Vị trí địa lí: Là một tỉnh thuộc tiểu vùng đông bắc, vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ, phía đông giáp tỉnh Quảng Ninh, phía bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía tây giáp tỉnh Thái Nguyên và h
Trang 1BÀI DỰ THI:
Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống
Tìm hiểu Lịch sử địa phương tỉnh Bắc Giang
Môn học chính: Lịch sử Môn học tích hợp: Địa lý, Văn học và Tin học
Trang 21 Tên tình huống: Tìm hiểu lịch sử địa phương tỉnh Bắc Giang
2 Mục tiêu giải quyết tình huống
- Vận dụng kiến thức liên môn để tìm hiểu về nơi mình sinh sống để qua đóthêm yêu mến và hiểu biết về địa phương
3 Tổng quan về nghiên cứu liên quan đến việc giải quyết tình huống
- Lịch sử: Lịch sử địa phương
- Địa lý: Điều kiện địa lý, khí hậu, sông ngòi,dân cư, kinh tế,… của địaphương
- Văn học: Sử dụng từ ngữ, câu, văn học dân gian, phương pháp thuyết minh
- Tin học: Sử dụng thành thạo Word và tìm kiếm thông tin trên mạng
4 Giải pháp giải quyết tình huống:
Tìm hiểu, tra cứu tư liệu, hình ảnh liên quan đến địa phương thông qua mạnginternet và các tư liệu ở thành phố Bắc Giang
5 Thuyết minh tiến trình giải quyết tình huống
TỈNH BẮC GIANG
I Vị trí địa lí, lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh Bắc Giang:
1 Vị trí địa lí:
Là một tỉnh thuộc tiểu vùng đông bắc, vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ, phía
đông giáp tỉnh Quảng Ninh, phía bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía tây giáp tỉnh Thái Nguyên và huyện Sóc Sơn (Hà Nội) và phía nam giáp tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Hải Dương
Tỉnh lỵ là thành phố Bắc Giang, cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 50 km
Trong những năm gần đây, Kinh tế của Bắc Giang phát triển khá toàn diện và
đang dần khẳng định được vị thế là một trong 3 Trung tâm kinh tế lớn nhất củavùng Trung du và miền núi Bắc Bộ
- Gồm:
+ 1 thành phố Bắc Giang
+ 9 huyện: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Tân Yên, Hiệp Hòa, LạngGiang, Việt Yên, Yên Dũng ( trong đó có 06 huyện miền núi và 01 huyện vùngcao: Sơn Động; 230 xã, phường, thị trấn
Trang 32 Lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh Bắc Giang:
Thời vua Hùng dựng nước Văn Lang liên bộ lạc, Bắc Giang thuộc bộ Võ Ninh.Đời Lý - Trần gọi là lộ Bắc Giang
Đời Lê, đây là phủ Bắc Hà, năm 1822 đổi là phủ Thiên Phúc, đến đời Tự Đức là phủ Đa Phúc
Từ ngày 5 tháng 11 năm 1889 đến ngày 9 tháng 9 năm 1891 đã tồn tại tỉnh Lục Nam Tỉnh Lục Nam gồm các huyện Bảo Lộc, Phượng Nhỡn, Lục Nam, Hữu Lũng (tách từ phủ Lạng Giang, tỉnh Bắc Ninh, ở bên tả ngạn sông Thương) và huyện Yên Bái (tách từ tỉnh Lạng Sơn) Năm 1891 sau khi trả hai huyện Bảo Lộc
và Phượng Nhỡn cho tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Lục Nam bị xóa bỏ để nhập vào Đạo Quan binh I
Tỉnh Bắc Giang được thành lập ngày 10 tháng 10 năm 1895, tách từ tỉnh Bắc Ninh, bao gồm phủ Lạng Giang, phủ Đa Phúc và các huyện Kim Anh, Yên Dũng, Phượng Nhỡn, Việt Yên, Hiệp Hòa, Yên Thế và một số tổng nằm ở phía nam sông Lục Nam Tỉnh lỵ là Phủ Lạng Thương (nay là thành phố Bắc Giang) Năm 1896, phủ Đa Phúc và huyện Kim Anh được trả lại cho tỉnh Bắc Ninh.Năm 1950, tỉnh Bắc Giang thuộc Liên khu Việt Bắc (1949-1956) và gồm 7 huyện: Hiệp Hoà, Lục Ngạn, Yên Thế, Lạng Giang, Việt Yên, Yên Dũng, Hữu
Trang 4Ngày 22 tháng 2 năm 1955, huyện Sơn Động từ tỉnh Quảng Yên trả về tỉnh Bắc Giang.
Ngày 1 tháng 7 năm 1956, khi thành lập Khu tự trị Việt Bắc, huyện Hữu Lũng sáp nhập vào tỉnh Lạng Sơn thuộc Khu tự trị Việt Bắc
Ngày 21 tháng 1 năm 1957, chia 2 huyện Sơn Động và Lục Ngạn thành 3 huyện Sơn Động, Lục Ngạn và Lục Nam
Ngày 6 tháng 11 năm 1957, chia huyện Yên Thế thành 2 huyện: Yên Thế và Tân Yên
Năm 1959, đổi tên thị xã Phủ Lạng Thương thành thị xã Bắc Giang
Ngày 27 tháng 10 năm 1962, Bắc Giang nhập với Bắc Ninh thành tỉnh Hà Bắc vàđến ngày 1 tháng 1 năm 1997 lại tách ra như cũ Khi tách ra, tỉnh Bắc Giang có tỉnh lị là thị xã Bắc Giang và 9 huyện: Hiệp Hòa, Lạng Giang, Lục Nam, Lục Ngạn, Sơn Động, Tân Yên, Việt Yên, Yên Dũng, Yên Thế
Ngày 7 tháng 6 năm 2005, chuyển thị xã Bắc Giang thành thành phố Bắc Giang.Ngày 3 tháng 12 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 2168/QĐ-TTg công nhận thành phố Bắc Giang là đô thị loại II trực thuộc tỉnh BắcGiang
BẮC GIANG – XƯA VÀ NAY
Cầu sông Thương
Cầu sông Thương, phủ Lạng Thương nhìn từ bờ phía Nam năm 1902
(Ảnh tư liệu)
Trang 5Cầu sông Thương ngày nay
Thành cổ Xương Giang
Dấu tích Thành cổ Xương Giang (năm 1979) Nơi diễn ra trận đánh oanh liệt
Trang 6của nghĩa quân Lam Sơn, góp phần chấm dứt 20 năm ách đô hộ của nhà Minh (Ảnh tư liệu)
Thành Xương Giang ngày nay
Sông Thương
Sông Thương - dòng sông gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử, văn hóa của tỉnh
Bắc Giang (Ảnh tư liệu)
Trang 7ng Thương ngày nay.
Thị xã Bắc Giang (nay là thành phố Bắc Giang)
Thị xã Bắc Giang là một trong những cái nôi cách mạng năm 1928 (Ảnh tư liệu)
Trang 8Quảng trường 3/2 (thành phố Bắc Giang) - nơi diễn ra nhiều sự kiện chính
trị quan trọng của tỉnh
Nhà nhà treo cờ Tổ quốc hưởng ứng 120 năm ngày kỷ niệm thành lập tỉnh
(10/10/1895 - 10/10/2015)
Trang 9Băng rôn, khẩu hiệu đỏ rực khắp các tuyến đường chính.
2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên:
* Diện tích: Bắc Giang có diện tích tự nhiên 3.823 km², chiếm 1,2% diện tích tự
nhiên của Việt Nam Theo tài liệu năm 2000, trong tổng diện tích tự nhiên củaBắc Giang, đất nông nghiệp chiếm 32,4%; đất lâm nghiệp có rừng chiếm 28,9%;còn lại là đồi núi, sông suối chưa sử dụng và các loại đất
* Địa hình: Địa hình Bắc Giang gồm 2 tiểu vùng: Miền núi và trung du có đồng
bằng xen kẽ Vùng trung du bao gồm các huyện: Hiệp Hòa, Việt Yên và thànhphố Bắc Giang Vùng miền núi bao gồm 7 huyện: Sơn Động, Lục Nam, LụcNgạn, Yên Thế, Tân Yên, Yên Dũng, Lạng Giang Trong đó một phần các huyệnLục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế và Sơn Động là vùng núi cao
Đặc điểm chủ yếu về địa hình miền núi (chiếm 72% diện tích toàn tỉnh) là chiacắt mạnh, phức tạp, chênh lệch về độ cao lớn Nhiều vùng đất đai tốt, nhất là ởcác khu vực còn rừng tự nhiên
Vùng đồi núi thấp có thể trồng được nhiều cây ăn quả, cây công nghiệp như: Vảithiều, cam, chanh, na, hồng, chè, đậu tương, lạc ; thuận tiện để chăn nuôi cácloại gia súc, gia cầm, thuỷ sản
Đặc điểm chủ yếu của địa hình miền trung du (chiếm 28% diện tích toàn tỉnh) làđất gò, đồi xen lẫn đồng bằng tùy theo từng khu vực Vùng trung du có khả năng
Trang 10trồng nhiều loại cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả, cây công nghiệp, chănnuôi các loại gia súc, gia cầm, cá và nhiều loại thuỷ sản khác.
* Khí hậu: Tỉnh Bắc Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa khu vực
Đông Bắc Việt Nam, một năm có bốn mùa rõ rệt Mùa Đông có khí hậu khô,lạnh; mùa Hè khí hậu nóng, ẩm; mùa Xuân và Độ ẩm trung bình trong năm là83%, một số tháng trong năm có độ ẩm trung bình trên 85% Các tháng mùa khô
có độ ẩm không khí dao động khoảng 74% - 80%
Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.533 mm, mưa nhiều trong thời giancác tháng từ tháng 4 đến tháng 9 Lượng nước bốc hơi bình quân hàng nămkhoảng 1.000 mm, 4 tháng có lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa là từ tháng 12năm trước đến tháng 3 năm sau
Chế độ gió cơ bản chịu ảnh hưởng của gió Đông Nam (mùa Hè) và gió Đông Bắc(mùa Đông) Một số khu vực thuộc miền núi cao có hình thái thời tiết khô lạnh,rét đậm, có sương muối vào mùa Đông Ít xuất hiện gió Lào vào mùa Hè Một sốhuyện miền núi có hiện tượng lốc cục bộ, mưa đá, lũ vào mùa mưa Bắc Giang ítchịu ảnh hưởng của bão do có sự che chắn của nhiều dãy núi cao
Nắng trung bình hàng năm từ 1.500 - 1.700 giờ, thuận lợi cho canh tác, phát triểncác cây trồng nhiệt đới, á nhiệt đới
* Đất đai: Bắc Giang có 382.200 ha đất tự nhiên, bao gồm 123.000 ha đất nông
nghiệp, 110.000 ha đất lâm nghiệp, 66.500 ha đất đô thị, đất chuyên dùng và đất
ở, còn lại khoảng 82.700 ha là các loại đất khác, trong đó nhóm đất đỏ vàngchiếm diện tích lớn hơn cả khoảng 63,13% diện tích tự nhiên Nguồn tài nguyênđất được chia làm 6 nhóm đất chính:
Trang 11- Nhóm đất phù sa: Diện tích khoảng 50.246 ha, chiếm 13,14% diện tích đất tự
nhiên Loại đất này được phân bố chủ yếu ở vùng địa hình bằng phẳng ven các sông Đây là nhóm đất có hàm lượng dinh dưỡng khá, thích hợp với các loại cây nông nghiệp, đặc biệt là các loại cây trồng ngắn ngày
- Nhóm đất bạc màu: Diện tích khoảng 42.897 ha, chiếm 11,22% diện tích đất
tự nhiên, là loại đất bạc màu trên phù sa cổ, tập trung nhiều ở các huyện: ViệtYên, Tân Yên, Hiệp Hòa Đây là nhóm đất bằng, nghèo đạm, lâm, giàu ka-li, tơi,xốp, thoát nước tốt, thích hợp với các loại cây lấy củ, hạt như: Khoai tây, khoailang, cây đậu đỗ và các loại cây công nghiệp ngắn ngày
- Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ: Diện tích khoảng 6.546 ha, chiếm
1,71% diện tích đất tự nhiên Loại đất này phân bố chủ yếu ở các thung lũng nhỏ,kẹp giữ các dãy núi Đây là loại đất được hình thành và phát triển trên sản phẩmrửa trôi và lắng đọng của tất cả các loại đất nên thường có độ phì khá, rất thíchhợp với các loại cây trồng như: Ngô, đậu, đỗ và cây công nghiệp ngắn ngày
- Nhóm đất đỏ vàng: Diện tích khoảng 241.358 ha, chiếm 63,13% diện tích đất
tự nhiên Đây là nhóm đất có diện tích lớn nhất trong các nhóm đất ở Bắc Giang.Loại đất này thường có màu nâu đỏ, đỏ nâu, đỏ vàng tùy theo mẫu chất, quá trìnhphong hóa và quá trình tích lũy hữu cơ
Trang 12- Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi: Diện tích 1.008 ha, chiếm 0,27% diện tích
đất tự nhiên, phân bố ở các ngọn núi cao giáp dãy núi Yên Tử và giáp tỉnh TháiNguyên
- Nhóm đất xói mòn: Diện tích khoảng 18.809 ha, chiếm 4,92% diện tích đất tự
nhiên Loại đất này có đặc điểm là tầng đất mỏng, độ phì kém, khó khăn cho sảnxuất nông nghiệp
Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh có khoảng 668,46 ha núi đá bằng 0,17% diện tích đất
tự nhiên; khoảng 20.796 ha đất ao, hồ, chiếm khoảng 5,44% diện tích đất tựnhiên
* Sông, hồ:
Trên địa bàn Bắc Giang có 374 km sôngsuối, trong đó ba sông lớn là sông Lục Nam, sông Thương và sông Cầu Sông Lục Nam chảy qua vùng núi đá vôi nên quanh năm nước trong xanh Sông Thương bắt nguồn từ hai vùng có địa
hình và địa chất khác nhau nên nước chảy đôi dòng: bên đục, bên trong
Ngoài sông suối, Bắc Giang còn có nhiều hồ, đầm, trong đó có hồ Cấm Sơn và Khuôn Thần Hồ Cấm Sơn năm ở khu vực giáp tỉnh Lạng Sơn, dài 30 km, nơi rộng nhất 7 km và chỗ hẹp nhất 200m Hồ Cấm Sơn có diện tích mặt nước 2.600
ha, vào mùa mưa có thể lên tới 3.000 ha Hồ Khuôn Thần có diện tích mặt nước
240 ha và lòng hồ có 5 đồi đảo được phủ kín bởi rừng thông 20 tuổi Người ta có thể dạo chơi trên hồ Khuôn Thần bằng thuyền đạp chân hoặc thuyền gắn máy, vừa cùng người Sán Chỉ, Cao Lan, Nùng bản địa hát soong hao, vừa thưởng thức những sản phẩm độc đáo của địa phương như hạt dẻ, mật ong và rượu tắc kè
* Sinh vật: Tại vùng núi phía đông bắc tỉnh, giáp với Quảng Ninh có khu rừng nguyên sinh Khe Rỗ rộng 7153 ha với hệ động vật và thực vật phong phú, bao gồm 236 loài cây thân gỗ, 255 loài cây dược liệu, 37 loài thú, 73 loài chim và 18 loài bò sát
Trang 133 Dân cư, xã hội:
* Dân số và các dân tộc thiểu số:
- Dân số: 1624456 người (2014) , mật độ dân số 423 người/km², gấp 1,7 lần mật
độ dân số bình quân của cả nước
-Trên địa bàn Bắc Giang có nhiều dân tộc cùng sinh sống, trong đó đông nhất
là người Kinh, chiếm 88,1% dân số toàn tỉnh, tiếp đến là người Nùng chiếm 4,5%; người Tày 2,6%;người Sán Chay và người Sán Dìu, mỗi dân
tộc 1,6%; người Hoa 1,2%; người Dao 0,5%
* Văn hóa Bắc Giang có các điểm đặc trưng sau:
- Tính chất đan xen đa văn hóa Đan xen không phải hòa đồng mà tất cả cùng tồn tại tạo nên sự phong phú, đa dạng của văn hóa Bắc Giang
- Tính chất tụ hội văn hóa người Việt Trong lịch sử lâu dài của đất nước người dân từ nhiều nơi như Thanh Hóa, Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng, Hưng Yên
đã lên đây sinh sống Họ mang theo tập tục của mình và có những biến đổi theo người dân bản xứ trên đất Bắc Giang và ngược lại người dân Bắc Giang ở trước
đó cũng bị những tác động của cư dân mới đến
- Con người Bắc Giang vốn là những cư dân đồng cam cộng khổ, cưu mang nhauvượt qua thiên tai địch họa, khai phá rừng hoang lập làng, lập bản Tính chất hào hùng còn dễ nhận thấy hơn qua các cuộc bảo vệ đất nước của dòng họ Giáp, họ Thân và đặc biệt hơn là cuộc khởi nghĩa Yên Thế
- Bắc Giang là sự giao thoa giữa hai miền văn hóa Việt cổ (Bắc Ninh) và văn hóaTày Nùng (Lạng Sơn) Những người dân tộc Thái, dân tộc Dao… vẫn có nét riêng trong sinh hoạt nhưng họ học tiếng Kinh, mặc quần áo người Kinh
- Văn hóa Bắc Giang là tính chất đoàn kết, sáng tạo Từ vùng rừng thiêng nước độc cộng đồng dân cư Bắc Giang sinh sống đã tạo nên những vẻ đẹp riêng có cả
về văn hóa vật thể và phi vật thể Bắc Giang có hơn 500 lễ hội lớn nhỏ
Người dân Bắc Giang tự hào là cái nôi của quan họ cổ với 23 làng ven sông Cầu, tồn tại như một sự kết duyên song song với quan họ ở Bắc Ninh Đất quan
họ Bắc Giang còn là nơi có tục kết chạ từ lâu đời đến nay vẫn tồn tại trong cuộc sống cộng đồng, có đóng góp tích cực làm đẹp thêm đời sống xã hội
Bắc Giang có chùa Vĩnh Nghiêm (Yên Dũng) - cái nôi đào tạo phật pháp thiền phái Trúc Lâm; chùa Bổ Đà (Việt Yên) phản ánh tính chất cổ kính gần với phật giáo Ấn Độ, đình Lỗ Hạnh (Hiệp Hòa) được dựng vào cuối thế kỷ XVI từng được mệnh danh là "Đệ nhất Kinh Bắc" Các nhà khảo cổ học đã phát hiện trên địa bàn Bắc Giang cách đây khoảng hai vạn năm có người thời đại đồ đá khai phá, sinh sống ở đây Điều đó được thể hiện qua các di chỉ Bố Hạ (Yên Thế),
Trang 14các nhà khảo cổ cũng tìm thấy con người thời đại đồ đá mới sinh sống trên vùng đất này qua di chỉ Mai Sưu (Lục Nam), thời đại đồ đồng qua di chỉ Đông Lâm (Hiệp Hòa).
4 Kinh tế:
Nằm trên tuyến hành lang kinh tế Nam Ninh (Trung Quốc) - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng, liền kề vùng kinh tế trọng điểm phía bắc, Bắc Giang rất thuận lợi trong phát triển kinh tế và giao lưu văn hóa với các nước trong khu vực
Bắc Giang đã quy hoạch và triển khai các khu công nghiệp cùng một số cụm công nghiệp với tổng diện tích gần 1.500 ha, trong đó có một khu công nghiệp đã
cơ bản lấp đầy
Các khu công nghiệp nằm ở phía nam tỉnh Bắc Giang thuộc các huyện Việt Yên và Yên Dũng Được quy hoạch liền kề nhau, nằm dọc theo đường quốc lộ 1A mới Hà Nội - Lạng Sơn, gần với các đô thị lớn, thuận lợi cả về đường bộ, đường sông, đường sắt và đường hàng không và các cảng sông, cảng biển Cách thủ đô Hà Nội khoảng 40 km, Sân bay quốc tế Nội Bài 45 km; Cảng Hải
Phòng khoảng 110 km và cách cửa khẩu Hữu Nghị Quan 120 km, có hệ thống hạ tầng tương đối hoàn chỉnh; thuận lợi cả về hệ thống cung cấp điện, nước, bưu chính viễn thông
Các khu, cụm công nghiệp đó là:
Ngoài các khu, cụm công nghiệp trên, hiện nay tỉnh Bắc Giang dự kiến quy hoạch một số khu, cụm công nghiệp khác, tập trung ở các huyện Yên Dũng, Việt Yên, Hiệp Hoà và huyện Lạng Giang với diện tích các khu khoảng từ 200 ha đến trên 1.000 ha
Bắc Giang đang nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; ưu tiên đầu tư kết cấu hạ tầng các khu, cụm công nghiệp; quan tâm đào tạo, nâng cao chất lượngnguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp và đặc biệt chú trọng cải cách thủ tục hành chính theo hướng đảm bảo công khai, minh bạch với cơ chế "một cửa liên thông", nhà đầu tư chỉ cần đến một địa chỉ là Ban quản lý các Khu công nghiệp hoặc Sở Kế hoạch và Đầu tư là được cấp giấy chứng nhận đầu tư, mã số thuế và con dấu
Trang 15* Công nghiệp:
Công nghiệp phát triển nhanh cả về không gian, quy mô và trình độ công nghệ với tốc độ tăng trưởng công nghiệp bình quân 19,4% Cơ cấu công nghiệp - xây dựng tăng từ 32,9% năm 2011 lên 41,5% năm 2015 Toàn tỉnh hiện có 4 khu công nghiệp và 27 cụm công nghiệp đi vào hoạt động; thu hút 455 dự án đầu tư, trong đó 127 dự án đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký hơn 2 tỷ USD Giá trị sản xuất công nghiệp (giá hiện hành) ước đạt 58.672 tỷ đồng, bằng 147,7% mục tiêu và cao gấp 4,7 lần so với năm 2010, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn 2011-2015 đạt 36,4%, góp phần tăng thu ngân sách, tạo chuyển dịch mạnh cơ cấu lao động Lĩnh vực công nghiệp - xây dựng tạo việc làm cho khoảng 250 nghìn lao động
* Nông nghiệp:
Bắc Giang phát triển khá toàn diện Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất tăng bình quân 5,2%/năm, trong đó tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm bình quân đạt 4,0%/năm Giá trị sản xuất trên 1ha đất sản xuất nông nghiệp năm 2015 ước đạt
86 triệu đồng, tăng 1,8 lần so với năm 2010 Cơ cấu ngành nông nghiệp tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi (năm 2015 tỷ trọng chăn nuôi chiếm 45%) Tỉnh đã hình thành được một số vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung quy mô lớn, tạo được sản phẩm đặc trưng có thương hiệu Đã hình thành vùng trồng cây ăn quả lớn thứ 3 toàn quốc, vùng trồng vải thiều là vùng sản xuất chuyên canh đứng thứ nhất, đàn gà đứng thứ 4 và là một trong 2 tỉnh có đàn lợn dẫn đầu cả nước Đến hết năm 2015, toàn tỉnh có 34/202 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm 16,3% số xã toàn tỉnh; bình quân các xã trên địa bàn tỉnh đạt 12,7/19 tiêu chí xã nông thôn
* Dịch vụ:
Dịch vụ phát triển đa dạng, ngày càng nâng cao chất lượng Thu hút được một số
dự án lớn như: Sân Golf – Dịch vụ Yên Dũng, khách sạn Mường Thanh, siêu thị BigC, Co.op mart… Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 17.200 tỷ đồng, tăng bình quân 19,6%/năm Phương tiện vận tải tăng bình quân 11%/năm; phủ sóng điện thoại di động và Internet tới tất cả các xã Hệ thống dịch
vụ tài chính, tiền tệ phát triển khá, cơ bản đáp ứng nhu cầu vốn của các doanh nghiệp, vốn phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn Các dịch vụ giáo dục, y
tế, tư vấn pháp luật, bảo hiểm, du lịch tiếp tục phát triển phong phú, đa dạng
- Giao thông:
Tập trung ưu tiên đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông để tạo điều kiện thuận lợi cho việc kết nối với các tỉnh bạn và các vùng kinh tế động lực Đã phối hợp triển khai cải tạo, nâng cấp các quốc lộ 1, 31, 37; đầu tư nâng cấp nhiều tuyến đường tỉnh: 293, 398, 295B, 296, 297, 298, 299 Tập trung đầu tư nâng cấp, cải tạo hệ thống giao thông nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới Trong 5 năm đã cảitạo, nâng cấp, cứng hóa 215 km đường tỉnh; 240 km đường huyện; 695 km