Phát huy tinh thần cách mạng, nêu cao vai trò của địa phương sớm được giải phóng và là địa bàn giao thương, nơi nhận viện trợ của các nước bạn cho cuộc kháng chiến - Đảng bộ, chính quyền[r]
Trang 1TÀI LIỆU VĂN HÓA ĐỊA PHƯƠNG TỈNH CAO BẰNG
CHƯƠNG II LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
Cao Bằng – một vùng đất địa đầu miền biên viễn Đông bắc của Tổ quốc Việt Nam Trong tiến trình phát triển của lịch sử nước nhà, vùng đất và con người nơi đây đã, đang và sẽ có những cống hiến, đóng góp nhất định, hòa mình với các tỉnh thành trên cả nước, cùng viết nên những trang sử vàng của quốc gia dân tộc trong
sự nghiệp dựng nước và giữ nước
I/ CAO BẰNG - TỪ NHỮNG TRANG SỬ ĐẦU TIÊN ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
1 Buổi đầu lập quốc và đấu tranh chống xâm lược phương Bắc
Theo những nguyên cứu về khảo cổ học – Cao Bằng là vùng đất được những
cư dân Việt cổ - đó là các bộ tộc người Âu Việt (Tây Âu – Tày cổ) lựa chọn làm nơi định cư từ rất sớm (¹)
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tần (Từ năm 218 đến năm 207 TCN), Hùng Vương phải nhường ngôi cho thủ lĩnh của người Âu Việt
là Thục Phán – An Dương Vương Hai miền đất của người Tây Âu và Lạc Việt hợp thành nước Âu Lạc, kế tục và phát huy những giá trị văn hóa thời Văn Lang, tạo dựng nền văn mình đầu tiên của dân tộc – Văn minh sông Hồng
Năm 179 TCN – Âu Lạc rơi vào tay Triệu Đà (vua nước Nam Việt) Đến năm 111 TCN, cả Âu Lạc và Nam Việt đều bị nhà Hán thôn tính Từ đây, diễn ra cuộc đấu tranh ngoan cường, bền bỉ của cộng đồng các dân tộc Việt suốt hơn một ngàn năm giành lại nước
Đại thắng Bạch Đằng giang năm 938, Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán, xác lập thời kỳ độc lập lâu dài cho đất nước Tiếp theo đó, các triều đại Ngô, Đinh -Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Tây Sơn … đã viết nên những trang sử vẻ vang cho quốc gia Đại Cồ Việt - Đại Việt, từ những chiến công vệ quốc đến những thành tựu xây dựng đất nước, khẳng định vị thế của một quốc gia phong kiến hùng mạnh ở Đông Nam Á (Từ thế kỷ X đến thế kỷ XVIII)
Trong những trang sử oai hung đó, nhân dân các dân tộc Cao Bằng đã luôn vững vàng trong tư thế vùng “phiên dậu” phía Bắc Tên tuổi những người con ưu tú của đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Dao … nơi đây đã lưu danh trong sử sách Đó là
vị Tù trưởng – Thái Bảo Nùng Trí Cao dưới thời Nhà Lý; là các vị thủ lĩnh Nông Trí Xuân và Hoàng Thắng Hứa, là An biên tướng quân Hoàng Lục thời Nhà Trần;
là Tù trưởng Bế Khắc Triệu và Nông Đắc Thái trong cuộc kháng chiến đánh đuổi quân Minh đô hộ
(¹) - Địa chí Cao Bằng: tr 95
Trang 2Thời kỳ các tập đoàn phong kiến Nam - Bắc Triểu và Trịnh - Nguyễn phân tranh, Cao Bằng trở thành vùng cát cứ của Nhà Mạc (1592 - 1677), rồi quay về Lê Trung hưng (Lê -Trịnh) Đến thời Tây Sơn, sau đại thắng quân Thanh năm 1798, Cao Bằng là nơi dư đảng Nhà Lê (Lê Duy Chỉ - em thứ ba của Lê Chiêu Thống) cư ngụ Năm 1802, nhà Tây Sơn bị Nguyễn Ánh đánh bại, Cao Bằng trở về vai trò của một khu vực trấn ải phía Bắc, thời vua Minh Mạng đổi tên thành tỉnh Cao Bằng
“Về cơ bản, cho đến cuối thời trung đại, ở Cao Bằng vẫn còn tồn tại chế độ Thổ ty, Lang đạo, Phìa tạo Đó là tổ chức hành chính cổ truyền của đồng bào các dân tộc thiểu số tồn tại song song với tổ chức chính quyền do Nhà nước trung ương xếp đặt Các chúa đất (hay còn gọi là Thổ ty; khi được triều đình phong kiến trao cho chức quan thì được gọi là Thổ quan) là người nắm giữ quyền hành điều phối công việc theo các thể chế cũ trong phạm vi nhất định, được triều đình phong kiến trung ương công nhận là bồi thần và được phong chức tước tương ứng với lãnh thổ
hộ cai quan” (¹) Cơ cấu nền kinh tế gồm các ngành nông – lâm nghiệp, thủ công và khai khoáng, mang đậm tính chất của nền kinh tế tự nhiên, với đặc trưng tự cung, tự cấp Cùng với đó, diện mạo văn hóa – xã hội với những tập tục truyền thống và cơ
sở văn hóa được tạo dựng những thời kỳ trước vẫn tồn tại một cách bền vững
2 Ách thống trị của thực dân Pháp và phong trào đấu tranh (1886-1939)
Giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây phát triển mạnh mẽ, nhu cầu
về thị trường, tài nguyên và khoáng sản lên cao Ngoài việc tăng cường bóc lột nhân dân trong nước, các quốc gia tư bản đẩy mạnh xâm chiếm thuộc địa Trong thời điểm đó, các nước châu Á, châu Phi trở thành những “miếng mồi béo bở”
Rạng sáng ngày 31 tháng 8 năm 1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nha, lấy lý
do triều đình nhà Nguyễn cấm đạo, giết đạo, đã nổ súng đánh chiếm bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), mở đầu cuộc tiến công xâm lược Việt Nam Quân đội triều đình chống cự thụ động, yếu ớt, vua quan từng bước thỏa hiệp rồi đầu hang, ký kết Hiệp định Pa-tơ-nốt (06/06/1884) chính thức thừa nhận “quyền bảo hộ” của Pháp đối với Việt Nam, nước ta biến thành thuộc địa của đế quốc Pháp
Sau năm 1884, thực dân Pháp đẩy mạnh tiến công, bình định các tỉnh thành trên cả nước Từ năm 1886 đến 1892, Pháp điều quân lên đánh chiếm các huyện lỵ thuộc tỉnh Cao Bằng Tại đây, kẻ thù đã phải vất vả đối phó với phong trào kháng chiến của nhân dân các dân tộc dưới sự lãnh đạo của các tù trưởng địa phương Ở Nguyên Bình có nghĩa quân của Phù Nhi - thủ lĩnh dân tộc Dao; Ở Thông Nông có nghĩa quân của nữ thủ lĩnh Pa Deng - người dân tộc H’Mông; Ở Hòa An và Hà Quảng có nghĩa quân của Triệu Phúc Sinh - thủ lĩnh người Tày; Ở Trùng Khánh có đội quân của Bá hộ Lê Bá Tài … cùng nhiều đội nghĩa binh khác ở khắp các địa phương trong tỉnh Quân Pháp phải thú nhận “Tiểu khu Cao Bằng là hình ảnh rõ rệt nhất của tình hình mà đạo quân chiếm đống mắc phải từ ngày xâm chiếm, ít quân quá, nhiều giặc dã quá” (²)
(¹)- Lịch sử Cao Bằng: tr 161 – 162; (²) - Địa chỉ Cao Bằng : tr 117
Trang 3Từ năm 1893, Pháp tăng cường lực lượng đàn áp các phong trào đấu tranh, từng bước hoàn thành công cuộc bình định miền đất Cao Bằng “Sự chống trả quyết liệt của nhân dân vùng thượng du Bắc Kỳ, cũng như địa thế xa cách, địa hình hiểm trở ở những khu vực này khiến cho thực dân Pháp không thể áp dụng máy móc bộ máy cai trị theo khuôn mẫu của các tỉnh đồng bằng, châu thổ.Chính bởi vậy, chúng
đã phải áp dụng một hình thức bộ máy cai trị đặc biệt, tập hợp chính quyền dân sự
và chính quyền quân sự vào một bộ máy, được gọi là các Đạo Quan binh” (¹) Theo các Nghị định của Toàn quyền Đông Dương, từ tháng 8 năm 1891 Cao Bằng hợp với Hà Giang và Lạng Sơn thành đạo quan binh II, có thủ phủ tại Lạng Sơn Đến tháng 8 năm 1896, sau cuộc phân chia lại, Cao Bằng trở thành một Khu Quan binh thuộc đạo Quan binh 2, đóng thủ phủ tại Thị xã Cao Bằng
Bên cạnh các đạo quan binh, chính quyền thực dân vẫn tiếp tục bảo lưu về ình thức một bộ máy chính quyền của người bản xứ “các đơn vị hành chính bản xứ
ở Đạo Quan binh Cao Bằng bao gồm: Xã, Tổng, Châu, Phủ và Tỉnh” (²).Điều hành công việc ở xã là Tộc trưởng (Tù trưởng hay thủ lĩnh dân tộc trước kia), họ trực tiếp bầu ra Lý trưởng, Phó lý và Xã đoàn, dưới thôn, xóm có Thôn trưởng Nhiều xã liên kết thành một Tổng, đứng đầu là Cai tổng, giúp việc có Phó tổng và Thông đoàn Hai hay nhiều tổng hợp thành châu, đứng đầu là Tri Châu, giúp việc có Châu đoàn, chịu sự chỉ đạo của Tư lệnh Tiểu khu Đứng đầu tỉnh có Án sát
Dưới ách cai trị hà khắc, chính sách bóc lột tàn bạo của chính quyền thực dân
và thuộc địa bản xứ, với truyền thống yêu nước, bất khuất – phong trào đấu tranh của đồng bào các dân tộc ở các tỉnh miền thương du Bắc Kỳ (Hà Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn) lại được khơi dậy trong những năm 20 của thế kỷ XX Thời
kỳ 1925 – 1927, ở Cao Bằng, các hội đánh Tây tự phát thành lập ở Hòa An, sau đó lan sang Hà Quảng, bước đầu có những hoạt động tích cực Thời gian này, tiêu biểu
có hoạt động của người thanh niên yêu nước Hoàng Đình Gioong (người làng Nà Toàn, xã Đề Thám) đang theo học tại trường Bách nghệ ở Hà Nội, do những hoạt động đấu tranh cách mạng đã bị chính quyền thực dân đuổi học, sau đó truy nã Cuối năm 1927, Hoàng Đình Gioong tìm đường sang Quảng Tây (Trung Quốc) bắt liên lạc với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, được kết nạp vào tổ chức, sau đó quay về nước hoạt động (³)
Từ năm 1928, đồng chí Hoàng Đình Gioong đã bí mật đưa những thanh niên tiên tiến của Cao Bằng sang Long Châu (Quảng Tây – Trung Quốc) huấn luyện, rồi đưa trở về gây dựng phong trào của Hội tại các châu Hòa An, Hà Quảng và khu mỏ Tĩnh Túc (Nguyên Bình) Với các cơ sở cách mạng được gây dựng đó, ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập (tháng 2 năm 1930), tại Cao Bằng đã đủ điều kiện để thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên (ngày 01/04/1930) hoạt động như một
“Tỉnh ủy lâm thời” (4)
(¹) (²) - Lịch sử Cao Bằng: tr 209,223
(³) (4) - Địa chí Cao Bằng: tr 120 – 122
Trang 4Từ hạt nhân của Chi bộ Đảng đầu tiên, tại các huyện Hòa An, Hà Quảng, Nguyên Bình, Quảng Uyên, Thạch An và khu mỏ Tĩnh Túc các chi bộ Đảng lần lượt ra đời, giương cao ngọn cờ chiến đấu, đưa phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ Tiếp đó, tổ chức “Công hội đỏ” được thành tại Tĩnh Túc, “Nông hội đỏ” cùng được xây dựng tại Hòa An, Hà Quảng, Nguyên Bình … Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào cách mạng tại các địa phương trong tỉnh ngày càng khởi sắc
“Trong cuộc vận động cách mạng 1930 – 1935, Cao Bằng trở thành bàn đạp phát triển cách mạng, cầu nối giữa Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng với phong trào cách mạng trong nước” (¹)
Đồng chí Lê Hồng Phong - Ủy viên Quốc tế Cộng sản đã trực tiếp hoạt động tại Cao Bằng, chỉ đạo gây dựng lại cơ sở cách mạng sau thời kỳ địch khủng bố trắng 1931 – 1932 Đồng thời, lãnh đạo chủ chốt của Tỉnh ủy đã được Trung ương phân công đảm trách nhiệm vụ kết nối phong trào từ Cao Bằng xuống miền duyên hải Bắc bộ (Quảng Ninh, Hải Phòng) Đến “tháng 7 năm 1933, Ban Lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương công nhận Ban Chấp hành Đảng bộ Cao Bằng do đồng chí Hoàng Như làm Bí thư; các ban châu ủy lần lượt được thành lập ở Hòa An (1933), Hà Quảng (1935)” (²)
Những năm 1936 – 1939, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã hòa chung với cao trào đấu tranh của cả nước dưới ngọn cờ của Mặt trận Dân chủ Đông Dương, hưởng ứng phong trào vận động “Đông Dương Đại hội” Tháng 2 năm
1937, Ban lãnh đạo tỉnh ủy đã chủ động, sáng tạo tổ chức quần chúng mít tinh, biểu tình và đưa được bản “Dân nguyện” đến tay Phái đoàn Chính phủ Mặt trận Bình dân Pháp (phái doàn Godard) “Ngoài ra, triệt để tận dung hình thức đấu tranh công khai hợp pháp, đảng bộ Cao Bằng đã chỉ đạo đẩy mạnh phong trào thể dục thể thao
và các lễ hội …” (³) qua đó tập hợp và vận động quần chúng Các hoạt động báo chí tiến bộ, công tác binh vận cũng được coi trọng, đem lại hiệu quả tốt cho phong trào
Kết quả phát triển của phong trào gia đoạn này, cùng với sự vững vàng của đội ngũ lãnh đạo chủ chốt tại các cơ sở Đảng đã giúp cho việc duy trì, bảo vệ, và phát triển lực lượng cách mạng tại Cao Bằng trong thời gian đầu khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (1939 – 1940)
3 Cuộc vận động cách mạng tháng Tám năm 1945.
Mùa xuân năm 1941, sau 30 năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về nước (28/01/1941), cùng với Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Người nhận định “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta.Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm liên lạc quốc tế rất thuận lợi Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được Có nối được phong trào với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ” (4)
(¹)(4)- Địa chí Cao Bằng: tr123-125; (²)(³)- Lịch sử Cao Bằng: tr254, tr 259
Trang 5Từ “suối nguồn” Pác Bó ngọt ngào, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ đạo thực hiện thí điểm xây dựng các hội Cứu quốc tại ba châu Hòa An, Hà Quảng, Nguyên Bình, đồng thời củng cố và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên của Cao Bằng Lấy kết quả thực tiễn để đúc rút kinh nghiệm, với thành công bước đầu về gây dựng các hội Cứu quốc trong các lực lượng quần chúng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tám tại lán Khuổi Nặm từ ngày 10 đến 19 tháng 5 năm 1941 Tại Hội nghị đã Quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) với phương châm mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất thông qua các tổ chức quần chúng mang tên Hội Cứu quốc (Hội Thanh niên cứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc, Hội Công nhân cứu quốc, Hội Nông dân cứu quốc, Hội Nhi đồng cứu quốc …)
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám, phong trào xây dựng Mặt trận Việt Minh nhanh chóng được triển khai và phát triển khắp cả nước Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Trung ương Đảng đẩy mạnh công tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ, cả về công tác chính trị và quân sự Nhiều khóa bồi dưỡng cán bộ, các lớp quân chính được mở đã kịp thời đáp ứng nhu cầu phát triển phong trào Việt Minh theo chủ trương “Nam tiến”, gắn kết Mặt trận Việt Minh từ căn cứ địa Cao Bằng xuống Bắc Cạn, Lạng Sơn, sang Hà Giang, Tuyên Quang và vùng đồng bằng châu thổ, đảm bảo liên lạc trong nước và quốc tế
Tháng 10 năm 1944, sau khi thoát khỏi nhà tù Tưởng Giới Thạch, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Hà Quảng, trung tâm căn cứ địa cách mạng Người đã chỉ đạo hoãn ngay chủ trương khởi nghĩa của Liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng, đồng thời đưa ra những quyết sách mới thúc đẩy phong trào cách mạng đi lên
Ngày 22 tháng 12 năm 1944, chấp hành chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã tuyên bố thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tại khu rừng Sau Cao nằm giữa hai tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám (Nguyên Bình – Cao Bằng) Ngay sau khi thành lập, đội quân giải phóng đã
mở đầu thắng lợi với việc đánh chiếm đồn Phai Khắt (Xã Tam Kim – 25/12) và đồn
Nà Ngần (Xã Hoa Thám – 26/12) Cùng phối hợp với các hoạt động vũ trang tuyên truyền của Đội là những đội du kích vũ trang được thành lập tại các địa phương trong tỉnh, làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh cách mạng từ cơ sở
Cuối tháng 4 năm 1945, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Trung ương Đảng chuyển địa điểm cơ quan Trung ương từ Pác Bó (Cao Bằng) về Tân Trào (Tuyên Quang), xúc tiến thành lập Khu Giải phóng Việt Bắc (Cao - Bắc - Lạng – Thái – Tuyên – Hà), đẩy mạnh hơn nữa phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc
Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp Ngày 12 tháng 3 năm 1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, phát động cao trào “kháng Nhật cứu quốc” Quán triệt chỉ thị của Trung ương Đảng, Liên Tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng đã kịp thời chỉ đạo các địa phương tranh thủ thời cơ thuận lợi tổ chức khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền từ tay giặc Nhật, đồng thời nỗ lực chuẩn bị các điều kiện tiến lên Tổng khởi nghĩa
Trang 6Từ ngày 17 đến ngày 21 tháng 8 năm 1945, thực hiện lệnh Quân lệnh số 1 của Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, tại các địa phương trong tỉnh - dưới sự lãnh dạo của các Chi, Đảng bộ, nhân dân các dân tộc Cao Bằng đã nhất tề vùng lên Tổng khởi nghĩa, vô hiệu hóa mọi cố gắng cuối cùng của quân Nhật và chính quyền tay sai, giành lại chính quyền Tiêu biểu nhất là cuộc Tổng khởi nghĩa tại Thị xã Cao Bằng – Ngày 21 tháng 8, Ủy ban khởi nghĩa do đồng chí Hoàng Đình Gioong lãnh đạo đã buộc quân Nhật phải đầu hàng và thành lập ngay Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời (22/8/1945) chỉ một ngày trước khi quân Tưởng theo thỏa thuận của Đồng Minh vào tước vũ khí quân đội Nhật Vậy là, chúng ta tiếp đón lực lượng Đồng Minh trong tư thế của “người chủ nhà chiến thắng”
Từ những trang sử đầu tiên đến Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 - Lịch
sử địa phương tỉnh Cao Bằng đã và luôn là một thể thống nhất trong lịch sử quốc gia dân tộc Việt Nam Từ vị trí khiêm tốn của một tấm “phên dậu” vùng biên viễn đến vị thế của khu căn cứ địa “ngôi sao cách mạng” trong công cuộc đấu tranh giành độc lập – Cao Bằng đã xứng đáng với vai trò không chỉ là một “cái nôi văn hóa” mà còn là “chiếc nôi cách mạng”
II/ CAO BẰNG TRONG CHIẾN TRANH GIẢI PHÓNG (1945 – 1975)
1 Tăng cường củng cố và bảo vệ chính quyền cách mạng, tích cực ủng
hộ Nam Bộ kháng chiến (1945 – 1946).
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời (02/9/1945) Cũng như các địa phương trong khu vực Bắc Bộ - chính quyền Cách mạng ở Cao Bằng gặp muôn vàn khó khăn, thách thức – đó là “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm” và nhất là những khó khăn về tài chính, về tình hình chính trị bất
ổn định
Sau cách mạng tháng Tám 1945, nạn đói ở Cao Bằng, tuy không diễn ra nghiệm trọng như các tỉnh miền xuôi, song nhân dân từ lâu phải sống trong đói nghèo, lạc hậu nên việc thiếu thốn lương thực, thực phẩm là điều không trành khỏi
Cơ cấu các ngành thiếu cân đối, phát triển què quặt, kỹ thuật lạc hậu, mang nặng tính tự nhiên, tự cung, tự cấp Trình độ dân trí toàn dân thấp (trên 96% dân số mù chữ) Ngoài việc đối phó với quân Tưởng, chính quyền cách mạng non trẻ còn phải đối phó với nạn thổ phí khắp các huyện ở cả hai miền Đông và Tây của tỉnh
Thực hiện chỉ đạo của Trung ương và Chính phủ - Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc Cao Bằng đã đoàn kết, nhất trí, từng bước tháo gỡ khó khăn, vượt qua thách thức Tăng cường sức mạnh của Chi hội giải phòng quân của tỉnh và các địa phương, bảo vệ vững chắc chính quyền cách mạng, đối phó hiệu quả với binh lính quân Tưởng và tay sai, đồng thời xử lý và trừng trị thích đáng bọn thổ phí Đẩy mạnh tăng gia sản xuất, tận dụng diện tích đất đai hiện có và khai phá thêm, trồng các loại thực phẩm, hoa màu, cải thiện đời sống người dân Phát động phong trào “Bình dân học vụ”, mở rộng các trường học đón nhận con em nhân dân, thiết thực đưa hàng chục ngàn người thoát khỏi nạn mù chữ
Trang 7Ngày 6 tháng 1 năm 1946, đồng bào các dân tộc Cao Bằng hân hoan, phấn khởi tham gia cuộc bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam mới “Tỉnh Cao Bằng vinh dự được bầu 4 đại biểu: Vũ Anh, Dương Kim Đao, Nguyễn Khánh Kim, Dương Đại Lâm” (¹) Tại kỳ bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp tháng 3 năm
1946, đồng chí Đoàn Hồng Kỳ được bầu làm Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Đồng chí Bùi Bảo Vân được Trung ương chỉ định giữ cương vị Bí thư Tỉnh ủy Hệ thống chính quyền nhân dân toàn tỉnh được củng cố, kiện toàn, tạo ra thực lực mới cho cách mạng
Thực thi sắc lệnh của Chính phủ về xây dựng “Quỹ độc lập” và phát động
“Tuần lễ vàng”, cùng với những hoạt động tích cực của Ban Kinh tế tỉnh ủy, những khó khăn về tài chính được giải quyết Các cơ sở kinh tế công nghiệp - tiểu thủ công được khôi phục, giao thương vùng biên giới được thúc đẩy, công tác y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm, sinh hoạt xã hội đi dần vào ổn định
Hưởng ứng Lời kêu gọi cả nước ủng hộ Nam Bộ kháng chiến của Hồ Chủ Tịch, các phân đội Giải phóng quân của Cao Bằng lại tiếp bước lên đường “Trong đợt đầu, hai mươi Chi hội Nam tiến từ Việt Bắc ra đi gồm những cán bộ chiến sĩ ưu
tú đã được huấn luyện quân sự, có kinh nghiệm chiến đấu do đồng chí Hoàng Đình Gioong làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Đàm Minh Viễn (tức Đức Thanh) làm Tham mưu trưởng Lực lượng Nam tiến đã kịp thời tăng thêm sức mạnh chiến đấu cho đồng bào miền Nam…”(²)
2 Kháng chiến “toàn dân, toàn diện, trường kỳ” chống thực dân Pháp (1946 – 1950)
Cuối năm 1946, dã tâm xâm lược của thực dân Pháp lộ rõ “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa ! ” (³)
Chấp hành Chỉ thị của Trung ương và Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của
Hồ Chủ Tịch, Tỉnh ủy Cao Bằng đã đề ra những nhiệm vụ cấp bách về tăng cường
bộ máy chính quyền các cấp đảm bảo chỉ đạo kháng chiến, củng cố lực lượng vũ trang, tích cực xây dựng kế hoạch phòng thủ
Ủy ban hành chính tỉnh và ủy ban kháng chiến hợp nhất trở thành Ủy ban kháng chiến hành chính do đồng chí Đoàn Hồng Kỳ làm Chủ tịch Đồng chí Lê Thành được Trung ương chỉ định làm Bí thư Tỉnh ủy
Lực lượng quân sự được tăng cường Trung đoàn chủ lực 74 được kiện toàn
và tăng cường thêm quân số, trang thiết bị, vũ khí Ngày 15 tháng 4 năm 1947, Tỉnh đội Cao Bằng được thành lập do đồng chí Như Thanh làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Hoàng Nghiệp làm Chính trị viên Tiếp đó, Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh quyết định thành lập một tiểu đoàn cơ động mang tên Tiểu đoàn 73 Tại các địa phương trong tỉnh đã khẩn trương thành lập Huyện đội, Ban chỉ huy xã đội, xây dựng một số Đại đội độc lập
(¹)(³) - Địa chí Cao Bằng: tr 142, 144; (²) - Lịch sử Cao Bằng: tr 312
Trang 8Thực hiện phương châm “tiêu thổ kháng chiến” quân và dân Cao Bằng đã tập trung phá hoại các tuyến quốc lộ số 3A, 3B và quốc lộ số 4, nhằm ngăn cản đường tiến quân của địch Ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh và các địa phương đã tích cực chỉ đạo xây dựng hậu phương kháng chiến, lập khu an toàn cho dân sơ tán tránh địch khủng bố, huy động nhân dân tích trữ lương thực, thực phẩm; đồng thời đẩy mạnh hoạt động của Mặt trận Việt Minh, củng cố khối đoàn kết toàn dân
Tháng 10 năm 1947, thực dân Pháp tập trung 20.000 quân, chia hai gọng kìm tiến công căn cứ địa Việt Bắc Ngày 9 tháng 10 năm 1947, 300 lính dù của Pháp nhảy dù đánh chiếm Thị xã Cao Bằng, chiếm giữ một số vị trí xung yếu phía đông nam Thị xã “Cuộc chiến đấu đánh quân nhày dù và đánh trả máy bay diễn ra vô cùng ác liệt Khẩu đội súng thượng liên của Trung đoàn 74 bố trí trên đồi Thiên Văn do xạ thủ Nông Văn Diên lập chiến công đã bắn rơi chiếc máy bay JU-52 của Pháp xuống làng Pác Cáy (xã Hòa Chung, Thị xã Cao Bằng), tiêu diệt 12 sĩ quant ham mưu và tên đại tá Lăm-be, Phó Tham mưu trưởng quân đội viễn chinh Pháp ở Bắc Đông Dương, ta thu được toàn bộ kế hoạch tấn công Việt Bắc mang mật danh Léa Tài liệu đặc biệt quan trọng này được chiến sĩ liên lạc Nguyễn Danh Lộc đi bộ liên tục 4 ngày, 3 đêm đến Định Hóa – Thái Nguyên giao cho Bộ Tổng tham mưu Nhờ đó, Bộ Tổng chỉ huy của ta có thêm cơ sở vững chắc hoàn chỉnh phương án đánh địch, quyết phá tan cuộc tiến công của giặc Pháp” (¹)
Sau khi cho quân dù chiếm được Thị xã Cao Bằng và Đông Khê (Thạch An), Pháp tăng quân đánh chiếm các huyện lỵ Nguyên Bình, Trà Lĩnh, Hòa An, Quảng Uyên, Phục Hòa, đồng thời thiết lập 49 đồn bốt tại các địa bàn chiếm được, âm mưu khống chế tuyến giao thông huyết mạch của tỉnh, thu hút và tiêu diệt lực lượng chủ lực của ta
Quán triệt sự chỉ đạo của Trung ương và Bộ Tổng chỉ huy, Tỉnh ủy Cao Bằng chỉ đạo các lực lượng quân đội và dân quân thực hiện chiến thuật đánh du kích, lợi dụng địa thế và địa hình vùng rừng núi hiểm trở tổ chức phục kích và tập kích quân địch, tiêu hao sinh lực địch “Từ ngày 9 tháng 10 năm 1947 đến tháng 4 năm 1948
ta đã tiêu diệt 1.257 tên địch, làm bị thương 130 tên, phá hủy 29 xe ô tô và nhiều vũ khí đạn dược quân trang quân dụng khác, góp phần cùng quân và dân Việt Bắc phá tan cuộc tiến công chiến lược thu động 1947 của giặc Pháp” (²)
Trên đà thắng lợi, quân và dân Cao Bằng đẩy mạnh tiến công quân Pháp Trung đoàn chủ lực 174 mới thành lập (19/8/1949) đã ra quân đánh thắng nhiều trận, tiêu biểu là trận đánh ngày 03 tháng 9 năm 1949 trên đèo Bông Lau – Lũng Phầy, phá hủy 86 xe hàng hóa các loại, bắt sống 40 tên địch, thu 20 khẩu súng Bị mất đường tiếp tế, lại thường xuyên bị uy hiếp, quân Pháp buộc phải rút lui một số
vị trí, co cụm về giữ Thị xã Cao Bằng và Đông Khê “Như vậy, từ 9 tháng 10 năm
1947 đến 20 tháng 10 năm 1949, ta đã buộc địch rút 41 vị trí, mở ra một vùng giải phóng rộng lớn với 10 huyện trong tỉnh Từ đây bộ đội và dân quân du kích đã làm chủ chiến trường, quân địch rơi vào thế phòng ngự…” (³)
(¹) - Lịch sử Cao Bằng: tr 320; (²)(³)- Địa chí Cao Bằng: tr 147, 148
Trang 9Cuối năm 1949 đầu năm 1950, quân và dân Cao Bằng còn tổ chức chặn đánh, tiêu diệt nhiều toán tàn quân Tưởng Giới Thạch bị Giải phóng quân Trung Quốc truy kích, thu thêm vũ khí, trang bị
Tháng 1 năm 1950, Hồ Chủ Tịch bí mật sang thăm Trung Quốc và Liên Xô, chuyến thăm đã đem lại nhiều thuận lợi có ý nghĩa quan trọng, giúp cho thế giới hiểu rõ hơn về cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta Sau đó, Liên Xô, Trung Quốc và các nước Dân chủ nhân dân Đông Âu lần lượt công nhận Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời chính thức nhận lời chi viện cho cuộc kháng chiến Thế và lực của quân dân ta được tăng cường
Tháng 7 năm 1950, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Biên giới Đồng chí Võ Nguyên Giáp được giao quyền Bí thư kiêm Chỉ huy trưởng mặt trận, đồng chí Trần Đăng Ninh phụ trách hậu cần chiến dịch Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tham gia chiến dịch quan trọng này, Người nhắc nhở các chiến sĩ “Trong cuộc chiến đấu này ta chỉ được đánh thắng, không cho đánh bại” (¹)
“Đảng bộ tỉnh Cao Bằng nói riêng, cả nước nói chung đã chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch ngay từ những ngày đầu năm 1950, với khẩu hiệu tất cả cho chiến dịch toàn thắng Sau một thời gian ngắn chưa đầy một năm, đảng bộ và nhân dân Cao Bằng đã chuẩn bị được 78.824 người đi dân công với 1.340.780 ngày công và 2.346 tấn gạo, trên 120 tấn thực phẩm phục vụ chiến dịch” (²)
“Đêm 16 tháng 9 năm 1950, quân ta nổ sung đánh đồn Đông Khê cũng là lúc Bác Hồ ra Sở chỉ huy tiền phương, trực tiếp quan sát đồn Đông Khê Tại đây Người
đã làm bài thơ nổi tiếng:
Chống gậy lên non xem trận địa Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây Quân ta thế mạnh nuốt ngưu đẩu Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy” (³)
Sau hai ngày đêm chiến đấu ác liệt, quân ta tiêu diệt hoàn toàn đồn Đông Khê, cứ điểm có vị trí sống còn của quân Pháp trên đường số 4 Trong trận chiến đấu này, nhiều cán bộ, chiến sĩ nêu tấm gương sáng về tinh thần dũng cảm, chiến đấu quên mình Đó là La Văn Cầu, quê Trùng Khánh, khi chiến đấu một tay bị trúng đạn, không do dự nhờ đồng đội chặt cánh tay bị giặc bắn nát, tiếp tục dùng tay còn lại ôm bộc phá xông lên tiêu diệt lô cốt địch; đó là Lý Việt Mưu, người quê Quảng Uyên, mưu trí và dũng cảm, dưới làn bom đạn thu nhặt từng quả thủ pháo gói lại thành một khối, dù bị thương vẫn cố gắng ôm khối thuốc nỗ phá tung miệng hầm ngầm của địch, tạo cơ hội cho đồng đội diệt địch; đó là đại đội trưởng Trần
Cừ, dẫn bộ đội tiến công vào hướng nam cứ điểm, bị hỏa lực địch từ lỗ châu mai khống chế, tình hình khó khăn, đồng đội thương vong, anh đã lấy thân nình lấp lỗ châu mai, bịt hỏa lực địch, tạo thời cơ cho bộ đội tiêu diệt đồn địch
(¹)(²)(³) - Địa chí Cao Bằng: tr 151, 152
Trang 10“Bên cạnh những chiến sĩ trực tiếp cầm súng tiêu diệt quân thù là những chị dân công hỏa tuyến, ngày đêm miệt mài công việc Các chị Đinh Thị Dậu, Đinh Thị Bỏng, Nguyễn Thị Bé, Đinh Thị Mẩn, Nông Thị Đuông, Đàm Thị Nhay, Triệu Thị Soi, v.v dưới làn đạn bom địch, không sợ hy sinh, gian khổ, quyết tâm phục vụ chiến dịch Chị Triệu Thị Soi đã được tuyên dương công trạng trong ngày lễ chiến thắng và được Chính phủ tặng Huân chương Chiến công hạng Nhì Các chị khác được Bác Hồ tặng quà nhân dịp Tết Nguyên đán Tân Mão (đầu năm 1951) vì đã có công đặc biệt trong Chiến dịch biên giới” (¹)
Cứ điểm Đông Khê thất thủ, Bộ chỉ huy quân Pháp điều binh đoàn Lơ Pa-giơ
từ Thất kê lên, âm mưu chiếm lại đồn và đón cánh quân của Sác-tông từ Thị xã Cao Bằng rút về Quân ta tổ chức đánh chặn, truy kích mạnh cả hai cánh quân địch Chiều ngày 7 tháng 10 năm 1950, binh đoàn Sác-tông bị đánh bại ở Bản Kéo, quân
ta tiêu diệt 677 tên, bắt sống 1.386 tên, thu toàn bộ vũ khí “Người bắt sống tên Sác –tông là chiến sĩ Nguyễn Văn Hản ở Tiểu đội 2, Trung đội 3, Đại đội 263, Tiểu đoàn 18 Bình Ca, Trung đoàn Thủ đô Viên tỉnh trưởng Cao Bằng Nông Ngọc Tu bị bắt Ngày 8 tháng 10 năm 1950, Trung tá Lơ Pa-giơ xin hang ở khu vực Nà Cao, cách Cốc Xá 4 km Người đến chấp nhận sự đầu hang của Lơ Pa-giơ là Tiểu đoàn trưởng Khúc Đình Binh, đại đội trưởng đại đội 42 Trần Đăng Khiêm và Đỗ Đức Hùng – cán bộ tham mưu.” (²)
Trước sức tấn công mãnh liệt của quân ta, quân Pháp ở các cứ điểm Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng, Thị xã Lạng Sơn, Lộc Bình, Đình Lập và một số cứ điểm trên đường quốc lộ số 1 lần lượt rút chạy Toàn bộ hệ thống phòng thủ vành đai trên đường số 4 của Pháp bị quân ta phá tan “Chiến dịch Biên giới thắng lợi, ta
đã tiêu diệt và bắt sống 8.300 tên địch, tiêu diệt 10 tiểu đoàn trong đó có 8 tiểu đoàn
bị diệt gọn, chiếm 41% lực lượng cơ động chiến lược toàn Đông Dương, giải phóng 350.000 dân, 4.500 km² đất” (³)
Chiến thắng Biên giới thu đông 1950 đã làm thay đổi cục diện cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Pháp, là bước ngoặt đem đến thế chủ động cho quân ta trên chiến trường chính Bắc Bộ, đẩy quân Pháp vào tình thế bị động, lúng túng, hoang mang Tướng Pháp Hăng-ri Na-va đã phải thú nhận “Đây là cuộc chiến đấu bất hạnh” và “tinh thần binh lính Pháp tổn hại một cách nghiêm trọng, tâm lý thất bại ngày càng lan tràn” “Thất bại ở Chiến dịch Biên giới là thất bại chưa từng có trong lịch sử chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp” (4)
Ngày mồng 3 tháng 10 năm 1950 là ngày giặc Pháp buộc phải rút chạy khỏi Thị xã Cao Bằng, Đảng bộ và nhân dân Cao Bằng lấy ngày này làm ngày truyền thống kỷ niệm sự kiện Cao Bằng hoàn toàn giải phóng Từ đây, một thời kỳ mới, một vận hội mới và cũng là thử thách mới đến với Đảng bộ, chính quyền và đồng bào các dân tộc tỉnh nhà
(¹)(³)(4) - Địa chí Cao Bằng: tr 153 – 155
(²) - Lịch sử Cao Bằng: tr 358