1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI dự THI tìm HIỂU 750 THIÊN TRƯỜNG NAM ĐỊNH

18 185 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 141 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kháng chiến chống TD Pháp 1946 - 1954 Với cuộc Cách mạng Tháng Tám, chính quyền mới đã được thiết lập, nhân dân ta đã được giải phóng khỏi ách áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiếna.

Trang 1

BÀI DỰ THI TÌM HIỂU 750 NĂM THIÊN TRƯỜNG - NAM ĐỊNH

Họ và tên: NguyÔn ThÞ TuyÕt

Năm sinh: 1972 Giới tính: N

Nghề nghiệp: Giáo viên

Đơn vị công tác : Trường tiểu học Giao L¹c

Số điện thoại: 01658 772 687

BÀI LÀM

Câu 1: Triều Trần ra đời trong hoàn cảnh nào? Thời gian tồn tại của nhà Trần? Kể tên các đời vua Trần?

- Đến cuối thế kỉ XII nhà Lý ngày càng suy yếu Chính quyền không chăm lo đến đời sống của nhân dân;nội bộ triều đình mâu thuẫn, nhân dân sống khổ cực; nhiều nơi dân nghèo nổi dậy đấu tranh.Quân xâm lược phương Bắc thường xuyên rình rập.Vua Lý phải dựa vào họ Trần mới giữ được ngai vàng Từ đó mọi việc trong triều đình đều do Trần Thủ Độ quyết định.Lý Huệ Tông không có con trai, truyền ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng mới 7 tuổi Trần Thủ Độ tìm cách để Chiêu Hoàng lấy Trần Cảnh rồi nhường ngôi cho chồng đầu năm 1226 Nhà Trần được thành lập

- Triều Trần tồn tại từ năm 1226 đến năm 1400 qua 12 đời vua với 175 năm Ngoài ra còn có 2 vị vua thời hậu trần

- Các đời vua nhà Trần là:

1 Trần Thái Tông 1226-1258

2 Trần Thánh Tông 1258-1278

3 Trần Nhân Tông 1279-1293

4 Trần Anh Tông 1293-1314

5 Trần Minh Tông 1314-1329

6 Trần Hiến Tông 1329-1341

7 Trần Dụ Tông 1341-1369

8 Trần Nghệ Tông 1370-1372

Trang 2

9 Trần Duệ Tông 1372-1377

10 Trần Phế Đế 1377-1388

11 Trần Thuận Tông 1388-1398

12 Trần Thiếu Đế 1398-1400

Câu 2: Sự ra đời của địa danh phủ Thiên Trường? Vai trò vị thế của “Hành cung Thiên Trường” trong quốc gia Đại Việt thế kỉ XIII - XIV?

a Sự ra đời của phủ Thiên Trường:

Theo sử sách ghi lại, Quê gốc hoàng tộc Trần ở hương Tức Mạc, phường Lộc Vượng (TP Nam Định), là một vùng đất có địa thế đẹp, sông lớn bao bọc ba mặt Từ thời Lý, đây là một trung tâm kinh tế văn hóa phát triển Ngay tại Tức Mặc, thời Lý

đã có chùa Phổ Minh, một danh lam nổi tiếng với đỉnh đồng kì vĩ được xếp vào hàng “tứ đại khí” của nước Đại Việt Vốn sống bằng nghề đánh cá, cư dân họ Trần thường sinh sống làm ăn ở những vùng cửa sông ven biển, đến đời Trần Lý (ông nội của vua Trần Thái Tông) đã trở thành một cự tộc có thế lực vùng Hải Ấp Năm

1029, khi trong triều có biến loạn, Vua Cao Tông phải chạy lên Quy Hóa, Hoàng tử Sảm chạy về Hải Ấp đã được gia đình Trần Lý giúp đỡ Trong thời gian này, Hoàng

tử Sảm kết duyên cùng Trần Thị Dung, con gái thứ 2 của Trần Lý Họ Trần tập hợp hương binh giúp nhà Lý dẹp loạn, diệt trừ Quách Bốc (thuộc tướng của Phạm Bỉnh Di) đưa vua Lý trở lại Minh Tự, cậu ruột Trần Thị Dung là Tô Trung Từ làm Điện tiền chỉ huy sứ Năm 1210, Vua sai Đỗ Quảng đến đón Hoàng tử Sảm trở về kinh nhưng chưa được phép đem theo người vợ họ Trần Khi ấy Trần Lý bị một phe phái nổi loạn giết hại, người con thứ là Trần Tự Khánh được vua Lý phong tước Thuận Lưu Bá Uy thế họ Trần bắt đầu được đề cao từ khi Hoàng tử Sảm (sau này là Lý Huệ Tông) lên ngôi vào năm 1211 Ông cho đón Trần Thị Dung về cung lập làm nguyên phi Lúc này Tô Trung Từ được phong thái úy phụ chính Tuy thuộc họ ngoại nhưng ông sớm nhận ra vị trí quan trọng của vùng đất quê hương nhà Trần Ngay năm đó, với tư cách một đại quan đầu triều, Trung Từ đã dến Nguyễn Gia Trang (nay thuộc làng Vị Khê, xã Điền Xá, huyện Nam Trực) một vùng có địa thế

đẹp và cư dân sầm uất từ thời Lý, cho xây dựng tại đây một hành cung để vua và

hoàng tộc có thể nghỉ lại mỗi khi đi kinh lý Ông còn cho xây một tòa thành kiên cố gần chợ Bình Giã và cho khơi một con sông, tạo thành con đường giao thông thuận tiện cho các thương lái có thể đi thuyền thẳng từ biển vào chợ Dấu vết con sông này là sông Châu Thành nối sông Hồng với sông Ninh Cơ chảy qua Điền Xá

Thời gian đầu, Tức Mặc đơn thuần chỉ là quê cha, đất Tổ, chỉ có hành cung và Tiên miếu để vua về làm lễ hằng năm Làng cũ ven sông Hoàng Giang với những con đường cát phẳng mịn của vùng giáp biển, mát rượi cây cối xanh tươi, trù phú đã

Trang 3

thành "quý hương" của các vua Trần Mười bốn năm sau (năm 1239), vua Trần Thái Tông, lúc đó đã 22 tuổi "… nghĩ đến Tức Mặc là nơi làng cũ của mình, nên hạ lệnh cho Phùng Tá Chu làm Nhập nội Thái phó, dựng hành cung ở đây để thường thời đến chơi" Thiên Trường bắt đầu được đầu tư xây dựng theo quy mô của bậc đế vương

Đại Việt sử ký toàn thư lần đầu tiên ghi nhận hành cung Thiên Trường là vào năm 1262: “Mùa xuân, tháng 2, thượng hoàng ngự đến hành cung Tức Mặc, ban tiệc lớn Các hương lão từ 60 tuổi trở lên, mỗi người được ban tước hai tư, đàn bà được hai tấm lụa Đổi hương Tức Mặc làm phủ Thiên Trường, cung gọi là Trùng Quang Lại xây riêng một khu cung khác cho vua nối ngôi ngự khi về chầu, gọi là cung Trùng Hoa…” Theo quy định của nhà Trần, người được cử làm An Phủ sứ phủ Thiên Trường phải là những viên quan đã từng kinh qua An Phủ sứ cấp lộ, sau đó mới được khảo duyệt xem có đủ tài đức mới được bổ nhiệm Nguyễn Trãi chép trong “Dư địa chí”: Phủ Thiên Trường có 4 huyện: Giao Thuỷ (có 79 xã, 33 trang), Nam Chân (có 109 xã, 6 thôn), Mỹ Lộc (có 51 xã) và Thượng Nguyên (có 78 xã) Như vậy, phủ Thiên Trường khá rộng và hành cung Tức Mặc - Thiên Trường là thủ phủ Nhà vua cho xây dựng cung Trùng Quang, làm nơi dành riêng cho các Thượng hoàng về ở sau khi nhường ngôi cho con Bên cạnh cung Trùng Quang lại cho dựng cung Trùng Hoa làm nơi dành riêng cho nhà vua ngự mỗi khi về thăm, yết kiến Thượng hoàng Chùa Phổ Minh được xây dựng từ thời nhà Lý, được trùng tu lại cho tương xứng với quần thể kiến trúc mới, có một thời từng là trung tâm Phật giáo ở nước ta Chùa xây theo kiểu nội công ngoại quốc Tháp Phổ Minh được xây dựng vào đầu thế kỷ XII cao 14 tầng, tầng trệt bằng đá xanh, hình một cỗ kiệu, 13 tầng trên xây bằng gạch đỏ, được nung bằng cỏ, rắn chắc và bóng giống như sành sứ, rêu không bám được, chịu mưa nắng Tháp Phổ Minh là nơi đặt một phần xá lỵ của Đức Vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông Hành cung Thiên Trường từ đó xuất hiện những công trình kiến trúc có quy mô vương giả: Ở nội cung, có hai cung Trùng Quang, Trùng Hoa; ngoại cung có các cung Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ, xung quanh xây dựng các phủ đệ, dành cho các vương phi, quan lại, sắc dịch thuộc bộ máy giúp việc Thượng hoàng

b.Vai trò vị thế của hành cung Thiên trường:

-Về chính trị: Là cơ sở đảm bảo cho chế độ Thái Thượng Hoàng của nhà Trần,

là trung tâm quyền lực thứ 2 (sau Thăng Long) gắn kết chặt chẽ với Thăng Long của quốc gia Đại Việt vào thế kỉ XIII - XIV

-Về quân sự: Thể hiện tầm nhìn chiến lược của các vua Trần về một hậu cứ, hậu phương quan trọng trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên

Trang 4

-Về giáo dục: Là trung tâm giáo dục với các thiết chế và chế độ thi cử.

- Về kinh tế: Phát triển kinh tế điền trang thái ấp, với chính sách: Ngụ binh ư nông, phát triển kinh tế tiểu thương, nông nghiệp, thực hiện chính sách khai khẩn đất đai

- Về văn hóa: Là một trung tâm hình thành, phổ biến, phát triển Phật giáo phái Trúc Lâm Văn hóa Thiên Trường đã góp phần phát triển nền văn minh Đại Việt vào thế kỉ XIII - XIV

Câu3: Những hiểu biết của bạn về 3 lần quân dân Đại Việt chống quân xâm lược Mông - Nguyên thời Trần? Nguyên nhân thắng lợi và bài học lịch sử?

Lúc đó quân xâm lược Mông - Nguyên đang tung hoành khắp châu Âu, châu

Á Khi quân Mông - Nguyên tràn vào nước ta, lo nghĩ trước sức mạnh của quân xâm lược, vua Trần đã hỏi Trần Thủ Độ nên đánh hay nên hòa Trần Thủ Độ khẳng khái trả lời: Đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo Trong cuộc kháng chiến lần thứ 2, vua Trần mời các bô lão về kinh đô thăng long, ở điện Diên Hồng, để hỏi kế đánh giặc Trả lời câu hỏi của vua: Nên đanh hay nên hòa, điện Diên Hồng vang lên tiếng hô đồng thanh các các bô lão: Đánh Ý chí quyết chiến với giặc đã dược toàn dân hưởng ứng Trần Hưng Đạo, người chỉ huy tối cao của cuộc kháng chiến đã viết Hịch tướng sĩ, trong đó có câu: Dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng… Lời hịch đã khích lệ mọi người Các chiến sĩ tự thích vào tay 2 chữ: SAT THAT (Giết giặc Mông Cổ)

Cả 3 lần Trước cuộc tấn công của hàng vạn quân giặc, vua tôi nhà Trần đều chủ động rút khỏi kinh thành Thăng Long Quân xâm lược Mông – Nguyên vào được Thăng Long nhưng không tìm thấy bóng 1 người không một chút lương ăn Chúng điên cuồng phá phách nhưng chỉ thêm mệt mỏi và dói khát Chính lúc đó quân ta tấn công quyết liệt vào thành Thăng Long Lần thứ nhất chúng cắm cổ rút chạy không còn hung hăng cướp phá như khi vào xâm lược Lần thứ 2, tướng giặc là Thoát Hoan phải chui vào ống đồng để thoát thân Lần thứ 3 quân ta chặn đường rút lui của giặc, dùng kế cắm cọc gỗ tiêu diệt chúng trên sông Bạch Đằng Sau 3 lần đại bại, quân Mông -Nguyên không dám sang xâm lược nước ta nữa

Cuộc kháng chiến của quân dân Đại Việt là cuộc chiến tranh vệ quốc chính nghĩa nên được sự ủng hộ của moị giai tầng trong xã hội Nhà Trần đã phát huy được tinh thần yêu nước, đoàn kết kháng chiến của bách dân trăm họ Bên cạnh đó

có những con người lãnh đạo đầy tài năng với nghệ thuật quân sự mưu lược, sáng tạo

Bài học lịch sử mà cuộc kháng chiến để lại đó là: Đoàn kết thống nhất chặt chẽ trong vương triều, dòng họ, toàn dân Ý chí quyết tâm bảo vệ bờ cõi Lấy dân làm

Trang 5

gốc, dựa vào dân để tiến hành kháng chiến, cùng với nghệ thuật quân sự mưu lược sáng tạo

Câu 4: Những đóng góp nổi bật trong kháng chiến chống TD Pháp và đế quốc

Mĩ, thành tựu trong đổi mới và hội nhập?

a Kháng chiến chống TD Pháp (1946 - 1954)

Với cuộc Cách mạng Tháng Tám, chính quyền mới đã được thiết lập, nhân dân

ta đã được giải phóng khỏi ách áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến Nhưng nằm trong tình hình chung của cả nước, sau khi chính quyền cách mạng được thành lập, Đảng bộ và nhân dân Nam Định cũng phải đối phó với nhiều khó khăn phức tạp Thù trong giặc ngoài đe dọa, tình hình đất nước ở vào thế ngàn cân treo sợi tóc

Về kinh tế, mọi ngành sản xuất đều sút kém, đình đốn Sản xuất nông nghiệp suy giảm, ruộng đất hoang hóa nhiều Hàng hóa khan hiếm, nạn đầu cơ tích trữ phát triển Về tài chính, ngân quỹ, kho bạc nói chung không còn gì Giữa lúc đó, các thế lực đế quốc núp dưới danh nghĩa quân Đồng minh để tước vũ khí quân đội Nhật cũng tràn vào từ hai đầu đất nước Thực chất là chúng muốn lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ

Về phía chủ quan, Đảng bộ Nam Định còn thiếu kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo chính quyền Các tổ chức quần chúng, lực lượng vũ trang địa phương, tổ chức đảng ở cơ sở nhất là ở xã còn ít, trang bị nghèo nàn chưa đáp ứng được yêu cầu cấp bách của phong trào cách mạng trong giai đoạn mới

Thuận lợi cơ bản nhất đối với chính quyền cách mạng non trẻ là được sự ủng

hộ mạnh mẽ của quần chúng Trong mọi hoàn cảnh, các tầng lớp nhân dân Nam Định nói riêng và cả nước nói chung luôn vững tin vào Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Minh, sẵn sàng đem tính mạng và của cải để bảo vệ độc lập dân tộc và bảo vệ chế độ mới

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập phiên họp đầu tiên của Hội đồng chính phủ, đề ra sáu nhiệm vụ

cấp bách cần phải làm ngay Ngày 25-11-1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc, khẳng định “Cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc

cách mạng dân tộc giải phóng Cuộc cách mạng ấy đang tiếp diễn, nó chưa hoàn thành, vì nước chưa được hoàn toàn độc lập”

Vì vậy, nhiệm vụ cấp bách và quan trọng hàng đầu của Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh là dồn toàn lực vào việc xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân trước

sự tiến công thâm độc của những kẻ thù có tiềm lực quân sự lớn mạnh, tàn ác và nguy hiểm

Trang 6

Nhờ sự ủng hộ, đồng tình của nhân dân, cuộc bầu cử Quốc hội khóa I và Hội đồng nhân dân các cấp diễn ra một cách tốt đẹp Ngày 6-1-1946, gần 100% số cử tri

đã đi bỏ phiếu bầu cử Quốc hội, trong số 36 vạn cử tri có tới 33 vạn cử tri bỏ phiếu tín nhiệm cho những người Mặt trận Việt Minh giới thiệu Ngày 20-1-1946, cử tri Nam Định nô nức đi bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và tiến hành bầu cử hội đồng nhân dân cấp xã vào ngày 18-3-1946

Ngày 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Nam Định, chiều ngày

10-1-1946, Chủ tịch đã nói chuyện với thân mật với đại biểu các tâng lớp nhân dân, đại biểu các tôn giáo và cán bộ các ngành, các giới trong tỉnh Bảy giờ sáng ngày

11-1-1946, trước hơn một vạn cán bộ, bộ đội và nhân dân Bác ân cần nhắc nhở mọi người phải đoàn kết, thương yêu nhau, chăm lo, mọi mặt công tác, ủng hộ Chính phủ Đây

là lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Nam Định Những lời chỉ bảo ân cần của Người đã để lại ấn tượng sâu sắc và cổ vũ Đảng bộ, nhân dân Nam Định đoàn kết, phấn đấu, khắc phục những khó khăn trở ngại, tiếp tục đi lên trong giai đoạn mới của cách mạng

Với sự nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ và quân dân trong tỉnh, những khó khăn bước đầu đã dần được khắc phục, đời sống nhân dân ổn định, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở được củng cố, giữ vững; quân và dân Nam Định có điều kiện bước vào cuộc kháng chiến lâu dài, chống thực dân Pháp xâm lược

Chiến đấu giam chân địch trong thành phố, chuẩn bị kháng chiến lâu dài.

Trước dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí

Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến Cũng trong tháng 12-1946, Trung ương Đảng ra Chỉ thị toàn dân kháng chiến, vạch ra những nét lớn về đường lối kháng

chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và tự lực cánh sinh

24h ngày 19-12-1946, cả thành phố Nam Định rền vang tiếng súng mở đầu cuộc kháng chiến chống xâm lược Cuộc chiến đấu của ta nhằm kiềm chế, tiêu hao sinh lực địch trong thành phố diễn ra dài ngày và mỗi lúc một ác liệt hơn Ta và địch đánh lấn, giành nhau từng căn nhà, góc phố từng nhà máy, xí nghiệp Trong cuộc chiến đấu không cân sức ấy đã xuất hiện nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm, không sợ hy sinh, quyết tâm giết giặc lập công Điển hình là Đoàn Bạch Hạc -Chính trị viên trung đội (thuộc Tiểu đoàn 69), Triệu Hàn - -Chính trị viên trung đội (thuộc Tiểu đoàn 69), Phạm Sơn - công nhân vận chuyển, tự vệ Nhà máy sợi mới tình nguyện vào bộ đội thuộc Tiểu đoàn 75, nữ chiến sĩ cứu thương Nguyễn Thị

Ca Trong trận cuối cùng địch đánh giải vây thành phố (10-3-1947) có bốn anh em ruột cùng chiến hào đã anh dũng hi sinh khi chiến đấu đến viên đạn cuối cùng là Tạ Quang Khải, Tạ Hồng Quang, Tạ Quang Thuấn, Tạ Quang Đức

Trang 7

Ngày 6-1-1947, quân dân Nam Định đánh thắng cuộc hành quân chi viện quy

mô lớn của địch, chiến thắng to lớn này đã được Hồ Chủ Tịch thay mặt Quốc hội và

Chính phủ điện khen ngợi và quyết định tặng Trung đoàn 34 danh hiệu Trung đoàn tất thắng Hội nghị quân sự toàn quốc (họp từ ngày 12 đến ngày 16 - 1 -1947) đã

khen ngợi chiến công của nhân dân Nam Định và nêu gương anh dũng chống thuỷ, lục, không quân địch

Sau 86 ngày đêm liên tục chiến đấu, quân dân Nam Định đã kìm chế, giam chân một lực lượng lớn quân viễn chinh Pháp, giết và làm bị thương 400 tên, trong

đó có nhiều sĩ quan và lính Âu - Phi, bắt sống sáu tên, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng Cùng với Hà Nội, và một số thành phố, thị xã khác ở Bắc Bộ, cuộc chiến đấu của quân dân Nam Định đã làm thất bại âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp, góp phần cùng cả nước có thêm thời gian củng cố và xây dựng lực lượng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài Qua chiến đấu ác liệt, lực lượng kháng chiến tại Nam Định vẫn được bảo toàn và ngày càng trưởng thành

Xây dựng làng chiến đấu, củng cố hậu phương, chống địch lấn chiếm (1947 tới 10-1949)

Sau khi chiếm được mấy thành phố trống rỗng, thực dân Pháp tiếp tục xua quân sang Đông Dương Mục tiêu của chúng trong thời gian này là chiếm lấy những đường giao thông chính, lập vành đai bảo vệ thành phố, thị xã, trên cơ sở đó đánh nống ra tiêu diệt lực lượng kháng chiến và nhanh chóng kết thúc chiến tranh

Ở Nam Định, thực hiện âm mưu mở rộng chiếm đóng theo chiến thuật vết dầu loang, địch đã mở nhiều cuộc càn quét xung quanh thành phố để khủng bố nhân dân, phá cơ sở, gây tâm lý cầu an; dụ dỗ, thúc ép dân hồi cư và đẩy lực lượng ta ra ngoài Từ tháng 4 đến tháng 6-1947, chúng đã đóng thêm một số vị trí ngoài thành phố như Đò Quan, Vạn Diệp (Nam Phong, Nam Trực), Đệ Nhất (Mỹ Trung), Bảo Long (Mỹ Hà), Lê Xá (Mỹ Thịnh) thuộc huyện Mỹ Lộc và Xuân Mai (Bình Lục, Hà Nam) Cũng trong thời gian này, địch còn tổ chức một số trận đánh ra vùng tự do để khủng bố tinh thần nhân dân, cướp bóc lương thực, thực phẩm và để vây quét lực lượng của ta, nhưng đều bị đánh trả đích đáng như các trận chợ Dần (Vụ Bản) ngày 31-3-1947, trận Lê Xá (Mỹ Thịnh, Mỹ Lộc), Núi Ngăm (huyện Vụ Bản) ngày

2-5-1947, trận Đại Đê (Vụ Bản) ngày 1-6-2-5-1947, trận Quang Sán (Mỹ Lộc) tháng 7-1947…

Vừa cơ động chiến đấu, các đơn vị bộ đội vừa đưa một bộ phận lực lượng về các địa phương hỗ trợ, phát triển chiến tranh du kích Năm 1947, bộ đội chủ lực đánh 75 trận, bộ đội địa phương đánh 24 trận, dân quân, du kích đánh 40 trận.Tiêu

Trang 8

biểu cho thành tích chiến đấu là đội du kích Mai Mỹ (Thành Mỹ) đã được Đại hội Đảng bộ tỉnh biểu dương

Nhân dân các vùng bị địch uy hiếp tổ chức triệt phá cầu, đường, đắp ụ ngăn cơ giới của địch thực hiện khẩu hiệu vườn không, nhà trống khi địch tới Việc rào làng kháng chiến chống địch càn quét cũng được tiến hành ở nhiều địa phương Đến tháng 10-1949, toàn tỉnh đã xây dựng được 90 làng chiến đấu Đến tháng 9-1949, du kích toàn tỉnh có hơn 45.000 người; cuối năm 1949, đã có 20 trung đội du kích Phong trào tòng quân giết giặc cứu nước sôi nổi khắp các địa phương Năm 1949,

có gần 9.000 người ghi tên tòng quân, bộ đội địa phương đến tháng 3-1948 từ một Đại đội Đề Thám đã xây dựng thêm tiểu đoàn Duyên Hải

Từ phong trào thi đua ái quốc, Đảng bộ đã phát động phong trào tăng gia sản xuất, thực hiện kinh tế tự túc, tự cấp Hai vụ lúa chiêm – mùa năm 1948 đều khá tốt, tổng sản lượng 227.000 tấn thóc (năm 1947 là 222.000 tấn) Sản lượng muối tăng tương đối nhanh, đáp ứng yêu cầu lớn của kháng chiến Công nghiệp và thủ công nghiệp cũng được đẩy mạnh như các nghề kéo sợi, dệt vải, dệt lụa ở Vụ Bản, Hải Hậu, Nghĩa Hưng, nghề làm giấy, thuỷ tinh, thuộc da, đúc gang, đồng, làm ngòi bút

ở Ý Yên, Hải Hậu, Trực Ninh… Trong khói lửa chiến tranh, phong trào bình dân học vụ tiếp tục phát triển mạnh Đến tháng 10-1949, toàn tỉnh đã có 250.908 người thoát nạn mù chữ Toàn tỉnh có 341 trường tiểu học với 16.789 học sinh Ngoài trường trung học Nguyễn Khuyến đã có thêm sáu trường tư thục Năm 1948, tỉnh đã thành lập các ban y tế xã, tám trạm cứu thương, 30 nhà hộ sinh, duy trì tốt hoạt động khám chữa bệnh cho nhân dân và bộ đội, năm 1948 đã chữa cho 1.740 người bệnh Những kết quả trên đã làm cho đời sống kinh tế văn hoá, xã hội của nhân dân trong tỉnh được cải thiện từng bước trong quá trình kháng chiến kiến quốc, động viên mọi người hăng hái sản xuất và phục vụ chiến đấu

Từng bước phát triển lực lượng, chống địch mở rộng chiếm đóng, giải phóng quê hương (10-1949-> 7-1954).

Thắng lợi của cách mạng Việt Nam cùng với những thắng lợi của quân, dân Lào, Camphuchia trên chiến trường Đông Dương năm 1949 đã đẩy quân Pháp vào thế sa lầy, đế quốc Mỹ lợi dụng can thiệp sâu vào chiến tranh Đông Dương

Ngày 18-10-1949, quân Pháp cho 6 tàu chiến, 2 canô chở hai tiểu đoàn theo sông Hồng đổ quân lên Hạc Châu, Liêu Đông (Xuân Trường) đánh chiếm Hành Thiện, Bùi Chu (nơi có toà giám mục) Chúng cấu kết với bọn cầm đầu phản động đội lốt đạo Thiên Chúa để bọn này tiếp tay đắc lực cho chúng Từ tháng 10-1949 đến đầu năm 1952, nhân dân sáu huyện phía nam Nam Định bước vào thời kỳ “Hai năm, bốn tháng” đầy đau thương và uất hận

Trang 9

Trước tình hình đó, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Liên khu 3, tỉnh

uỷ Nam Định đã chỉ đạo các địa phương nghiêm túc rút kinh nghiệm, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm, đề ra các phương án củng cố, xây dựng lực lượng và tác chiến phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ mới Các Đảng bộ kịp thời uốn nắn nhgững nhận thức không đúng đắn, cử cán bộ trở về cơ sở bán đất, xây dựng lại phong trào, từng bước vạch rõ âm mưu lợi dụng tôn giáo, chia rẽ lương - giáo của kẻ thù; củng cố, phát triển lực lượng vũ trang địa phương, dân quân, du kích, làm nòng cốt cho phong trào toàn dân đánh giặc

Cuối tháng 4-1951, theo chủ trương của Đảng, Bộ Tổng tư lệnh mở Hội nghị tổng kết chiến dịch Hoàng Hoa Thám và quyết định mở chiến dịch Quang Trung (tức chiến dịch Hà – Nam – Ninh) nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, phá một mảng nguỵ, quân nguỵ quyền, tạo điều kiện cho việc phục hồi cơ sở, phát triển chiến tranh du kích và bảo vệ tài sản, tính mạng, mùa màng của nhân dân Đêm 28 rạng 29-5-1951, Đại đoàn 308 cùng bộ đội địa phương, dân quân, du kích

nổ súng tiến công cứ điểm Đại Phong và Non Nước (Thị xã Ninh Bình) mở màn chiến dịch

Tại hướng Nam Định, vừa đánh địch, vừa rút kinh nghiệm, khắc phục những khó khăn, yếu kém, Thường vụ Tỉnh uỷ Nam Định xác định quyết tâm xốc mạnh phong trào, bắt kịp thời cơ, đặt lên hàng đầu là công tác khuếch trương thắng lợi sâu rộng trong quần chúng cùng với việc phá rã ngụy quyền của địch Bằng sự kiên trì, vượt mọi gian khổ, hy sinh, quân dân ta đã từng bước chiến đấu giành giật với địch từng vùng đất, làm thất bại âm mưu chia rẽ lương - giáo của kẻ thù, giành lại thế chủ động

Ngày 23-2-1952, địch bỏ Hoà Bình rút chạy Cùng với thất bại ở Hoà Bình, việc bình định của địch trong năm 1951 bị phá vỡ Từ giữa năm 1952, ngoài việc thường xuyên tổ chức càn quét cỡ đại đội, tiểu đoàn, địch còn tổ chức nhiều cuộc hành quân quy mô lớn, dài ngày với cường độ vô cùng ác liệt trên địa bàn Nam Định

Mặc dù lực lượng không cân sức, quân và dân trong tỉnh vẫn kiên cường chiến đấu để bảo vệ khu du kích làm cho địch tổn thất nặng nề về sinh lực và phương tiện chiến tranh, như trận tập kích Trại huấn luyện Vạn Bảo ở thành phố Nam Định ngày 28-4-1953, diệt gọn một tiểu đoàn, bắt 500 tên địch Trận tập kích địch ở Đỗ Xá (Nam Trực) tháng 7-1953 tiêu diệt 160 tên trong đó có tên thiếu tướng Ginlơ chỉ huy cuộc càn

Như vậy trước cuộc chiến đông - xuân 1953 - 1954, quân dân Nam Định đã tạo được thế và lực mới cho cuộc kháng chiến đang bước vào giai đoạn quyết liệt nhất

Trang 10

Theo thống kê chưa đầy đủ, thời gian này quân dân Nam Định đã đánh địch gần 1.600 trận, tiêu diệt 9.000 tên địch, phá huỷ 76 xe cơ giới, bắn cháy 2 máy bay, 8 tàu chiến, thu gần 1.000 súng và nhiều quân trang, quân dụng khác

Sau thắng lợi Điện Biên Phủ, đêm ngày 25-5-1954, tại Nam Định, bộ đội chủ lực đã phối hợp với bộ đội địa phương tiêu diệt hoàn toàn vị trí Thức Khoá (Giao Thuỷ) bắt 650 tên, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng Ngày 4-6-1954, quân

ta tiếp tục tiến công vị trí Đông Biên (Hải Hậu) Sau 12 giờ chiến đấu, ta đã giành thắng lợi, tiêu diệt một số tên, bắt sống 500 tên Trong vòng nửa đầu năm 1954, bộ đội địa phương và dân quân, du kích Nam Định đã đánh trên 1.600 trận (du kích đánh 800 trận), diệt và làm bị thương trên 3.000 tên, thu hàng trăm súng các loại, phá huỷ gần 100 xe cơ giới

Trong khi Hội nghị Giơnevơ chưa kết thúc, thì trung tuần tháng 6-1954 địch đã rục rịch rút khỏi Nam Định Và đến 9 giờ ngày 1-7-1954, thực dân Pháp đã rút toàn

bộ các vị trí còn lại ở Ngô Đồng, Hành Thiện, Bùi Chu, Lạc Quần, Cổ Lễ và cuối cùng là thành phố Nam Định

Cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền còn non trẻ và kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược của dân tộc nói chung và nhân dân Nam Định nói riêng đã giành thắng lợi vẻ vang Với nhũng thành công đã đạt được, những kinh nghiệm và cả thử thách tôi luyện trong chiến tranh cách mạng, Đảng bộ và quân, dân Nam Định càng thêm vững tin cùng cả nước bước vào một thời kỳ mới của lịch

sử dân tộc

b Góp phần đánh thắng cuộc chiến tranhphá hoại của Đế quốc Mỹ,đẩy mạnh sản xuất,chi viện cho tiền tuyến lớn (1965-1975).

Thất bại trong chiến lược Chiến tranh đặc biệt, đế quốc Mỹ phải trực tiếp đưa quân vào miền Nam thực hiện chiến lược Chiến tranh cục bộ, đồng thời leo thang

mở rộng chiến tranh ra miền Bắc bằng không quân và hải quân

Thực hiện Quyết định số 103-QĐ/TVQH của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ngày 21-4-1965 và Nghị quyết số 111-NQ/TW về việc hợp nhất hai tỉnh Nam Định và Hà Nam; ngày 4-6-1965, Ban chấp hành Đảng bộ hai tỉnh họp liên tịch Hội nghị xác định nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng bộ lúc này là đoàn kết toàn quân, toàn dân Nam Hà thực hiện thắng lợi nghị quyết của Trung ương Đảng trong thời kỳ mới Quân dân Nam Hà phối hợp với trung đoàn 250 pháo cao xạ, đã chiến đấu dũng cảm để bảo vệ người, tài sản, huyết mạch giao thông chi viện cho tiền tuyến đồng thời duy trì, giữ vững sản xuất, giữ gìn an ninh, trật tự, bắn rơi 42 máy bay

Mỹ Đơn vị tự vệ thành phố và trung đoàn 250 được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất Tự vệ khu phố 4, khu phố 6, Nhà máy Liên hợp Dệt và Chi

Ngày đăng: 25/10/2017, 10:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w