Mong Cai city

Quang Ninh has national borders and territorial waters bordering with the People's Republic of China

On land, its North (including districts of Binh Lieu, Hai

Ha and Mong Cai town) borders with Thanh Phong district and Dongxing town of Guangxi province with 132.8 km of border road, its East is is Gulf of Tonkin Its West borders with Lang Son, Bac Giang, Hai Duong And its South borders with Hai Phong south and its

Trang 16

Quang Ninh is a coast and mountainous province

Over 80% of the land is mountains More than two

thousand islands floating on sea are mountains

Mountainous region is divided into two parts:

eastern mountainous region from Tien Yen, BinhLieu,

Hai Ha, Dam Ha to Mong Cai This is the connected

region of Thap Van Dai Son in China with decisive

direction of northeast - southwest There are two main

mountain ranges: Quang Nam Chau (1507 meter)

and Cao Xiem (1,330 meter) accounting for most of

natural area of Binh Lieu, Hai Ha, Dam Ha and Ngan

Chi range (1166 meter) in the northern of Tien Yen

district Western mountainous region is from Tien Yen,

Ba Che, Hoanh Bo, the North of Uong Bi town to the

North of Dong Trieu district This mountainous region

is continuous ranges which is a little curve, so it is

often called as the bow back og Dong Trieu mountain

with Yen Tu peak (1,068 meter) in Uong Bi and Am

Vap peak (1094 meter) in Hoanh Bo

Midland and coastal plain including low weathered and eroded hills creating fields from mountain feet down to basin of river and seashore Although its area is narrow and divided into areas, its midland and coastal plain create favourable conditions for agriculture and transportation, so it becomes well-off residential area of Quang Ninh

Coastal and island area of Quang Ninh have not only alluvium warps but also white sand beach created by ocean waves Some become white sand mines as raw materials for glass technology (Van Hai), some become wonderful beach (such as Tra Co, Quan Lan, Minh Chau,Ngoc Vung, etc.) Quang Ninh has more than 2,000 islands accounting for more than two thirds of Vietnam islands (2078/2779), islands stretches along its coastline of over 250 km dividing into layers

Quang Ninh seabed topography is uneven with average depth of 20 meter There are deep revulets

as relic of ancient flows and underground bandstone

Trang 17

as growth area of various corals The current flows

connected to revulets in bottom of the sea also creates

a series of canals and ports on sinuous and airtight

coast thanks to defend of island lobby creating great

port and water traffic potentiality

Climate

Quang Ninh climate representatives for northern

Vietnam provinces and has unique of a coastal

mountainous province Archipelago in Co To and Van

Don district have typical ocean climate

Quang Ninh is located in a tropical region with

hot humid summer and heavy rain, a cold winter and

low rainfall and mainly hot and humid tropics

Because Quang Ninh is in the tropical belt, sun

goes through zenith two times yearly, potentiality of

radiation and temperature are plentiful

Affected by circulation of monsoon, the climate

was divided into two seasons: Summer is humid hot

and with rainy season, winter is cold with the dry

season Temperature is determined with cold winter,

stable average air temperatures below 20oC Hot

season with stable temperatures above 25oC About

rain: According to general convention, the period with

steady rainfall of over 100 mm is the rainy season

while the dry season is the season with stable monthly

rainfall below 100 mm

Rivers and Hydrological Regime

Quang Ninh province has up to 30 streams and

rivers with length of over 10 km but most are small

Barrin area area usually not exceeding 300 km2, of

which there are four major rivers including Thai Binh

River’s lower section, Ka Long River, Tien Yen River

and Ba Che River Each river or river section usually

has several branches The majority of branches are

perpendicular to the main river Almost rivers are

fan-shaped excluding Cam river , Ba Che river, Tien Yen

River and Pho Cu River with feather-shaped

Salt water infiltrates river mouth quite far Layer

of cover plants has low proportion to basins, so they

are often eroded and wept out increasing the amount

of illuvium and rocks when floods occurs Therefore, many streams and river are extended so quickly, especially in areas with mining activities such as in sections of Vang Danh river and Mong Duong River.Besides the four above major rivers in Quang Ninh province, there are 11 small river with their length from 15 to 35 km Their basin area is usually smaller than 300 km2, which are distributed along the coast, including Trang Vinh River, Ha Coi River, Dam

Ha River, Dong Cai Xuong River, Ha Thanh River, Dong

Mo River, Mong Duong River, Dien Vong River, Man River, Troi River, Mip Rive

All rivers in Quang Ninh are short and small with steep slope And flow velocity is very different between seasons In winter, rivers dried up with rocks in some places, but in summer, water levels rise rapidly The flow in dry season is 1.45 m3/s, in rainy season up to

1500 m3 / s, it varies 1000 times

Quang Ninh province borders with Gulf of Tonkin – a great gulf, but closed and defensed by bays, so waves are not as large as Central Coast sea Tidal regime is typical diurnal tide with amplitude up to 3-4 meter Unique characteristic here is the phenomenon creating “tide” and the highest tides in afternoons in summer months, in mornings in winter months and these days with spring waters In Gulf of Tonkin, there are sea currents flowing towards north-south direction and northeast monsoon, this is the coldest terrorial waters in Vietnam Sometimes, temperature is down

In province’s total land area, agricultural land accounts for 10%, forest land 38%,unused land area with large propotion (up to 43.8%) which is

Trang 18

concentrated in mountainous and coastal regions, the

remaining as specialized land and residential land

Water Resources

Surface water: Water in rivers is quite plentiful,

estimating 8,776 billion m3 throughout the basin The

flow is up to 118 l/s/km2 in areas where it rains heavily

Like rainfall in the year, the flow of rivers in Quang

Ninh is also divided into two distinct seasons Rainy

season is from May to September with water volume

accounting for 75-80% in total amount of water in

year, dry season is from October to April with amount

of water accounting for 20-25% in total water volume

in the year

Groundwater: According to exploration results,

groundwater reservation in Cam Pha is 6107 m3/day

and 21,290 m3/day in Ha Long area

Taking advantage of the terrain, Quang Ninh

province has built nearly 30 large water reservoirs

with total capacity of 195 53 million m3, serving for

socioeconomic of province such as Yen Lap reservoir

(with capacity of 118 million m3) , Chuc Bai Son

reservoir (11.5 million m3), Quat Dong reservoir (10

million m3) If in total, Quang Ninh has between

2,500 and 3,000 ha of water surface of ponds, lakes,

marshes with conditions for aquaculture

Marine Resources

With a long coastline of 250 km, Quang Ninh

has many fishing grounds for marine products Most

of the major fishing grounds have high and stable

yield, and distributed around the islands and near the

shore, very convenient for exploitation In addition,

Quang Ninh province has over 40,000 hectares of tidal

flats, 20,000 ha of Gulf strait and thousands of ten

thousand hectares of coastal lagoon as a favorable

environment for development of aquaculture and

seafood processing for export

Coastal Quang Ninh province has many area

of deep water and tight as an important advantage

which is especially convenient for the construction

and development of seaport system, especially in Ha

Long City, Cam Pha Town, Tien Yen district , Mong Cai town and Hai Ha district

Forest Resources

Quang Ninh has 243,833.2 hectares of forest and forest land (accounting for 40% of natural land area of the whole province) including 80% natural forests and remaining as artificial forests and special forest with about 100 thousand hectares, about 230 thousand hectares unforested land which is favourable condition to become large-scale areas of wood industry, special treea, fruit trees

Mineral Resources

Quang Ninh has rich and diversified mineral resource with many characteristics and large reservation, high quality that many provinces and cities nationwide have not owned such as Coal, kaolin, clay , glass sand and limestone, etc

Coal: With about 3.6 billion tons of coal of antracit mainly, stable carbon rate of 80-90% which is mostly concentrated in three areas: Halong, Cam Pha and Uong Bi-Dong Trieu with yearly yield of about 30

to 40 million tons

Mines of limestone, clay and kaolin with quite great reservation and distributed to almost the whole localities in Quang Ninh such as: limestone mines in Hoanh Bo and Cam Pha, kaolin mines in mountainous provinces as Hai Ha, Binh Lieu, Ba Che, Tien Yen and Mong Cai town; clay mines in Dong Trieu, Hoanh Bo and Halong province as important material sources for production of construction materials at home and broad market

The mineral water sources: There are many drinkable mineral water sources todrink in Quang Hanh (Cam Pha),Khe Lac (Tien Yen), The Long (Binh Lieu) In addition, there is undrinkable mineral water sources concentrated in Cam Pha with quite high concentration and temperature of 350C, which can be used for treatment

Tourism Potentiality – Special Culture

Trang 19

Culture Potentiality

Quang Ninh is a

land of ancient culture

Ha Long culture has been

recorded in history as an

evolutionary milestone

for the Vietnamese Like

other provinces, Quang

Ninh residents also have

religious beliefs to worship:

Buddhists, Christians,

ancestor worship and a

few other folk beliefs

Buddhism comes

to this region very soon

Before King Tran Thai

Tong (1225-1258) took

part in Buddhism at Yen Tu

Mountain, there were several true monks leading the

religious of life practice there King Tran Nhan Tong

(1279-1293) chose Yen Tu as place to become a

Buddish monk and eshtablished Truc Lam dhyana in

Vietnam In 24th century, Quynh Lam and Yen Tu

(Dong Trieu) is the center of Buddhism in Vietnam, to

train monks and nuns throughout the country Many

centuries later, Buddhism is continued to maintain with

hundreds of pagodas in Quang Ninh including famous

pagodas such as Loi Am , Long Tien(Ha Long), Linh

Khanh (Tra Co) , Ho Thien (North East), Linh Quang

(QuanLan) Over events of history, devastation of

both nature and man, there are now approximately

30 pagodas scattered in eight districts and cities

of Quang Ninh There are no accurate statistics on

the number of monks and nuns in the province but

Buddhist worshipers are always crowded (maybe more

and more crowded) Evidence is that in the first and

the fifteenth day of lunar month, followers from near

and far pagodas go to thurify toBuddism for luck

Worshipers of other religions is not as many as

of Buddism In Quang Ninh, there are 27 churches of

parishes belonging to 41 Parishes in 8 districts, towns

and cities The number of parishers are more than

ten thousands The number of Cao Dai followers are

now some tens of people The most popular belief of Quang Ninh people is to worship ancestor, Generals

in Tran dynasty who deserved for people and country, tutelary gods, gods (mountain god and naiad), female gods (Lieu Hanh, Thuong Ngan, Thoai, etc.)

In the whole province, there are 500 relics

of history, culture, art, etc attached to traditional festivals including national famous relics such as: Yen Tu pagoda, Cua Ong temple, Tra Co communal house, historic relic of Bach Bang, Long Tien pagoda, Quan Lan communal house, Cai Bau pagoda and Zen monastery of Truc Lam Giac Tam These places attract pilgrims to Tourism of culture, religious, especially in festival time

of Quang Ninh and northern Vietnam It can be seen,

Trang 20

Quang Ninh tourism potentiality outstandings with the

famous beauty spots and beautiful beaches

Ha Long Bay is world natural heritage, the

famous beauty spot of Vietnam with area of 1,553

km2 with 1,969 islands, of which the World Heritage

acknowledged by UNESCO has the area of 434 km2

On the bay, there

are many soil

resort key and

development driving force of Tonkin Gulf

The beautiful beaches like Tra Co (Mong Cai),

Bai Chay, Tuan Chau has been renovated, upgraded

with a variety of services to serve the diverse needs

of customers.Besides, Bai Tu Long Bay and offshore

islands and many famous beaches such as Quan

Lan, Minh Chau, Ngoc Vung, Tra Co, Bai Chay, Ti Top

and hundreds of historic relics with art architecture

gathered along the coast with the highest density in

country, etc creates possibility of opening attractive

combined tour on mainland and offshore island

Tourism development in Ha Long - Bai Chay combined

with the coastal route to Mong Cai, Hai Phong - Do

Son - Cat Ba, etc will form a coastal community of

travel - sports - entertainment With a long coastline,

many beautiful beaches, many international modern

resorts, annually Quang Ninh has attracted millions of

domestic and foreign tourists to visit, tour, resort and

make conference (In 2007, welcomed more than 3.7

million visitors including over 1.5 million international passengers, the revenue reached 2200 billion)

Socioeconomic Picture : Many outstanding achievements

In five years (2005-2010), Quang Ninh

confidently puts on her a new look, new more beautiful life It

is easy to notice that urbanization rate of Quang Ninh province is strong in recent years Major transportation projects such as Highway No.18A; Bai Chay Bridge and many other important transportation works are paid much attention for investment, construction, creating much power and capacity to Quang Ninh development.From one province relying heavily on coal production, today, Quang Ninh province is known

as an industrial center in Vietnam with sufficient international production lines, such as coal,electricity, mechanics, shipbuilding, building materials

Other economic sectors like ports and tourism, etc are also gradually becoming stronger economic activity Quang Ninh is increasingly it advantage of gateway, trade promotion as well as export-import

In 2009 alone, export-import value of Quang Ninh has risen to nearly $ 3.5 billion Total export turn-over in 5 years increased by 18.4% exceeding 3.4%

as proposed Taking advantage of owning the land

as world natural heritage -Ha Long Bay, Quang Ninh increasingly confirmed the stature of a major tourist center in the country, the region and the world.Together with industrial development, Quang Ninh has also built a development route for agricultural

Trang 21

sector In the past 5 years, converted programs of crop,

seed, plants, livestock, associated with preferential

policies on technology and capital, etc has initially

brought effectiveness, increased productivity, food

production per land area The economic model of

large-scale farms focuses and appears more and more

The whole province has nearly 1300 farm economic

models,initially forming a argriculcural commodity

production zones Fields harvested tens of million

per hectare, aquatic cultivation model with turnover

of billions per year have been increasingly expanded,

opening the way out of poverty and getting rich of

some farmers

With many policies, strategic and suitable

orientation supported Quang Ninh to achieve average

economic growth rate in past 5 years was 12.7%,

nearly twice compared with average rate of the

whole nation and ranked in locality group leading the

growth

In 2010 only, Quang Ninh was ranked No 5

nationwide on the State budget coverage In 2010,

GDP was estimated at 1500 USD per year (Ha Long

2882 USD per year, Mong Cai 2580 USD per year, Cam

Pha exceeds 2000 USD / year)

Also in 2010, Quang Ninh health sector have

been completed to upgrade and expand the provincial

and district hospitals, regional general hospitals and

commune health centers contributing to reducing

overcrowding in health care for people toward the

goal of every patient per bed

In education, school year of 2009 - 2010, Quang

Ninh is ranked among TOP 10 leading provovince

of high school graduation results At this time, the

number of school qualifying national standards has

reached 47%, exceeding 2% compared with Decree of

Party tenure XII In the finishing of 2010, Quang Ninh

will complete its basic goals of permanent investment,

removing temporary schools - classrooms 3-case

classrooms, reached the targe first in country

Quang Ninh’s breakthrough in the last 5 years

is also comprehensive in the field of culture -society

Percentage of poor households so far is only 4.09%,

gap between regions are shortened New rural area was constructed together with urban centers across the province Cultural life in residential areas, the construction of cultural institutions are interested in gradually with development, progress and people are enjoying a rich spirit life

Environmental protection, restoration of order

in mining, transport and coal business in the area are drastic directed, namely to create clear and positive changes

National defense of the whole people and people’s security defense is more and more solid; land border with China has been determined accurately, clearly, and completely with a modern and sustainable milestone system The campaign “Study and follow examples of Ho Chi Minh” was pervasive to all classes

of people Provincial Party directed to attach the campaign content to competition specific tasks and goals of each local unit

Party-building work continues to be focused; leadership, combat strength of Party and Party members is raised In particular, the most striking results is the leadership method of committees is renewed complying to practice and base, performing

by regulations and programs or specific plans Supervision of Party, executive committee and the supervision of all levels are strengthened

Focus on investment in key economic areas combined with consideration of socioeconomic development of Quang Ninh has contributed to improving people’s living standards, stability of local security is solid premise for Quang Ninh to strive to become a industrial province towards modernisation

in 2015

Overall, with advantages of natural conditions, natural resources and tourism potentiality - special cultural identity along with positive changes in the economiy and society, Quang Ninh now were on the way of strong development Therefore, Quang Ninh is the land focusing internal strength to develop and as reliable destination for investors at home and abroad 

Trang 22

Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020

Động lực tăng trưởng

vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

Theo quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh, phấn đấu đến năm

2020, Quảng Ninh sẽ trở thành một địa bàn động lực, phát triển theo hướng cơng nghiệp hĩa, hiện đại hĩa, kinh tế hướng mạnh về xuất khẩu Đồng thời nhanh chĩng chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng các ngành cơng nghiệp và dịch vụ, đặc biệt là các ngành kinh tế giữ vai trị chủ đạo của tỉnh như: Than, điện, ximăng, cơ khí và đĩng tàu

Nâng cấp hạ tầng kỹ thuật đơ thị

Mục tiêu phấn đấu của tỉnh Quảng Ninh trong

Chương trình đến năm 2015 sẽ trở thành một tỉnh

cơng nghiệp, tỷ lệ dân cư đơ thị được tiếp cận với

nước sạch, cĩ nhà vệ sinh kết nối với bể tự hoại đạt

100%; tỷ lệ chất thải rắn được thu gom đến nơi quy

định đạt 100%; tỷ lệ nhà xây tại các khu vực khơng

bảo đảm an tồn và khơng phù hợp cho sinh sống của

người dân được di dời, cải thiện điều kiện nhà ở đạt

100% Khơi phục và lắp đặt hệ thống kết hợp thốt

nước mưa và nước thải, các khu đơ thị đạt chuẩn về

mật độ đường giao thơng; hệ thống đèn đường được

nâng cấp; tìm mọi biện pháp để cải tạo nhà ở đối với

hộ gia đình cịn khĩ khăn tại các khu dân cư thu nhập

thấp, phấn đấu nâng cao năng lực của các cấp quản

lý trong cơng tác quy hoạch, quản lý nâng cấp và phát

triển đơ thị Nâng cấp đơ thị: TP Hạ Long lên đơ thị

loại I, TP Mĩng Cái lên đơ thị loại II, thị xã Cẩm Phả,

thị xã Uơng Bí lên đơ thị loại II, các thị trấn: Quảng

Yên, Tiên Yên, Quảng Hà, Cái Rồng, Đơng Triều lên

đơ thị loại III, các thị trấn: Ba Chẽ, Bình Liêu, Cơ Tơ,

Đầm Hà lên đơ thị loại IV

Đồng thời, trong chương trình xây dựng tổng thể phát triển đơ thị đến năm 2020, Quảng Ninh ưu tiên tập trung vào các đơ thị cĩ tỷ lệ khu nghèo cao khĩ khăn về nhà ở, cịn hạn chế về cơ sở kỹ thuật và

hạ tầng xã hội như các huyện: Ba Chẽ, Bình Liêu, Cơ

Tơ, Đầm Hà Tập trung vào các đơ thị cĩ vai trị làm

cú “hích”, động lực phát triển lan toả cho tồn tỉnh và các vùng lân cận như: Hạ Long, Mĩng Cái, Vân Đồn… Tập trung vào các đơ thị cịn thiếu cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội như: Uơng Bí, Đơng Triều, Mạo Khê; Tập trung vào các đơ thị cĩ năng lực tiếp nhận

và thực hiện dự án như: Vân Đồn, Hải Hà…Ưu tiên đầu tư cho đơ thị ở các vùng cĩ mật độ đơ thị cao nhưng cịn kém phát triển như các đơ thị miền đơng của tỉnh

Mục tiêu kinh tế

Trong những năm tới, Quảng Ninh tiếp tục đổi mới tồn diện mạnh mẽ và đồng bộ phấn đấu xây dựng tỉnh thành một một khu vực phát triển năng động của kinh tế ven biển và biển, cĩ tốc độ tăng trưởng cao, bền vững Tỉnh tập trung lãnh đạo duy trì

Trang 23

vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

tốc độ tăng trưởng hợp lý, giữ vững ổn định sản xuất, bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển bền vững, tồn diện trong những năm tiếp theo

Nhiều dự án lớn, quan trọng đang được triển khai bên cạnh cơng tác xố đĩi giảm nghèo, tạo việc làm, giải quyết các vấn đề an sinh xã hội Trong đĩ:

Phát triển cơng nghiệp với tốc độ cao để đảm bảo phát triển các ngành kinh tế khác của tỉnh Trong phát triển cơng nghiệp, cùng với việc đạt được các hiệu quả về kinh tế, tỉnh đặc biệt chú ý đến việc giải quyết tốt các vấn đề xã hội, bảo đảm phát triển bền vững, hài hịa giữa các ngành kinh tế trên địa bàn

Phát huy truyền thống và năng lực sẵn cĩ để phát triển mạnh các ngành cơng nghiệp mũi nhọn như:

Than, cơ khí, vật liệu xây dựng (đặc biệt là xi măng)

Cải tạo và mở rộng các Khu cơng nghiệp hiện cĩ như:

Hịn Gai, Bãi Cháy, Cẩm Phả, Uơng Bí đồng thời đẩy mạnh tốc độ xây dựng một số Khu cơng nghiệp mới như: Cái Lân, Hồnh Bồ, Uơng Bí, Mạo Khê, Chập Khê

và Cụm cơng nghiệp Đơng Triều Phát triển tuyến kinh

tế ven biển Hạ Long - Mĩng Cái gắn kết chặt chẽ với vùng núi phía trong để làm động lực phát triển cho cả

vùng Huy động các thành phần kinh tế để mở rộng sản xuất và nâng cao chất lượng các mặt hàng tiêu dùng, cơng nghiệp chế biến nơng, lâm, thuỷ sản để đáp ứng nhu cầu nội địa và xuất khẩu

Phát triển nơng nghiệp theo hướng sản xuất hàng hố cung ứng cho tiêu dùng và xuất khẩu, khai thác cĩ hiệu quả tiềm năng về đất nơng nghiệp gần khu cơng nghiệp, gần khu du lịch ven biển và hải đảo để bố trí mùa vụ, cây trồng, vật nuơi thích hợp

và thâm canh nhằm tăng năng suất, sản lượng và chất lượng nơng sản, mở rộng thị trường tiêu thụ Phát triển chăn nuơi theo hướng cơng nghiệp để tăng nhanh tỷ trọng của ngành này trong giá trị sản lượng nơng nghiệp

Phát triển ngành thuỷ sản: Bao gồm cả khai thác, nuơi trồng, chế biến và hậu cần dịch vụ, đầu tư

kỹ thuật và phương tiện để nâng cao sản lượng đánh bắt hải sản ngồi khơi Mở rộng diện tích nuơi trồng thuỷ sản; xây dựng các cơ sở chế biến, dịch vụ nghề

cá ở ven biển và trên các đảo; xây dựng đảo Cơ Tơ trở thành một trong những trung tâm dịch vụ nghề cá của

Trang 24

Vịnh Bắc Bộ Phát triển thuỷ sản kết hợp với

việc bảo vệ và phát triển các nguồn lợi

Về phát triển các ngành thương mại,

dịch vụ, du lịch tỉnh Quảng Ninh đã có kế

hoạch khai thác những lợi thế, tạo môi

trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi để huy

động được các nguồn lực, đặc biệt coi trọng

việc phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại

theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá

các mối quan hệ, hướng mạnh vào xuất

khẩu, du lịch, hợp tác đầu tư nhằm thu hút

vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên

tiến của nước ngoài Phát huy ưu thế và cơ

hội để phát triển mạnh các ngành dịch vụ,

nhất là dịch vụ hàng hải và du lịch

Mục tiêu xã hội

Nâng cao chất lượng và hiệu quả của hệ thống

giáo dục, đào tạo để đáp ứng yêu cầu về nhân lực

cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá Phát triển mạng

lưới chăm sóc sức khoẻ, bảo hiểm y tế, khám chữa

bệnh cho nhân dân, nhất là dân ở các vùng miền núi

và hải đảo, thực hiện chương trình dân số - kế hoạch

hoá gia đình

Mở rộng và nâng cao chất lượng của hệ thống

phát thanh, truyền hình, các hoạt động văn hoá tiên

tiến, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao cơ

sở vật chật cho ngành thể dục thể thao Tiếp tục đẩy

mạnh phong trào xoá đói giảm nghèo, quan tâm đúng

mức đến các đối tượng và gia đình chính sách Cùng

với việc phát triển kinh tế nhiều thành phần, nhiều

ngành, nghề, phải tăng tỷ lệ lao động được đào tạo

có việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở các đô thị Vận

động nhân dân tham gia tích cực vào việc xây dựng

nếp sống văn minh, bài trừ các tệ nạn xã hội

Phát triển kinh tế kết hợp với phát triển văn hoá,

xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng trên đất liền, trên

biển và hải đảo Nâng cao mức sống và trình độ dân

trí, bảo đảm nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại

hoá, xây dựng các khu vực nông thôn mới và các hải

đảo phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng

vừng, từng đảo Bảo vệ, cải thiện môi trường sinh

thái, đặc biệt là cảnh quan khu vực Vịnh Hạ Long

Những biện pháp chủ yếu

Để đảm bảo việc thực hiện Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội tỉnh thời kỳ 1996-2010, tỉnh đã triển khai một hệ thống các biện pháp đồng bộ, kể cả đổi mới cơ chế chính sách kết hợp với cải cách hành chính Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh là cơ quan chủ quản thực hiện Quy hoạch, đã có kế hoạch và biện pháp triển khai việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện một cách chặt chẽ và khẩn trương, nhằm hoàn thành

và hoàn thành vượt mức các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đã được đề ra trong Quy hoạch Bên cạnh đó, tỉnh còn thường xuyên theo dõi, kịp thời điều chỉnh Quy hoạch phù hợp với sự phát triển chung của vùng và của cả nước

Về phát triển kinh tế, Quảng Ninh là địa phương

có vai trò quan trọng trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có mối quan hệ chặt chẽ, hữu cơ với các tỉnh, thành phố trong khu vực, có vị trí chiến lược

về kinh tế, quốc phòng - an ninh, có tiềm năng, thế mạnh về công nghiệp khai khoáng, sản xuất than, đóng tàu, điện, xi măng, thương mại, du lịch, dịch vụ, cảng biển Vì vậy, tỉnh Quảng Ninh đang tiếp tục đổi mới toàn diện, mạnh mẽ và đồng bộ, trên cơ sở động viên mọi nguồn lực, đẩy mạnh hơn nữa tốc độ tăng trưởng, phấn đấu phát triển kinh tế với tốc độ cao, ổn định, bền vững để trở thành tỉnh công nghiệp theo

Trang 25

hướng hiện đại trước năm 2020, xứng đáng là cực

tăng trưởng quan trọng của Vùng kinh tế trọng điểm

Bắc Bộ, của Vành đai Kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ

Bên cạnh đó, Quảng Ninh còn quan tâm phát

triển các lĩnh vực văn hóa - xã hội; nâng cao chất

lượng công tác giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe

nhân dân, giải quyết việc làm, bảo đảm an sinh xã

hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân

Thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng an ninh, giữ vững

ổn định trật tự an toàn xã hội; lập lại trật tự việc khai

thác, vận chuyển than Chú trọng xây dựng Đảng,

chính quyền vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo

của Đảng, hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính

trị, làm tốt cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”…

Nhìn lại 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, với những nỗ lực, cố gắng không ngừng, Quảng Ninh đã có những bước tiến bộ quan trọng, chuyển biến căn bản từ một địa phương trước kia chủ yếu dựa vào trợ cấp của Trung ương nay vươn lên phát triển khá toàn diện trên các mặt, từng bước khẳng định vị thế, vai trò là địa bàn động lực trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Vùng đồng bằng sông Hồng, tạo thế và lực mới cho sự phát triển của địa phương trong thời gian tới.

Trang 26

The master plan on socio-economic of Quang Ninh province up to 2020

The motive force for growth

of the Northern focal economic zone

According to the master plan on socio-economic of Quang Ninh province, up to 2020 we’ll try to make Quang Ninh province become a driving force area, develop in the orientation of industrialization, modernization and export-led economy To rapidly restructure the economy in the direction of quickly raising the ratios of the prov- ince’s industry and service sector, especially leading economic sectors such as: coal, electricity, machinery and shipbuilding industry…

To upgrade technical infrastructure of the

urban

The goal in the plan up to 2015 of Quang Ninh

province is becoming an industrial province, 100% of

urban inhabitants will get access to clean water and

have water closets with septic tanks; 100% of solid

wastes will be collected and transported to designated

dumping sites; 100% of houses built in areas which

are unsafe and unsuitable to people’s life will be relocated and housing conditions will be improved; rainwater and wastewater drainage systems will be restored or installed; urban areas will reach road density standards; road lighting systems will be upgraded; finding any solution for renovating houses

of difficulty-hit households in low-income earners’ residential quarters To raise the capability of different administration levels in the planning, upgrading and

Trang 27

of the Northern focal economic zone

development managing of urban centers Upgrading urban: Ha Long city to urban grade I, Mong Cai city

to urban grade II, Cam Pha business town, Uong Bi business town to urban grade III, towns: Quang Yen, Tien Yen, Quang Ha, Cai Rong, Dong Trieu to urban grade III, towns: Ba Che, Binh Lieu, Co To, Dam Ha

to urban grade IV

At the same time, in the general building program

of urban development up to 2020, Quang Ninh focus preferentially on urban which have high density of poverty, have met difficulties in housing and have not yet satisfied technical and social infrastructure such as towns: Ba Che, Binh Lieu, Co To, Dam Ha To focus on urban that have “jostled role”, as a motive force pervades to the whole province and neighboring regions such as: Ha Long, Mong Cai, Van Don, Hai Ha…To focus on urban which are lack of technical and social infrastructure such as: Uong Bi, Dong Trieu, Mao Khe; To focus on urban that have capacity to receive and execute project such as: Van Don, Hai Ha…To invest preferentially in urban which have high density

of urbanization but not developed such as urban in eastern province

Economic goals

In the next years, Quang Ninh continues to

renovate comprehensively, strongly and synchronously

to make the province become a dynamic development area of coastal and sea economic stretch, with high and steady growth The province manages focus on maintaining reasonable growth speed, keeping stable manufacture, ensuring social security, boosting steady and comprehensive development of socio-economic

in next years Many big and important projects are being implemented along with hunger eradication and poverty reduction activities, providing jobs, handling social security’s problems Including:

To develop industry at a high pace to ensure the development of different economic branches of the province In industrial development, along with reaching economic results, the province pays attention especially in handling social security’s problems well, ensuring steady and harmonious development between economic sectors in the area To promote the local traditions and existing potentials to strongly develop the key industries: coal, machinery and building material (especially cement) To transform and enlarge the existing industrial zones such as: Hon Gai, Bai Chay, Cam Pha, Uong Bi, , as well as

to accelerate the pace of construction at a number

of new industrial areas such as Cai Lan, Hoanh Bo, Uong Bi, Mao Khe, Chap Khe and the Dong Trieu industrial complex To develop the coastal

economic stretch from Ha Long

to Mong Cai, in close combination with promoting the economic potentials of its adjacent jungle area so as to create the development motive force for the whole region

To engage all economic sectors

in the expansion

of production and the improvement

Trang 28

of the quality of consumer goods processed foods,

forest and aquatic products to meet the need of

domestic consumption and export

To develop agriculture along the line of

commodity production for home consumption and

export; to effectively tap the potentials of agricultural

land in areas adjacent to industrial and coastal tourist

areas and islands to design appropriate crops, plant,

livestock structures and practice intensive farming

to increase productivity, production, quality of farm

products, and expand the market sale To develop

livestock breeding along the line of industrialization so

as to increase the proportion of this branch in the total

output value of agriculture

To develop fisheries: including netting, rearing,

processing and after service; to invest in technology

and means to raise the productivity of offshore

fishing To expand the area of aquatic rearing; build

processing establishments and services for fishery

in coastal areas and on islands; and build the Co To island into one of the service centers for fishery in the Gulf of Tonkin To combine the development of fishery with the preservation and development of the resources

On trade, service and tourism: To work out policies to make use of the advantages and create favorable environment for investment and business so

as to mobilize all resources, attach special importance

to developing external economic activities in the orientation of multilateralization and diversification

of relations, strongly orienting at export, tourism and investment cooperation with a view to attracting capital, technology and advanced management experience from foreign countries To promote advantages and opportunities to strongly develop service industries, especially maritime and tourist services

Trang 29

Social goals

To raise the quality and efficiency of the

educational and training system to meet the

need of human resources for industrialization and

modernization To develop the network of health

care, health insurance and medical treatment for the

population, especially those living in mountainous

and island areas; and to implement the program of

population control and family planning

To expand and raise the quality of the radio and

television network and ensure that the cultural activities

are advanced, sophisticated and imbued with national

identity; to improve the material bases for sports and

physical training To continue promoting the movement

for hunger eradication and poverty alleviation, pay

proper attention to the people and families of policy

entitlements Along with the development of a

multi-sector and multi-trade economy, it’s a must to increase

the employment rate among the contingent of trained

labor and reduce the unemployment rate in urban

areas To encourage people to take an active part in

the building of a civilized lifestyle and the eradication

of social vices

To combine economic development with

cultural - social development and strengthening

national defense and security inland, on the sea and

islands To raise the living and cultural standard of

population, ensure the provision of human resources

for industrialization and modernization; to build

new-type rural areas and islands in accordance with the

socio-economic conditions of each region and island

To preserve and improve the ecological environment,

especially the landscape of Ha Long bay

Main meassures

To ensure the implement of master plan for

socio-economic development in 1996-2010 periods,

the province deployed a series of measures to be taken

synchronously, including those for renewing policy

mechanism combined with administrative reform The

people’s committee of Quang Ninh province is the

mandated body to implement the master plan It has

plans and measures to begin immediately directing and organizing the implementation in a strict and prompt manner with a view to fulfilling and over-fulfilling the targets and tasks for socio-economic development set in the master plan To constantly monitor the implementation of, and make timely adjustments to, the master plan to make it suitable to the overall development of the region and the country

as a whole

On economic development, Quang Ninh has important role in Northern focal economic zone; close and organically relationships with other cities and provinces in the region; strategy position of economic, national defense and security; potential and strength in mineral industry, coal manufacture, shipbuilding, electricity, cement, trade, tourism, services, seaport

Besides, Quang Ninh also has attention in developing social – cultural areas; raising quality

of educational and training system, ensuring social security, improving people living standard Executing national defense and security mission well, keeping the steady of social security order, putting coal exploitation and transportation in the right order Building the Party and the administration to be firm and strong, improving the leading capacity of the Party and the efficiency of the political system, launching the campaign “learning and following the moral example of Ho Chi Minh” properly…

Looking back 20 years implementing the Party’s orientation, with unstopped affords and attempts, Quang Ninh has important improvement steps and basic changes from a province based mostly in national budget to be a comprehensive development province

in all sides, it’s on the way, step by step, to define its role and position to be the motive force in Northern focal economic zone and Red river delta, to make new power and vantage for the next development of the province 

Trang 30

Phấn đấu trở thành

tỉnh cơng nghiệp vào năm 2015

Trong những năm qua ngành cơng nghiệp Quảng Ninh luơn duy trì được nhịp độ phát triển, tốc độ tăng trưởng bình quân trên 12%/năm Hiện Quảng Ninh đang phấn đấu trở thành tỉnh cơng nghiệp vào năm 2015, về trước

5 năm so với tồn quốc vào năm 2020 Hướng tới mục tiêu này, phát triển cơng nghiệp - tiểu thủ cơng nghiệp và ngành nghề nơng thơn là một trong những chương trình kinh tế - xã hội trọng điểm đang được tỉnh và các địa phương tích cực thực hiện

Những con số ấn tượng

6 tháng đầu năm 2010, giá trị sản xuất cơng

nghiệp tồn tỉnh đạt 13.649,5 tỷ đồng, bằng 49,93%

kế hoạch và tăng 16,59% so với cùng kỳ Trong đĩ,

đĩng vai trị quan trọng và thúc đẩy tăng trưởng tồn

ngành cơng nghiệp chính là khối cơng nghiệp trung

ương với giá trị tăng trưởng 26,5% so với cùng kỳ

Một trong những mũi nhọn của khối cơng nghiệp này

đĩ là than Trong 6 tháng năm 2010, sản lượng khai

thác than sạch đạt 21,341 triệu tấn, tăng 7,3% so với

cùng kỳ, than tiêu thụ đạt 21,613 triệu tấn; sản lượng

điện sản xuất đạt 2,369 triệu Kwh, tăng gấp 4,7 lần

so với cùng kỳ

Cùng với đĩ, từ cuối năm 2009, nhiều dự án

xi măng trên địa bàn tỉnh được khởi động sản xuất với sản lượng đạt khoảng 0,3 triệu tấn/tháng Điển hình như Nhà máy Xi măng Thăng Long với hệ thống

lị nung clinker cơng suất thiết kế 6.000 tấn clinker/ngày, tương đương với 1.890.000 tấn clinker/năm Nhà máy Xi măng Hạ Long, sau thời gian hiệu chỉnh

và chạy thử đến nay các hạng mục quan trọng cuối cùng cũng đã hồn thành Sự kiện đốt lị nhà máy đúng 20h ngày 2/2/2010 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của dự án và bắt đầu cho một giai đoạn mới với dịng sản phẩm chất lượng cao, ổn định, thân thiện với mơi trường Hiện sản lượng của Nhà máy Xi

Khu cơng nghiệp Cái Lân

Quảng Ninh

Trang 31

tỉnh công nghiệp vào năm 2015

măng Hạ Long đạt khoảng 55.000 tấn clinker/ngày đêm, tương đương với khoảng 20 triệu tấn xi măng PC40/năm Gần đây nhất, sau sự kiện lô xi măng đầu tiên của Việt Nam mang thương hiệu xi măng Cẩm Phả chính thức “lên đường” sang châu Phi thì ngày 30/6/2010 Xi măng Cẩm Phả lại bắt đầu cho ra một sự kiện khác đó là xuất khẩu 15.000 tấn clinker đầu tiên sang thị trường Trung Đông

Phấn đấu trở thành trung tâm công nghiệp tàu thủy lớn của cả nước

Quảng Ninh có nhiều lợi thế để phát triển ngành công nghiệp tàu thủy, đây là tiềm năng, thuận lợi lớn

để phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra thế mạnh để tỉnh đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Với mục tiêu phấn đấu đến hết năm 2010 đạt khối lượng sản xuất khoảng 700 nghìn tấn tàu các loại, tăng gấp 2,5 lần so với năm 2007 và tăng 5,3 lần so với năm 2006; tỷ lệ nội địa hoá đạt từ 30 đến 40% thiết bị mỗi con tàu, hiện nay các cơ sở đóng tàu tại Quảng Ninh đang tập trung đầu tư công nghệ, nâng cao năng lực đóng tàu gắn với phát triển công nghiệp phụ trợ

Trước yêu cầu phát triển của ngành đóng tàu, nhiều dự án đầu tư công nghiệp phụ trợ đã được hình thành như: Nhà máy sửa chữa tàu biển và Cụm công nghiệp phụ trợ cho ngành đóng tàu được xây dựng trên diện tích 128 ha tại xã Sông Khoai (Yên Hưng) với công suất sửa chữa 20 - 40 tàu có trọng tải đến

50 ngàn tấn/năm, tổng mức đầu tư 1.485,6 tỷ đồng, thời gian thực hiện dự án từ năm 2008 đến năm 2012 Nhà máy Chế tạo động cơ Vinashin - Man - Phà Rừng được xây dựng trên diện tích 57 ha Nhà máy sản xuất lắp đặt động cơ diezen cho các tàu hàng trọng tải đến

157 ngàn tấn với công suất 40 động cơ/năm, tổng mức đầu tư 1.491 tỷ đồng, thời gian thực hiện dự án

từ năm 2008 đến năm 2009 Giữa tháng 4 vừa qua, Nhà máy sửa chữa tàu biển NOSCO - Vinaline đã được khởi công xây dựng tại huyện Yên Hưng Dự kiến giai đoạn 1 đến 2011 sẽ sửa chữa được tàu 70.000 tấn, giai đoạn 2 từ 2012 đến 2013 sửa chữa được tàu trên 100.000 tấn Tại Tổ hợp Công nghiệp - Dịch vụ - Cảng biển Hải Hà, nơi đây cũng có điều kiện để xây dựng nhà máy đóng tàu công suất lớn (từ 150 đến 320 ngàn tấn/tàu)

Trang 32

Bằng việc tập trung đầu tư công nghệ kỹ thuật

đóng tàu hiện đại, Quảng Ninh đã vươn lên chế tạo

thành công những con tàu trọng tải 6.500 tấn, 12.500

tấn, tàu chuyên chở container 1.700 TEU Hiện nay,

tỉnh đang tiếp tục thực hiện dự án đầu tư nâng cấp mở

rộng sản xuất đến năm 2010 với các hạng mục như:

Xây dựng tàu 70.000 tấn; dây chuyền làm sạch và sơn

tổng đoạn; lắp ráp, máy ép thuỷ lực 1.000 và 1.500

tấn; dây chuyền sơ chế tôn 35.000 tấn/năm, khu vực

hoàn thiện tàu

Với tiềm năng và triển vọng ngành công nghiệp

tàu thủy của Quảng Ninh, trong một tương lai không

xa trên bản đồ công nghiệp tàu thủy Việt Nam sẽ bổ

sung thêm một trung tâm công nghiệp tàu thủy lớn

của cả nước đó là Quảng Ninh

Khởi sắc các khu công nghiệp

Khởi sắc đầu tiên là trong bối cảnh giảm phát,

Quảng Ninh vẫn thu hút được 9 triệu USD vốn đầu

tư trong 5 tháng đầu năm năm 2010, trong đó quý I

cấp được ba giấy chứng nhận đầu tư cho một dự án

đầu tư nước ngoài (sản xuất dây điện và cáp điện)

với tổng vốn là 4 triệu USD và hai dự án đầu tư trong

nước với số vốn 50 tỷ đồng (dự án sản xuất nước tinh

lọc - san chiết trung chuyển bia và sản xuất, gia công,

chế tạo chi tiết phụ tùng kim loại) Trong tháng 5, Ban

Quản lý Khu công nghiệp cũng xem xét để có thể cấp

giấy chứng nhận đầu tư mới cho 2 dự án: Nhà máy

sản xuất trục cán thép và dự án Gia công các loại vỏ

đồ hộp cao cấp Hai dự án này có vốn đầu tư trên 4

triệu USD, đầu tư vào Khu công nghiệp Hải Yên và Cái Lân Hiện tại, Ban Quản lý các Khu công nghiệp cũng đang tiến hành xúc tiến 2 dự án sản xuất đất hiếm, với số vốn 5 triệu USD do Trung Quốc đầu tư tại Khu công nghiệp Việt Hưng và dự án sản xuất hợp kim

có số số vốn 30 triệu USD của Đài Loan tại Khu công nghiệp Hải Hà…5 tháng đầu năm 2009, tổng doanh thu của khối này đạt con số tương đối khả quan là trên 50 triệu USD, doanh nghiệp trong nước đạt trên

200 tỷ đồng

Có được kết quả này là do tỉnh Quảng Ninh

đã có nhiều giải pháp, trong đó xúc tiến đầu tư

là hoạt động được đẩy mạnh Việc tăng cường công tác an ninh trật tự; an ninh kinh tế trong Khu công nghiệp cũng góp phần tạo môi trường sản xuất kinh doanh lành mạnh, góp phần tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong khu công nghiệp đẩy mạnh sản xuất, đóng góp đáng kể cho sự tăng trưởng kinh tế chung của toàn tỉnh.Được đánh giá là một vùng kinh tế năng động, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, hiện các khu, cụm công nghiệp trong tỉnh cũng đang có nhiều khởi sắc Trên địa bàn tỉnh đã hình thành một số Khu công nghiệp, Cụm công nghiệp tập trung, trên địa bàn tỉnh hiện có 5 Khu công nghiệp, trong đó có 3 Khu công nghiệp đang triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng và đã cho nhà đầu tư thứ cấp thuê lại đất để thực hiện dự án đầu tư (Khu công nghiệp Cái Lân, Việt Hưng và Hải Yên), 2 Khu công nghiệp khác đang triển khai giải phóng mặt bằng là Đông Mai

và Hải Hà

Khu công nghiệp Cái Lân: Phía Bắc giáp với vịnh Cửa Lục Phía Nam giáp quốc lộ 18A Phía Tây giáp với Cụm công nghiệp gốm xây dựng Giếng Đáy

và Ga tàu Hạ Long Phía Đông giáp với Cảng nước sâu Cái Lân có luồng tàu dài 27km, có khả năng tiếp nhận tàu trọng tải 40.000 tấn.có tổng diện tích 305,97 ha Khu công nghiệp Cái Lân có hệ thống cơ sở hạ tầng

Trang 33

đồng bộ: Hệ thống đường giao thông nội bộ và hệ

thống cấp thoát nước, trạm xử lý nước thải, hệ thống

cung cấp điện, hệ thống thông tin liên lạc hoàn chỉnh

Hiện nay, Cái Lân đã thu hút được 46 dự án với tổng

vốn đầu tư là 5.300 tỷ đồng và 215,29 triệu USD

Khu công nghiệp Việt Hưng: Là một Khu

công nghiệp sạch, thu hút các ngành nghề sản xuất

thuộc các lĩnh vực như: Lắp ráp, chế tạo cơ khí; sản

xuất vật liệu xây dựng; chế biến nông - lâm - thuỷ hải

sản và sản xuất hàng tiêu dùng Khu công nghiệp Việt

Hưng ra đời đã mở ra một triển vọng mới cho tỉnh

Quảng Ninh, đó là việc hình thành nên một Khu công

nghiệp tập trung, có hệ thống cơ sở hạ tầng đầu mối

đồng bộ, tạo nền tảng thúc đẩy các ngành kinh tế

trong tỉnh và khu vực phát triển nhanh chóng, đồng

đều và bền vững

Đặc biệt, Khu công nghiệp Việt Hưng nằm trong

quy hoạch chung cuả Thành phố Hạ Long mở rộng

tới năm 2020, đây là nơi hội tụ những yếu tố đặc biệt

thuận lợi cho việc phát triển sản xuất công nghiệp

Khu công nghiệp Hải Yên: Có vị trí nằm tiếp

giáp với Quốc lộ 18A, cách cửa khẩu quốc tế Móng Cái

6 km, với diện tích khoảng 200 ha và trong tương lai

gần tiếp tục mở rộng thêm 100 ha Tổng vốn đầu tư

cơ sở hạ tầng là 316,7 tỷ đồng Nhu cầu sử dụng lao

động trong khu công nghiệp dự kiến khoảng 10 nghìn

người Khu công nghiệp Hải Yên được áp dụng các

công nghệ cao với các ngành công nghiệp không gây

ô nhiễm môi trường như: Sản xuất vật liệu xây dựng,

trang trí nội thất, chế biến nông lâm sản, thực phẩm,

công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, các ngành may

thêu xuất khẩu, lắp ráp điện tử và các cơ sở sản xuất

công nghiệp khác

Nằm trong quy hoạch phát triển các khu công

nghiệp được Chính phủ phê duyệt, Khu Công nghiệp

Hải Yên có đầy đủ các lợi thế và có sức hấp dẫn lớn

đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước Với lợi thế

và trước làn sóng đầu tư được dự báo trong tương lai,

khu công nghiệp Hải Yên đang chuẩn bị mọi điều kiện

đầy đủ để chờ đón làn sóng đầu tư này

Khu công nghiệp Đông Mai: Có diện tích 200

ha thuộc xã Đông Mai, huyện Yên Hưng, là huyện ven

biển phía Tây Nam của Tỉnh Quảng Ninh Cách thành

phố Hạ Long 25 km và thành phố Hải Phòng 20 km

Phía Bắc giáp xã Uông Bí, phía Đông thông ra Vịnh

Hạ Long Đây là Khu công nghiệp không gây ô nhiễm môi trường với các nghành nghề sản xuất như: Vật liệu xây dựng, chế biến nông lâm sản, thực phẩm,đồ uống, cơ khí sữa chữa thiết bị, cơ khí chính xác,lắp máy, công nghiệp sản xuất thiết bị y tế, sản xuất hàng tiêu dùng, dệt may, phụ tùng xe máy và các cơ sở sản xuất công nghiệp khác

Khu công nghiệp - Cảng biển Hải Hà: Được khởi công xây dựng từ ngày 18-3-2007, tại khu vực Hòn Miều, huyện Hải Hà (lúc bấy giờ là Tổ hợp Công nghiệp - Dịch vụ - Cảng biển Hải Hà) Ngày 23-1-2008 được Thủ tướng Chính phủ đồng ý chủ trương đầu tư

và bổ sung vào danh mục các khu công nghiệp của cả nước Khu Công nghiệp này là một trong những trung tâm công nghiệp có quy mô hiện đại, làm động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và cơ sở giao thương kinh tế với các nước khu vực và quốc tế của tỉnh Quảng Ninh nói riêng, vùng Đông Bắc nói chung Khu công nghiệp đã tạo việc làm cho hàng ngàn lao động tại địa phương…

Bằng những chính sách, định hướng kịp thời, phù hợp cùng sự nỗ lực của các cấp, các ngành và nhân dân toàn tỉnh, đã góp phần đưa ngành công nghiệp Quảng Ninh phát triển ổn định trong nền kinh

tế hội nhập nhiều biến động Với những thành tựu đạt được và mục tiêu trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015, công nghiệp Quảng Ninh có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đưa Quảng Ninh trở thành trung tâm phát triển kinh tế - xã hội của khu vực Đông Bắc Bộ 

Khu công nghiệp Đông Mai

Trang 34

- small scale industries and rural industries is one of the major economic and social programs being implemented positively by the province and locality.

These impressive numbers

The first 6 months of 2010, industrial production

value of the whole province reached VND 13, 649.5

billion, equivalent to 49.93% plan and increasing

16.59% over the same period In which, playing an

important role and promoting the growth

of the whole industries and the industry is

the central with 26.5% value growth over

the same period One of the keys of this

industry is coal In the 6 first months of

2010, clean coal output reached 21.341

million tons, up 7.3% over the same

pe-riod, coal consumption reached 21.613

million tons, and electricity output reached

2.369 million kWh, up 4.7 times over the

same period

Along with that, since late of 2009,

many cement projects in the province

started production with output of about

0.3 million tons per month Typically, the

Thang Long Cement Plant with clinker kiln system designed capacity of 6,000 tons of clinker per day, equivalent to 1.89 million tons of clinker per year Ha Long Cement Plant, after a period of adjustment and testing so far the important item is finally complete

Trang 35

of PC40cement per year Most recently, after the first batch

of cement in nam, branded Cam Pha officially "leave"

Viet-to Africa, on 30/6/2010 the Cam Pha Cement start for another event that is exporting 15,000 tons of first clinker to the Middle East market

Striving to Become a Shipbuilding Center of the Whole Country

Quang Ninh has many advantages for the velopment of shipbuilding industry; this is the great potential and advantages for economic – social de-velopment, creates strength for province to speed up industrialization and modernization With the target in the end of 2010, production volume reached about 700 thousand tons of ship types, increasing 2.5 times over

de-2007 and 5.3 times higher than in 2006, the tion rate to reach from 30 to 40% per ship equipment, current shipbuilding units in Quang Ninh is focusing

localiza-on investment technology, improve the shipbuilding capacity associated with the development of auxiliary industry

Before the development requirements of the shipbuilding industry, many investment projects of supporting industries have been formed, such as ship

repair factory and industrial support for the ing industry is built on 128 hectares in area Song Khoai commune (Hung Yen) with the capacity to repair 20-

shipbuild-40 ships of up to 50 thousand tons per year, total investment 1485.6 billion, the project implementation period from 2008 to 2012 Manufacturing engine plant Vinashin - Man - Pha Rung was built on an area of 57 hectares Diesel Engines Installed and Producing Fac-tory for ships and cargo to 157 thousand tons with a capacity of 40 engines per year, total investment in VND 1491 billion, the project implementation period from 2008 to 2009 Between last April, ship repair fac-tory NOSCO - Vinaline was constructed in Yen Hung District Phase 1 is expected to the 2011 will fix ship 70,000 tons, phase 2 from 2012 to 2013 to repair ships over 100,000 tons The Industry - Services - Hai

Ha Seaport Combination, where also has the tions to build shipyard with large capacity (from 150

condi-to 320 thousand condi-tons per ship)

By focusing investment in shipbuilding ogy with modern techniques, Quang Ninh has suc-cessfully made the ship with tonnage of 6,500 tons,

Trang 36

technol-12,500 tons, container carriers 1,700 TEU Currently,

the province is continuing to implement investment

projects to upgrade and expand production in 2010

with such items as building ships 70,000 tons; line of

the cleaning and painting; assembly, hydraulic presses

1,000 and 1,500 tons; steel sheet preliminary

process-ing lines 35,000 tons per year, the region completed

the building of new ships Bac Cua Luc Other

ship-building enterprises are also investing in depth, step

by step development of auxiliary industries, improving

the capability to manufacture and installation of

elec-tronic equipment, navigation, control, and production

material for ship Decor, etc

With the potential and prospects for

shipbuild-ing industry in Quang Ninh, in a near future on a map

of Vietnam Shipbuilding Industry will add a center

of shipbuilding industry of the country that is Quang

Ninh

Flourish Industrial Parks

The first is to thrive in the context of deflation,

Quang Ninh has attracted $ 9 million invested in the

first 5 months of 2010, in which quarter I granted

investment certificates for an external investment

project (manufacturing electrical wire and cable) with

total capital of $ 4 million and two domestic

invest-ment projects with a capital of VND 50 billion (project

of producing pure water - extract and transfer beer;

producing, processing and manufacturing metal detail

parts.) In May, Industrial Zone Management Board is

also considering to issue certificates for two new

in-vestment projects: steel rollers factory and the project

of processing kinds of luxury canned food cover These

two projects have an investment over $ 4 million,

in-vesting in Hai Yen and Cai Lan Industrial Zone

Cur-rently, the Management Board of industrial zones are

also undertaking two projects of producing rare soil,

with a capital of $ 5 million by China invested in Viet

Hung Industrial Park and the project of production of

alloy with the capital of $ 30 million of Taiwan in Hai

Ha Industrial Park, etc The first five months of 2009,

the Total Avenue of this volume reached a relatively

optimistic, $ 50 million; domestic enterprises reached

VND 200 billion

Obtaining this result is due to Quang Ninh ince has many solutions; in which investment promo-tion is an activity to accelerate The strengthening of security and order, economic security in the Industrial Park also contributes to create healthy business envi-ronment, contribute to creating conditions for enter-prises in Industrial Zone to boost production, contrib-uted significantly to the economic growth of the whole Province

Prov-Considered as a dynamic economic region, with strong growth of the industry, currently, the industry parks in the province also have many profound The province has formed a number of Industrial Parks, Concentration Industrial Zones, the province currently has five Industrial Parks, including three Industrial Parks being developed on infrastructure and allowed secondary investment to lease land to implement in-vestment projects (Cai Lan, Vietnam Hung and Hai Yen Industrial Zone), two Industrial Parks being deployed

as ground clearance are Dong Mai and Hai Ha

Cai Lan Industrial Park: The North borders with the Cua Luc bay The South borders Highway 18A The West borders by the Gieng Day ceramics and building industrial and Ha Long Station The East borders with Cai Lan deepwater port 27km shipping channel, capable of receiving ships with tonnage of 40,000 tan; with total area of 305.97 hectares Cai Lan Industrial Zone has a synchronization infrastruc-ture system: the system of internal roads and drain-age systems, sewage processing station, power sup-ply systems, completed communications systems Currently, Cai Lan has attracted 46 projects with total investment of VND 5,300 billion and $ 215.29 million

Viet Hung Industrial Park: As a clean trial Park to attract manufacturing industries in fields such as assembly, mechanical fabrication, production

Indus-of construction materials, processing Indus-of agricultural

- forestry - fishery products and production of sumer goods Viet Hung Industrial Zone has launched

con-a new prospect for Qucon-ang Ninh province thcon-at is to form a concentrated Industrial Park, has sync clue in-frastructure system creating a foundation to promote

Trang 37

economic sector in the province and

region growing rapidly, evenly and

sus-tainably

Especially, Vietnamese Hung

In-dustrial Park is located in the general

plan of Ha Long City to expand in 2020;

this is a convergence of particularly

fa-vorable factors for the development of

industrial production

Hai Yen Industrial Park: is

located adjacent to Highway 18A, far

from the Mong Cai international border

gate 6 km, with an area of 200

hect-ares and in the near future continue

to expand by 100 ha Total investment

in infrastructure is VND 316.7 billion A

demand on employers in the Industrial

Park is expected about 10 thousand people Hai Yen

Industrial Park is applied to the high-tech for

indus-tries do not pollute the environment as the production

of building materials, furniture, agro-forestry

prod-uct processing, foods, consumer goods industry, the

export garment industries, electronics assembly and

other manufacturing industries

Being in the planned industrial development

zones approved by the Government, Hai Yen

Industri-al Park is full of advantages and is attractive for

inter-nal and exterinter-nal investors With such the advantages

and the wave of investment expected in the future,

the Hai Yen Industrial Park is preparing all conditions

to waiting for the wave of investment

Dong Mai Industrial Park: with an area of

200 hectares of Dong Mai Commune, Yen Hung

Dis-trict is the southwestern coastal disDis-tricts of Quang

Ninh Province It is far 25 km from Ha Long City and

20 km from Hai Phong city The North side Border

with Uong Bi, the East border to the Ha Long Bay

This Industrial Park is not polluting the environment

with manufacturing industries such as construction

materials, agro-forestry products, food, beverage and

repair of mechanical equipment, precision

engineer-ing, assembly plant, and the production of medical

equipment, manufacturing, consumer goods, apparel, motorcycle parts and and other industrial facilities production

Hai Ha Seaport Industrial Zone: It is structed from 18-3-2007, at the Hom Mieu area, Hai

con-Ha District (at that time was of a con-Hai con-Ha Industrial

- Service s - Seaport) On February 23rd 2008, the Prime Minister agreed to the investment policy and added to the list of industrial parks in the country This Industrial Park is one of the industrial centers of mod-ern scale, as a driving force of economic- social devel-opment and the basis of trading about economy with other countries and international areas of Quang Ninh

in particular and the North East in general The trial Park has created jobs for thousands of workers

Trang 38

Địa chỉ Vàng

cho các nhà đầu tư

Nằm ở vị trí trung tâm của chiến lược phát

triển “hai hành lang, một vành đai kinh tế”,

Quảng Ninh hiện đang là nơi hội tụ nhiều

điều kiện thuận lợi để phát triển trong thời

kỳ hội nhập Đồng thời, đây cũng là một

trong những tỉnh dẫn đầu cả nước về thu hút

nguồn vốn đầu tư trong và ngồi nước

Tiềm năng gắn liền với cơ hội

Quảng Ninh là tỉnh cĩ vị trí địa kinh tế đặc biệt

quan trọng và thuận lợi cho phát triển, nằm trong vị

trí trung tâm của hai hành lang kinh tế Cơn Minh - Lào

Cai - Hà Nội - Hải Phịng - Quảng Ninh; Nam Ninh -

Bằng Tường - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phịng - Quảng

Ninh và vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ, giờ đây

là hành lang kinh tế khu vực sơng Mêkơng (GMS)

Là địa phương duy nhất cĩ đường biên giới trên

biển với Trung Quốc (cửa khẩu quốc tế Mĩng Cái), tiếp

giáp một thị trường cĩ dân số đơng, kinh tế phát triển

năng động của tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), do vậy,

Quảng Ninh cĩ điều kiện thuận lợi trong khai thác, vận tải hàng hĩa khối lượng lớn Đặc biệt, khi các dự án đường cao tốc Nội Bài - Hạ Long - Mĩng Cái; sân bay quốc tế Vân Đồn, dự án đường sắt Yên Viên - Cái Lân hồn thành và đi vào hoạt động, hệ thống giao thơng kết nối Quảng Ninh với khu vực và thế giới sẽ đồng bộ

cả đường biển, bộ, sắt và đường hàng khơng

Với bờ biển dài 250 km, Quảng Ninh cĩ nhiều tiềm năng phát triển kinh tế biển như: Nuơi trồng, đánh bắt thủy hải sản Đặc biệt là phát triển cảng biển nước sâu cĩ quy mơ lớn như: Cảng Cái Lân đảm bảo tàu 3-5 vạn tấn ra vào thuận tiện, cơng suất thơng qua cảng từ 18-21 triệu tấn/năm Cụm cảng Hải Hà với độ sâu luồng từ 10-22m, cho phép tiếp nhận tầu đến 150.000 tấn Đặc biệt, thắng cảnh Vịnh Hạ Long, từng hai lần được UNESCO cơng nhận di sản thiên nhiên thế giới, với quần thể gần hai nghìn hịn đảo lớn nhỏ cùng nhiều địa danh du lịch nổi tiếng như: Khu di tích Yên Tử, Khu di tích nhà Trần ở Đơng Triều, Cụm Quảng Ninh

Trang 39

cho các nhà đầu tư

di tích Chiến thắng Bạch Đằng… Sự tập trung với mật

độ cao các thắng cảnh và di tích văn hoá lịch sử cùng với khí hậu mát lành là điều kiện thuận lợi để Quảng Ninh phát triển các loại hình du lịch hấp dẫn cả trên biển, đất liền và hải đảo

Với các loại khoáng sản phong phú như: Than

đá (trữ lượng 3,5 tỷ tấn); đá vôi (trữ lượng 3,1 tỷ tấn); sét xi măng (trữ lượng 200 triệu tấn); cao lanh (150 triệu tấn); cát trắng đạt tiêu chuẩn sản xuất thủy tinh cao cấp (7,2 triệu tấn) Quảng Ninh còn là trung tâm công nghiệp khai thác than; công nghiệp đóng tàu; sản xuất vật liệu xây dựng; sản xuất nhiệt điện lớn nhất miền Bắc Việt Nam

Theo quy hoạch phát triển các khu công nghiệp (KCN) đến năm 2010 và định hướng đến 2020, tỉnh Quảng Ninh sẽ có 11 KCN với tổng diện tích hơn 12.000 ha, trong đó: 6 KCN đã hình thành với tổng diện tích gần 7.000 ha; 3 KCN đang chuẩn bị đầu tư với tổng diện tích gần 5.000 ha; 2 KCN dự kiến phát triển với tổng diện tích 700 ha; Đặc biệt, Khu kinh tế Vân Đồn, Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Móng Cái hiện đang được hưởng các chính sách ưu đãi đặc biệt và cao nhất của Việt Nam hiện nay

Tình hình kinh tế - xã hội có nhiều chuyển biến

Phát huy những lợi thế và xác định hướng đi đúng đắn, những năm qua tốc độ phát triển kinh tế tỉnh Quảng Ninh luôn duy trì ở mức cao và ổn định, bình quân đạt trên 10%/năm Năm 2009, do ảnh

hưởng của vấn đề suy thoái kinh tế, song tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn đạt 10,3% và GDP bình quân đầu người ước đạt 1.273 USD (cao hơn so với mức bình quân cả nước là 1.099 USD) Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp - dịch

vụ - nông nghiệp

Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 10 tháng năm 2010 đạt 1.774,5 triệu USD, đạt 85,3% kế hoạch năm (2.079,7 triệu USD) và tăng 16,2% so với cùng

kỳ Hoạt động du lịch có nhiều cố gắng, trong bối cảnh suy thoái kinh tế thế giới, lượng khách quốc tế giảm, nhưng lượng khách trong nước lại tăng cao Tính chung 10 tháng, tổng số khách du lịch đến Quảng Ninh ước đạt 5,865 triệu lượt, đạt 117,3% kế hoạch năm (5 triệu lượt) và tăng 38% cùng kỳ Tổng doanh thu du lịch 10 tháng ước đạt 2.989,3 tỷ đồng, bằng 99,6% kế hoạch năm (3.000 tỷ) và tăng 29% so với cùng kỳ

Trong năm 2009, dù ảnh hưởng nặng nề bởi khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế nhưng tỷ

lệ giải ngân vốn xây dựng cơ bản của Quảng Ninh đã đạt 170%, đưa Quảng Ninh trở thành tỉnh đầu tiên của cả nước hoàn thành 100% kế hoạch giải ngân, về đích trước nửa năm so với kế hoạch Đây là kết quả từ

sự đồng lòng nhất trí của cả hệ thống chính trị; sự tư tuy, đổi mới trong cách nghĩ, cách làm của các cấp uỷ, chính quyền về tạo nguồn, ứng vốn để giải ngân vốn xây dựng cơ bản Nhiều giải pháp phù hợp đã giúp các doanh nghiệp có điều kiện thuận lợi hơn trong đầu tư, tạo động lực cho việc huy động vốn đầu tư phát triển

Trang 40

tiếp tục tăng, trong đó đầu tư từ nguồn vốn trong

nước chiếm tỷ trọng lớn

Những tiềm năng lợi thế cũng như tình hình

phát triển kinh tế - xã hội ổn định, cùng những nỗ lực

không ngừng trong chính sách thu hút, mời gọi đầu tư

của lãnh đạo tỉnh nhà đã đưa Quảng Ninh trở thành

một trong những địa chỉ hấp dẫn đầu tư nhất cả nước

trong những năm qua

Những chuyển biến trong hoạt động thu

hút đầu tư

Trong xu hướng hội nhập kinh tế thế giới, với

mục tiêu khai thác có hiệu quả và bền vững các tiềm

năng và lợi thế của riêng mình, tỉnh Quảng Ninh luôn

coi trọng thu hút các nguồn lực để phát triển trên các

lĩnh vực:

Về lĩnh vực đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng: Đây

là lĩnh vực Quảng Ninh hết sức ưu tiên, khuyến khích

và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hợp tác

đầu tư, xây dựng hạ tầng giao thông, các KCN, cửa

khẩu, khu phi thuế quan, khu kinh tế và khu đô thị

Tỉnh cũng tập trung vào các dự án đầu tư hạ tầng cơ

sở, phát triển công nghiệp, du lịch chất lượng cao, công nghệ cao, có thể kéo được nhiều dự án vệ tinh

và giải quyết việc làm cho nhiều lao động; thực hiện tốt công tác vận động xúc tiến đầu tư vươn rộng ra các nước trong khu vực và trên thế giới Đặc biệt, các

dự án xây dựng: Sân bay quốc tế Vân Đồn; Đường cao tốc Mông Dương - Móng Cái; các dự án trong KCN

Về lĩnh vực thương mại - du lịch - dịch vụ:

Khuyến khích đầu tư xây dựng các Khu trung tâm thương mại quốc tế, khu kinh tế cửa khẩu, Trung tâm phân phối và siêu thị bán lẻ, hình thành trung tâm trung chuyển hàng hóa, phát triển các dịch vụ vận tải, logistic khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư xây dựng khách sạn, resort, công viên giải trí, mở các tour và các dịch vụ du lịch chất lượng cao, mới lạ, đặc sắc và các loại hình dịch vụ cao cấp tại thành phố

Hạ Long, Móng Cái, các đảo thuộc Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long…

Thời quan qua, môi trường đầu tư của tỉnh tiếp tục được cải thiện Sự phối hợp đồng bộ giữa các

cơ quan Trung ương, các sở, ban, ngành và các địa

Ngày đăng: 10/06/2021, 18:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w