1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bai du thi tim hieu quan he Vet Namlao

9 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 281,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người tiếp nhận và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin để xác định con đường giải phóng các dân tộc Việt Nam, Lào theo con đường cách mạng vô sản, đưa sự nghiệp đấu tranh cách mạng của[r]

Trang 1

Họ và tên: Nguyễn Xuân Tuyên

Sinh ngày: 04/06/1961

Điện thoại: 0912.547.636

Nghề nghiệp: Công chức Nhà nước

Đơn vị công tác: Kho bạc Nhà nước Vĩnh Phúc.

Vĩnh Yên, ngày 10 tháng 8 năm 2012

BÀI DỰ THI

“TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM-LÀO, LÀO-VIỆT NAM”

CHỦ ĐỀ 1: Những nhân tố hình thành, quyết định mối quan hệ

hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam.

Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sự gắn kết bền chặt, thuỷ chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội Mối quan hệ đặc biệt Việt-Lào

đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đúc kết trong 4 câu thơ:

"

Thương nhau mấy núi cũng trèo, Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.

Việt-Lào, hai nước chúng ta, Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”.

Chủ tịch Kayxỏn Phômvihản cũng đã khẳng định: " Trong lịch sử cách mạng thế giới, đã có nhiều tấm gương chói sáng về tinh thần quốc tế vô sản, nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ, có được sự đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt, lâu dài và toàn diện như quan hệ Lào-Việt Nam”; " Núi có thể mòn, sông có thể cạn, song tình nghĩa Lào-Việt Nam mãi mãi vững bền hơn núi, hơn sông”

Mối quan hệ Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam như một định mệnh gắn kết hai dân tộc với nhau trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, nó bắt nguồn từ nhiều yếu tố như điều kiện tự nhiên, nhân tố dân cư, xã hội, văn hoá và

Trang 2

lịch sử, truyền thống chống giặc ngoại xâm của nhân dân hai nước Trong tiến trình đó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-người sáng lập ra Đảng Cộng sản Đông Dương đã sớm nhận thấy tầm quan trọng của mối quan hệ này, với các hoạt động cách mạng của mình đã đặt nền móng vững chắc phát triển thành quan hệ đặc biệt giữa hai dân tộc, hai quốc gia Các thế hệ lãnh đạo hai nước đã không ngừng vun đắp để tình đoàn kết Việt-Lào mãi mãi xanh tươi

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân Souphanouvong tại chiến khu Việt Bắc năm 1951

Về các điều kiện tự nhiên, Việt Nam và Lào đều nằm trên bán đảo Đông Dương thuộc vùng Đông Nam Á Việt Nam nằm ở phía đông dãy Trường Sơn, hướng nhìn ra biển Đông; Lào nằm ở sườn tây dãy Trường Sơn, lọt sâu vào vùng đất liền của bán đảo Dãy Trường Sơn có thể ví như cột sống của hai nước, tạo thành biên giới tự nhiên trên đất liền giữa Việt Nam và Lào Về đường bộ cả Việt Nam và Lào đều theo trục Bắc-Nam, về đường biển, con đường gần nhất để Lào có thể thông thương ra biển đó là từ Sầm Nưa thuộc tỉnh Hủa Phăn (Lào) qua Thanh Hoá; Xiêng khoảng (Lào) qua Nghệ An; Khăm Muộn (Lào) qua Hà Tĩnh; Savẳnnakhệt (Lào) qua Quảng Trị và Khăm Muộn (Lào) qua Quảng Bình Với điều kiện tự nhiên như thế cả hai nước có thể hợp tác với nhau để cùng phát triển, hai nước hoàn toàn có thể bổ sung cho nhau bằng tiềm năng, thế mạnh của mỗi nước về vị trí địa lý, tài nguyên, nguồn nhân lực, thị trường cũng như sự phân vùng kinh tế và phân công lao động hợp lý Việt Nam có thể giúp Lào mở mang thông thương với thế giới qua đường biển, nối liền Đông Bắc Á, Nam Á qua Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương Với dãy Trường Sơn hùng vĩ, biên giới tự nhiên giữa Việt Nam và Lào, được ví như bức tường thành hiểm yếu để hai nước tựa lưng vào nhau, phối hợp giúp đỡ lẫn nhau tạo ra thế chiến lược

Trang 3

khống chế những địa bàn then chốt về kinh tế và quốc phòng, trở thành điểm tựa vững chắc cho Việt Nam và Lào trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước

Về các nhân tố dân cư, xã hội, Việt Nam và Lào đều là những quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ Hiện tượng một tộc người sống xuyên biên giới quốc gia của hai nước, hoặc nhiều nước là đặc điểm tự nhiên của sự phân bố tộc người ở khu vực Đông Nam Á nói chung, ở Việt Nam và Lào nói riêng Đặc điểm này đã chi phối mạnh mẽ đến mối quan hệ cùng khai thác và chia sẻ nguồn lợi tự nhiên, đặc biệt là nguồn lợi sinh thủy Điều này, thêm một lần nữa khẳng định các quan

hệ cội nguồn và quan hệ tiếp xúc chính là những điều kiện lịch sử và xã hội đầu tiên, tạo ra những mối dây liên hệ và sự giao thoa văn hoá nhiều tầng nấc giữa

cư dân hai nước.Minh chứng cho nhận định trên là hai câu chuyện huyền thoại của hai dân tộc đều xoay quanh môtíp quả bầu mẹ, đó là: người Lào, thông qua câu chuyện huyền thoại đã cho rằng các nhóm dân cư: Lào, Thái, Khơmú, Việt đều có chung nguồn gốc Đặc biệt, trong câu chuyện này, Khún Bulôm đã dặn

dò với các con cháu của Người: “Các con phải luôn luôn giữ tình thân ái với nhau, không bao giờ được chia rẽ nhau Các con phải làm cho mọi người noi gương các con và coi nhau như anh em một nhà, người giàu phải giúp đỡ kẻ nghèo, người mạnh giúp kẻ yếu Các con phải bàn bạc kỹ trước khi hành động

và đừng bao giờ gây hấn xâm lăng lẫn nhau” Còn ở miền tây Quảng Bình và Quảng Trị của Việt Nam, người B’ru cũng giải thích nguồn cội của các dân tộc

Tà Ôi, Ê đê, Xơ đăng, Bana, Khùa, Sách, Mông, Dao, Tày, Khơme, Lào, Thái, Việt cũng từ quả bầu mẹ Hình tượng quả bầu mẹ đã trở thành biểu tượng cao đẹp, lý giải nguồn gốc và tình đoàn kết keo sơn giữa các dân tộc hai bên dãy Trường Sơn Chính vì vậy, đến nay, các dân tộc anh em sống ở khu vực biên giới hai nước vẫn còn nuôi dưỡng niềm tự hào và truyền mãi cho nhau những câu chuyện về đạo lý làm người vô cùng sâu sắc mà người xưa để lại

Về nhân tố văn hoá, do quan hệ gần gũi và lâu đời nên nhân dân hai nước Việt-Lào, đặc biệt là người dân ở vùng biên giới am hiểu về nhau khá tường tận

và sự giao thương ở đây cũng khá nhộn nhịp Người dân Việt Nam bày tỏ mối thiện cảm với một số mặt hàng có chất lượng cao của Lào như: vải dệt, chiêng Chính vì vậy, mà hiện nay, nhiều dân tộc ít người ở Tây Nguyên của nước ta vẫn còn giữ được những chiếc chiêng Lào nổi tiếng Trong quan hệ giao thương với Đại Việt, Lào Lạn Xạng đã không ít lần bộc lộ mối quan tâm của mình muốn hướng ra biển, trong khi Đại Việt lại tìm cơ hội để mở rộng buôn bán vào sâu lục địa Sự hài hoà giữa tình cảm nhân ái và tinh thần cộng đồng là một nét đặc sắc của triết lý nhân sinh người Việt cũng như người Lào Chính trong cuộc sống chan hoà này, nhân dân hai nước Việt Nam-Lào đã ngày càng hiểu nhau và bày tỏ những tình cảm rất đỗi chân thành với nhau.Có thể khẳng định rằng, sự hài hoà giữa tình cảm nhân ái và tinh thần cộng đồng là một nét đặc sắc của triết lý nhân sinh người Việt cũng như người Lào Chính trong cuộc sống chan hoà này, nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào đã ngày càng hiểu nhau hơn và bày tỏ những tình cảm rất đỗi chân thành với nhau Ngạn ngữ Lào có

Trang 4

câu: “Nói hợp lòng thì xin ăn cho cũng chả tiếc, nói trái ý thì dẫu xin mua cũng chẳng bán”

Mặc dầu Việt Nam và Lào có tiếng nói, văn tự không giống nhau, sáng tạo và lựa chọn các nền văn hóa cũng như các hình thức tổ chức chính trị-xã hội khác nhau, nhưng những nét tương đồng thì vẫn thấy phổ biến trong muôn mặt đời sống hàng ngày của cư dân Việt Nam và Lào Các nền văn hóa nghệ thuật truyền thống của Việt Nam và Lào dễ dàng tìm thấy: sự đồng cảm lẫn nhau, chia

sẻ các giá trị cộng đồng, coi trọng luật tục, tôn kính người già…Sự tương đồng giữa văn hóa làng-nước của người Việt và văn hóa bản-mường của người Lào xuất phát từ cội nguồn cùng nền văn minh nông nghiệp lúa nước ở Đông Nam

Á Đồng thời, lòng nhân ái bao la và đời sống tâm linh phong phú, trong đó có những ảnh hưởng sâu đậm của đạo Phật mà trong cách đối nhân xử thế của mình, nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào bao giờ cũng nêu cao những phẩm chất yêu thương và hướng thiện

Về nhân tố lịch sử: Theo các thư tịch cổ nổi tiếng của Việt Nam như:

“Việt điện u linh” “Lịch triều hiến chương loại chí” thì năm 550 dưới thời Vạn Xuân của nhà tiền Lý, khi bị quân Lương ở phương Bắc đàn áp, Lý Nam Đế buộc phải lánh nạn và anh ruột của Vua là Lý Thiên Bảo đã chạy sang đất Lào lập căn cứ chống giặc ngoại xâm, mở ra mối quan hệ đầu tiên Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam Còn hai bộ chính sử khác là “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” thì sự kiện quan hệ ngoại giao, thông hiếu đầu tiên giữa các nước Đại Việt và Lào là vào năm 1067 (1) Tiếp đến vào giữa thế kỷ XIV (năm 1353) những quy ước hoà bình đầu tiên về biên giới quốc gia

đã được xác lập giữa Đại Việt và Lạn Xạng khi Chạu Phạ Ngừng lần lượt chinh phục các mường Lào, lập nên vương quốc Lạn Xạng thống nhất đầu tiên của người Lào Ngoài ra, trong suốt quá trình của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427), nghĩa quân Lê Lợi cũng luôn nhận được sự tiếp sức của các tộc trưởng và nhân dân Lào ở vùng biên giới Điều đáng nói, là trong khoảng thời gian từ thế

kỷ XIV đến XV, hai nước Đại Việt-Lạn Xạng, Lạn Xạng-Đại Việt mặc dù không phải không có những thời khắc gặp nguy nan nhưng với tinh thần lấy hoà hiếu làm trọng nên đã sáng suốt và công bằng, có ý thức đề cao không thù hận, đồng thời biết chủ động vun đắp tình thân ái và hữu nghị lâu dài giữa hai dân tộc

Đến thế kỷ XVII là thời kỳ toàn thịnh của Lạn Xạng dưới Vương triều Xulinhavôngsả (1637-1694), nhà vua Lào đích thân cầu hôn công chúa Vua Lê Duy Kỳ Tuy nhiên, đây cũng là lúc chế độ phong kiến Việt Nam bước vào giai đoạn khủng hoảng nên quan hệ giữa hai vương triều hậu Lê và Lạn Xạng không phát triển được nhiều Cuối thế kỷ XVII, nội bộ hoàng tộc Lào rối ren Tuy nhiên bất chấp hoàn cảnh bất lợi của chế độ phong kiến ở Đại Việt và Lạn Xạng, quan hệ nương tựa vào nhau giữa nhân dân hai nước vẫn tiếp tục được nuôi dưỡng Chính vì vậy, nửa cuối thế kỷ XVIII, khu vực Mương Phuôn (Xiêng

Trang 5

Khoảng) đã trở thành một căn cứ đề kháng quan trọng của nghĩa quân Tây Sơn chống lại thế lực Nguyễn Ánh Thế kỷ XIX, quan hệ Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam đã có bước trưởng thành sâu hơn, nhất là về phương diện nhận thức chủ quyền quốc gia, quan điểm bạn thù cũng như phương cách xây dựng đồng minh giữa nhân dân hai nước

Về truyền thống chống giặc ngoại xâm của hai dân tộc và tinh thần tự nguyện phối hợp chiến đấu chủa nhân dân hai nước Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam cũng đã được thể hiệ trong suốt tiến trình lịch sử cả hai dân tộc đều phải ngoan cường chống ngoại xâm để bảo vệ nền độc lập dân tộc Dân tộc Việt Nam

kể từ khi Nhà nước Văn Lang thành lập đã trải qua mấy ngàn năm lịch sử và liên tục bị chế độ phong kiến phương Bắc xâm lược, thống trị và do đó đã phải không ngừng chiến đấu giành và bảo vệ độc lập dân tộc Nước Lào cũng trải qua lịch sử hàng nghìn năm và cũng phải ngoan cường chống xâm lược để khẳng định sự tồn tại của mình với tư cách một dân tộc, một quốc gia độc lập Thực tiễn đã khẳng định rằng, trong quan hệ quốc tế ít có nơi nào và lúc nào cũng có được mối quan hệ đặc biệt, đoàn kết, hợp tác bền vững lâu dài, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ

xã hội như mối quan hệ Việt-Lào

Thời kỳ trước năm 1930, không cam chịu ách nô lệ, nhân dân hai nước Lào-Việt Nam đã đoàn kết, cùng nhau đấu tranh chống Pháp, kẻ thù chung của hai dân tộc, nhưng lúc đó chỉ dừng lại ở tính chất tự phát do hạn chế về trình độ nhận thức và điều kiện lịch sử

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (người thứ 3 từ trái sang) và Hoàng thân

Souphanuovong (người thứ tư từ trái sang) cùng các cán bộ quân đội Việt-Lào bàn kế hoạch mở chiến dịch Thượng Lào năm 1953.

Trang 6

Từ khi có chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, đặc biệt là từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng của hai dân tộc Lào-Việt Nam tình đoàn kết đó đã được phát triển mạnh mẽ và liên tục Chính truyền thống yêu nước vẻ vang là cơ sở vững chắc cho sự đoàn kết giữa hai dân tộc Tình cảm gắn

bó keo sơn giữa hai dân tộc Việt Nam-Lào trong những năm tháng chiến tranh

mà biểu hiện của nó là nhân dân Lào cùng Việt kiều đấu tranh chống chế độ thuộc địa, phối hợp và ủng hộ cách mạng Việt Nam giai đoạn (1930-1939), tiếp đến giúp nhau tiến hành cuộc vận động khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền thắng lợi (1939-1945) và liên minh Việt-Lào, Lào-Việt Nam chiến đấu chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945-1975) Sau năm 1975, quan hệ Việt Nam và Lào bước sang một trang hoàn toàn mới: từ liên minh chiến đấu chung một chiến hào sang hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia có độc lập chủ quyền Tình cảm gắn bó keo sơn giữa hai dân tộc Việt Nam-Lào được biểu hiện sâu nặng trong sự nghiệp xây dựng đất nước Đối với nhân dân hai nước Việt Nam, Lào, quan hệ đặc biệt được coi là lẽ sống, là tình nghĩa ruột thịt thân thiết, trước sau như một, dù gian nan nguy hiểm đến chừng nào cũng không thể chia tách được Thực tiễn đã khẳng định rằng, trong quan hệ quốc tế ít có nơi nào và lúc nào cũng có được mối quan hệ đặc biệt, đoàn kết, hợp tác bền vững lâu dài, trong sáng như mối quan hệ Việt-Lào

Chủ tịch Hồ Chí Minh-Người đặt nền móng vững chắc cho quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam Người tiếp nhận và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin để xác định con đường giải phóng các dân tộc Việt Nam, Lào theo con đường cách mạng vô sản, đưa sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Việt Nam và Lào ngày càng hoà quyện vào nhau, nương tựa lẫn nhau, mở ra một trang mới trong quan hệ giữa nhân dân hai nước, cùng hướng tới mục tiêu chung

là độc lập dân tộc và tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa là nhân tố quyết định mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam Và chính Người đã cùng đồng chí Xuphanuvông, đồng chí Kayxỏn Phômvihản và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam

Trong quá trình tìm đường cứu nước của mình, Nguyễn Ái Quốc rất quan tâm đến tình hình Lào Người không chỉ lên án chế độ thực dân Pháp nói chung

mà còn tố cáo cụ thể sự tàn bạo của thực dân Pháp ở Lào (2) Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên-một trong những tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp sáng lập vào tháng 6 năm 1925 tại Quảng Châu (Trung Quốc), đến tháng 2 năm 1927, Hội này gây dựng được cơ

sở tại Lào Thông qua hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Lào, Nguyễn Ái Quốc thấy đây là điều kiện thuận lợi để người Việt Nam vừa tham gia cuộc vận động cứu nước tại Lào, vừa sát cánh cùng nhân dân Lào xây dựng mối quan hệ đoàn kết khăng khít giữa Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam Hội

Trang 7

Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã lập Hội Ái hữu, Hội Việt kiều yêu nước,

mở các lớp huấn luyện cách mạng trên đất Lào Trên thực tế, từ nửa sau những năm 20 thế kỷ XX, Lào là một đầu cầu trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin

và tư tưởng cứu nước mới của Nguyễn Ái Quốc vào Đông Dương Năm 1928, đích thân Người bí mật tổ chức khảo sát thực địa tại Lào (3) càng cho thấy mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào Cũng trong năm này, chi bộ Thanh niên cộng sản đầu tiên được thành lập tại Viêng Chăn, đồng thời đường dây liên lạc giữa nhiều thị trấn ở Lào với Việt Nam được

tổ chức Như vậy, Lào trở thành địa bàn đầu tiên trên hành trình trở về Đông Dương của Nguyễn Ái Quốc, nơi bổ sung những cơ sở thực tiễn mới cho công tác chính trị, tư tưởng và tổ chức của Người về phong trào giải phóng dân tộc ở

ba nước Đông Dương Quá trình Nguyễn Ái quốc đặt nền móng cho quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam báo hiệu bước ngoặt lịch sử trọng đại sắp tới của cách mạng Việt Nam cũng như cách mạng Lào

Nhìn vào chặng đường cách mạng đã qua, chúng ta vui mừng và tự hào về mối quan hệ mẫu mực, vô cùng trong sáng, rất mực thuỷ chung giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam Sự kiện lịch

sử trọng đại cách đây 50 năm, ngày 5-9-1962 khi Việt Nam và Lào chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao và việc hai nước ký kết Hiệp ước hữu nghị và hợp tác ngày 18-7-1977, đó là mối quan hệ không giống bất cứ mối quan hệ nào trong lịch sử thế giới đương đại, được xây đắp và nuôi dưỡng bằng công sức và xương máu của nhiều thế hệ cách mạng Việt Nam và Lào trong suốt chiều dài lịch sử Đảng, Nhà nước và nhân Việt Nam luôn nhận thức sâu sắc rằng, mỗi thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất trước đây cũng như mỗi thành tựu trong công cuộc đổi mới đất nước hôm nay đều gắn liền với sự đoàn kết, ủng hộ, giúp đỡ quý báu, chí nghĩa, chí tình, hiệu quả của Đảng, Nhà nước và nhân dân các dân tộc Lào anh em

Trong bối cảnh thế giới hiện nay, quan hệ hữu nghị truyền thống đặc biệt giữa Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam cùng với những cơ hội vẫn còn không ít thách thức nhất là các thế lực thù địch tìm mọi cách xuyên tạc, bóp méo lịch sử, chia rẽ tình hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào Vì vậy, việc duy trì, củng cố và tăng cường mối quan hệ đặc biệt trong sáng, thuỷ chung giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước nhiệm vụ hết sức quan trọng, đặt ra những yêu cầu khách quan về gia tăng mối quan hệ đặc biệt giữa Việt Nam-Lào; Lào-Việt Nam với những phương thức mới và những nội dung mới

Sáng 18-7-2012, phát biểu tại lễ mít tinh trọng thể kỷ niệm 50 năm ngày hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao và 35 năm ngày ký kết Hiệp ước hữu nghị

và hợp tác Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam, hai sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng trong quan hệ Việt Nam-Lào, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ: “Hơn bao giờ hết, chúng ta cần tiếp tục củng cố tăng cường và phát triển hơn nữa mối quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt-Lào, coi đây là

Trang 8

lẽ sống, là nghĩa tình trước sau như một, dù gian nguy đến đâu cũng không hề lay chuyển Chúng ta nguyện giữ gìn và bảo vệ mối quan hệ đặc biệt Việt-Lào như giữ gìn và bảo vệ con ngươi của mắt mình, quyết tâm cùng với Đảng và Nhà nước Lào anh em, phát triển, làm phong phú và sâu sắc thêm và thúc đẩy mạnh mẽ và ngày càng đi vào chiều sâu, coi đây là tài sản thiêng liêng vô giá được trao truyền lại mãi cho các thế hệ mai sau”

Cũng tại lễ mít tinh Phó Chủ tịch nước Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào Bounnhang Vorachith thay mặt Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào anh em, trân trọng gửi tới Đảng, Nhà nước và nhân Nam lòng biết ơn sâu sắc và tình cảm hữu nghị, tình đồng chí anh em thắm thiết nhất Phó Chủ tịch nước Bounnhang Vorachith khẳng định: Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào sẽ làm hết sức mình để gìn giữ, bảo vệ mối quan hệ hữu nghị đoàn kết đặc biệt Lào-Việt Nam Cho dù tình hình có diễn biến thế nào đi chăng nữa, tình hữu nghị giữa hai dân tộc Lào-Việt Nam sẽ mãi mãi thủy chung, trong sáng và thắm thiết Tình cảm gắn bó yêu thương và mối quan hệ đặc biệt vốn đã trở thành truyền thống sẽ tiếp tục được phát huy và kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác; quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước sẽ tiếp tục được củng cố, vun đắp, góp phần vào sự nghiệp củng cố hòa bình, hữu nghị, hợp tác, hội nhập khu vực và thế giới

Đồng chí đồng chí Buonnhang Vorachith: Đảng và Nhà nước Lào sẽ làm hết sức mình, chủ động và nâng cao trách nhiệm trong việc thực hiện các Hiệp ước, Hiệp

định, thoả thuận cấp cao giữa hai Đảng, hai Nhà nước.

Đồng chí Buonnhang Vorachith nhấn mạnh, Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào luôn gìn giữ và bảo vệ mối quan hệ truyền thống đặc biệt giữa hai nước, được trải qua biết bao thử thách, được vun đắp bằng mồ hôi, xương máu của

Trang 9

những anh hùng, chiến sỹ và nhân dân hai nước nhiều thế hệ, trở thành mối quan

hệ thuỷ chung, trong sáng để lại cho con cháu mai sau

Trải qua hơn nửa thế kỷ của quá trình liên minh chiến đấu và chiến thắng,

sự gắn bó thắm thiết, sự yêu thương, tin tưởng lẫn nhau trên tinh thần đồng chí anh em thực sự đã làm nên mối quan hệ truyền thống đặc biệt giữa hai nước, trở thành nguồn sức mạnh vĩ đại và nhân tố quyết định thắng lợi giữa hai nước Hiện nay hai nước đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, nhân dân hai nước đang triển khai Nghị quyết Đại hội của mỗi Đảng và cùng nhau phấn đấu xây dựng đất nước giàu mạnh, nhân dân hai nước

có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, góp phần tích cực vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên thế giới

(1)Lịch sử Quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào Việt Nam NXB CTQG

Hà Nội 2011 Trang 13.

(2) Hồ Chí Minh: Lời phát biểu tại Hội nghị cán bộ Liên minh nhân dân Việt–Miên-Lào.

(3) Tổng cục Chính trị, Đảng lãnh đạo quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế, Nxb Quân đội nhân dân, tr.317-318.

Ngày đăng: 27/05/2021, 20:56

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w