Truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc ta là những thói quen về tư duy và hành động quân sự được hình thành và truyền lại qua mấy ngàn năm kiên trì đấu tranh chống ngoại xâm liên ti[r]
Trang 1http://diendankienthuc.net/diendan/nhan-vat-lich-su/9723-cac-nhan-vat-lich-su-viet-nam.html
Những bài hát truyền thống của QĐND Việt Nam
Tiến buớc dưới quân kỳ.
Tác giả: Doãn Nho.
Ngày sinh: 1 tháng 8 năm 1933 (75 tuổi) tại Hà Nội
Nghề nghiệp: Nhạc sĩ, đại tá quân đội
Tác phẩm nổi tiếng: Tiến bước dưới quân kỳ, Người con gái sông La, Năm anh em trên một chiếc xe tăng.
Tiến bước dưới quân kỳ là bài hát được nhạc sỹ Doãn Nho viết vào năm 1958 khi nhạc sỹ về thăm lại Điện Biên Phủ Bài hát được chọn là một trong những bài hát truyền thống của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Vừng đông đã hửng sáng núi non xanh ngàn trùng xa Tổ quốc bao la hiền hòa tươi thắm bóng cờ vờn bay trên cao muôn trái tim này hòa nhịp cùng ngàn lời ca trong sóng lúa lấp lánh sao bay trên quân kỳ Nghe rung núi đồi từng bước ta đi nhắc tới chiến công ngàn năm xưa Nhìn cờ hồng bay rực rỡ gương bao anh hùng bừng cháy trong tim Quên thân mình một niềm tin trong phong ba tô thắm tươi thêm màu cờ Giữ vững hòa bình dựng xây tương lai chân trời mới sáng ngời quân ta đi Ghi sâu trong lòng từng bước ta đi Mãi mãi vững tin Đảng tiền phong Bộ đội của ta đã mạnh lớn Lớp lớp sóng người vững bước dưới cờ vinh quang này là đoàn quân đã chiến thắng đây ánh quân kỳ chiếu sáng ngời Vừng đông đã hửng sáng núi non xanh ngàn trùng xa Tổ quốc bao la hiền hòa tươi thắm bóng cờ vờn bay trên cao muôn trái tim này hòa nhịp cùng ngàn lời ca trong sóng lúa lấp lánh sao bay trên quân kỳ Nghe rung núi đồi từng bước ta đi nhắc tới chiến công ngàn năm xưa Nhìn
cờ hồng bay rực rỡ gương bao anh hùng bừng cháy trong tim Quên thân mình một niềm tin trong phong ba tô thắm tươi thêm màu cờ Giữ vững hòa bình dựng xây tương lai chân trời mới sáng ngời quân ta đi Ghi sâu trong lòng từng bước ta đi Mãi mãi vững tin Đảng tiền phong Bộ đội của ta đã mạnh lớn Lớp lớp sóng người vững bước dưới cờ vinh quang này là đoàn quân đã chiến thắng đây ánh quân kỳ chiếu sáng ngời
Vì nhân dân quên mình
Nhạc sĩ : Doãn Quang Khải
Vì nhân dân quên mình là tên của một hành khúc do Doãn Quang Khải (học viên khóa 6, Trường lục quân Việt Nam) sáng tác vào tháng 5 năm 1951, nói lên nguồn
Trang 2gốc "từ nhân dân mà ra", mục đích "vì nhân dân mà chiến đấu" của Quân đội nhân dân Việt Nam, ca ngợi quan hệ gắn bó giữa quân đội với nhân dân, sự tin yêu của nhân dân với quân đội Bài hát được giải thưởng của Hội văn nghệ Việt Nam (1952-1953) Đây là một trong những bài hát truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam, được sử dụng làm nhạc hiệu cho các chương trình phát thanh quân đội nhân dân và truyền hình quân đội nhân dân.
Vì nhân dân quên mình
Vì nhân dân hy sinh
Anh em ơi, vì nhân dân quên mình
Đoàn Vệ quốc chúng ta ở nhân dân mà ra
Được dân mến, được dân tin muôn phần
Thề vì dân suốt đời
Thề tranh đấu không ngừng
Vì đất nước thân yêu mà hy sinh
Thề diệt hết đế quốc kia, giành tự do hòa bình
Đoàn Vệ quốc quên mình vì nhân dân
Thề noi gương Bác Hồ
Vì nhân dân gian lao
Trong bao năm Người tranh đấu không ngừng
Người chỉ biết có dân, ngày ngày lo sao cho
Toàn dân ấm, toàn dân no, được học hành
Người chỉ vui khi nào
Toàn dân hết đau thương
Người tranh đấu đem tương lai về cho dân
Đoàn Vệ quốc chúng ta là con yêu của Người
Thề noi gương suốt đời vì nhân dân
Bác đang cùng chúng cháu hành quân
Nhạc sĩ: Huy Thục
Đêm nay trên đường hành quân ra mặt trận.
Trùng trùng đoàn quân tiến bước theo con đường của Bác.
Nở ngàn hoa chiến công ta dâng lên người,
Dâng lên tới Đảng cả niềm tin chiếu sáng ngời.
Cờ sao quyết thắng lấp lánh soi sáng đường cháu đi.
Đi, ta đi giải phóng miền Nam,
Khi quê hương nhà vẫn còn bóng quân xâm lược thì ta còn chiến đấu quét sạch nó đi.
Lời Bác thúc giục chúng ta,
Chiến đấu cho quê nhà Nam Bắc hòa lời ca.
Năm xưa Bác cùng đoàn con đi chiến dịch.
Núi rừng vẫn nhớ, suối vẫn in bóng hình của Bác.
Cả đoàn quân tiến theo Người như thác đổ.
Trang 3Điện Biên năm nào vọng lời Bác giữa chiến hào.
Toàn quân hôm nay vẫn phất cao cờ đỏ Bác trao.
Đi ta đi giải phóng miền Nam,
Khi quê hương nhà vẫn còn bóng quân xâm lược thì ta còn chiến đấu quét sạch nó đi
Lời Bác thúc giục chúng ta.
Bác kính yêu đang cùng chúng cháu hành quân.
Hôm nay Bác gọi cả non sông đáp lời.
Giương lê xốc tới quyết tiến lên ta giành chiến thắng.
Đường hành quân dốc núi cao bao vực thẳm.
Gian nan nào bằng lòng hờn căm cao ngút trời.
Miền Nam ta ơi, hãy phất cao cờ đỏ thắm tươi.
Ta xông lên giải phóng thành đô, phá hết bót đồn quét sạch hết quân xâm lược.
Vì độc lập tự do quyết giành ấm no giành lấy những mùa xuân.
Bác kính yêu đang cùng chúng cháu hành quân
Tiến quân ca.
Nhạc sĩ Văn Cao
Tiến quân ca là quốc ca của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam kể từ năm
1946 khi Việt Nam còn là chính thể Dân Chủ Cộng Hòa Nói một cách chặt chẽ thì quốc ca Việt Nam là lời 1 của bài Tiến quân ca Tác giả bài hát là nhạc sĩ Văn Cao (1923-1995) Ngay từ khi ra đời bài hát được coi là bài hát chính thức của Mặt trận Việt Minh Trong thời kỳ Cách mạng tháng Tám năm 1945 thay vì "Đoàn quân Việt Nam đi", những người tham gia Việt Minh thường hát là "Đoàn quân Việt Minh đi".
Hoàn cảnh ra đời
Mùa đông năm 1944, Văn Cao gặp Vũ Quý, một cán bộ Việt minh, ở ga Hàng Cỏ
Vũ Quý là người từng quen biết Văn Cao và đã động viên ông viết những bài hát yêu nước như Đống Đa, Thăng Long hành khúc ca Vũ Quý đề nghị Văn Cao thoát
ly hoạt động cách mạng, và nhiệm vụ đầu tiên là sáng tác một bài hành khúc cho đội quân Việt Minh.
Văn Cao viết bài hát đó trong nhiều ngày tại căn gác số 45 Nguyễn Thượng Hiền Ông có viết lại trong một ghi chép tháng 7 năm 1976 như sau: " Tôi chỉ đang làm một bài hát Tôi chưa được biết chiến khu, chỉ biết những con đường Phố Ga, đường Hàng Bông, đường Bờ Hồ theo thói quen tôi đi Tôi chưa gặp các chiến sĩ cách mạng của chúng ta, trong khóa quân chính đầu tiên ấy, và biết họ hát như thế nào Ở đây đang nghĩ cách viết một bài hát thật giản dị cho họ có thể hát được " Nhạc sĩ Văn Cao
Văn Cao nói rằng, tên bài hát và lời ca của nó là một sự tiếp tục từ ca khúc Thăng Long hành khúc ca trước đó: "Cùng tiến bước về phương Thăng Long thành cao đứng" và bài Đống Đa: "Tiến quân hành khúc ca, thét vang rừng núi xa" Và ông
Trang 4đã rút lại những ca từ trong bài hát đó thành Tiến quân ca.
Bài hát viết xong, Văn Cao gặp và hát cho Vũ Quý nghe Vũ Quý rất hài lòng, giao cho Văn Cao tự tay viết bài hát lên đá in Và lần đầu tiên Tiến quân ca được in trên trang văn nghệ của báo Độc Lập tháng 11 năm 1944 bằng bản in đá do chính Văn Cao viết Nguyễn Đình Thi khi nghe Văn Cao hát bài hát này, đã xúc động thật sự,
và đề nghị mỗi người viết một bài hát nữa về mặt trận Việt Minh Sau đó Nguyễn Đình Thi viết được bài Diệt phát xít, Văn Cao viết thêm bài Chiến sĩ Việt Nam, cả hai bài hát này đều phổ biến rộng rãi trong công chúng.
1
Đoàn quân Việt Nam đi
Chung lòng cứu quốc
Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa
Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước,
Súng ngoài xa chen khúc quân hành ca.
Đường vinh quang xây xác quân thù,
Thắng gian lao cùng nhau lập chiến khu.
Vì nhân dân chiến đấu không ngừng,
Tiến mau ra sa trường,
Tiến lên, cùng tiến lên.
Nước non Việt Nam ta vững bền.
2.
Đoàn quân Việt Nam đi
Sao vàng phấp phới
Dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than
Cùng chung sức phấn đấu xây đời mới,
Đứng đều lên gông xích ta đập tan.
Từ bao lâu ta nuốt căm hờn,
Quyết hy sinh đời ta tươi thắm hơn.
Vì nhân dân chiến đấu không ngừng,
Tiến mau ra sa trường,
Tiến lên, cùng tiến lên.
Nước non Việt Nam ta vững bền
Trang 5NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU, LẤY YẾU THẮNG MẠNH (1)
Th.s Trần Thị Thanh Tâm
Ít và nhiều, yếu và mạnh là những khái niệm về sự so sánh thuần túy giữa hai bên: quân đội, dân tộc ta và quân đội xâm lược Theo quy luật khắc nghiệt của chiến tranh là mạnh được, yếu thua Muốn vậy, vấn đề đặt ra cho các thống soái quân sự là phải tìm cách chuyền hóa ít thành nhiều, yếu thành mạnh, làm ưu thế áp đảo để đánh thắng Đây là một thành công lớn của dân tộc ta qua hàng mấy ngàn năm chống ngoại xâm và đã tạo dựng nên một truyền thống đánh giặc giữ nước cực kì quý báu là lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh
Quan niệm của các nhà tư tưởng quân sự trên thế giới và ở nước ta
Tôn Tử thời Xuân Thu (Trung Quốc) chủ trương nhiều thắng ít từ quy mô chiến lược đến quy
mô chiến thuật “Phương pháp dùng binh, có binh lực gấp 10 lần địch thì bao vây, gấp 5 lần địch thì tiến công, gấp hai lần địch thì chia cắt, binh lực ngang nhau thì phải biết đánh, binh lực ít hơn thì phải biết lánh, binh lực yếu hơn thì phải biết tránh cho xa” Tôn Tử còn cho rằng: không thể lấy
ít địch nhiều ở quy mô chiến lược được, “Một quân đội nhỏ yếu mà liều lĩnh cố đánh sẽ bị kẻ địch lớn mạnh bắt làm tù binh”
Napoleon (thế kỉ XIX ở Pháp) chủ trương ít thắng nhiều ở quy mô chiến lược, nhiều thắng ít
ở quy mô chiến thuật “Cái tinh túy nhất của chiến lược Napoleon là gì? Về chiến lược dám lấy ít đánh nhiều, nhưng về chiến thuật bao giờ cũng phải tập trung ưu thế áp đảo trong một thời điểm nhất định để giành thắng lợi quyết định”
Các thống soái và các nhà tư tưởng quân sự của dân tộc ta cho rằng có thể lấy ít thắng nhiều, lấy yếu đánh mạnh ở cả quy mô chiến lược và chiến thuật
Lí Thường Kiệt ở thế kỉ XI chủ trương: “Ngồi chờ giặc đến chẳng thà đánh trước làm nhụt nhuệ khí của chúng”
Trần Quốc Tuấn thế kỉ XIII nói: “Quân giặc cậy vào trường trận, quân ta cậy có đoản binh Đem đoản binh chống lại trường trận là việc thường trong binh pháp”
Nguyễn Trãi thế kỉ XV đã tổng kết:
“Lấy yếu đánh mạnh, hay đánh bất ngờ Lấy ít địch nhiều, thường dùng mai phục”
Ông còn giải thích:
“Kẻ nhân lấy yếu chống mạnh Người nghĩa lấy ít địch nhiều” [4, tr.36 – 37]
Cơ sở thực tiễn của nghệ thuật “Lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh”
Trang 6Lịch sử quân sự thế giới có biết bao ví dụ về lấy mạnh thắng yếu, lấy nhiều thắng ít hoặc lấy mạnh thắng mạnh, lấy đông thắng đông nhưng chưa có nhiều ví dụ về lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh như Việt Nam và các quốc gia – dân tộc: Triều Tiên, Cuba, Anbani các nước này phải làm chiến tranh vệ quốc và giải phóng trong điều kiện tương quan lực lượng chênh lệch:
Quân xâm lược: đất rộng, người đông, quân nhiều, giàu tiềm năng kinh tế
Việt Nam và các dân tộc nói trên: đất không rộng, người không đông, quân ít, kinh tế nghèo nàn lạc hận hơn kẻ xâm lược
Song chưa có quốc gia dân tộc nào phải đánh nhau với nhiều đạo quân xâm lược, có lúc đánh đến 2 – 3 lần và phải đánh nhau với tương quan lực lượng chênh lệch như dân tộc ta
Từ thực tiễn: “Lấy nhỏ đánh lớn”, “lấy nhỏ thắng lớn” hàng nghìn năm ấy, dân tộc ta đã đúc kết nên một kho tàng kinh nghiệm về đánh giặc giữ nước Và xây dựng nên lí luận về nghệ thuật quân sự đặc sắc và độc đáo Việt Nam cùng với lịch sử nghệ thuật quân sự của nó
NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU, LẤY YẾU THẮNG MẠNH (2)
Th.s Trần Thị Thanh Tâm
Những cách thức thực hiện nghệ thuật quân sự “lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh”.
Tư tưởng chỉ đạo: tư tưởng chiến lược tiến công Đó là tư tưởng cơ bản xuyên suốt mọi loại hình đấu tranh vũ trang chống xâm lược và áp bức xã hội của dân tộc ta Nhất thiết không phòng ngự, phòng ngự là chết Chỉ có hai cuộc chiến tranh vệ quốc thời nhà Hồ (1407) và thời nhà Nguyễn (1858 – 1884) là thực hiện chiến lược phòng ngự đã thất bại
Các hình thức thực hiện chiến lược tiến công Vì so sánh lực lượng không cho phép tiến công trực tiếp, chính thức nên dân tộc ta phải tiến công qua các khâu trung gian như phòng ngự, rút lui cuối cùng là phản công chiến lược giành thắng lợi Chiến lược phản công (gồm 2 giai đoạn) là hình thức phổ biến và đặc sắc ở nước ta Phòng ngự chỉ là phương tiện, tiến công là mục đích Tấn công toàn diện, đều khắp trên các mặt trận: chính trị, quân sự, binh vận, ngoại giao
Những điều kiện để thực hiện: Phải có chính nghĩa, Nguyễn Trãi viết: “phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu” Phải có quân đội tinh nhuệ, Trần Quốc Tuấn viết: “quân cốt ở tinh, không quý chỗ nhiều, như Bồ Kiên có trăm vạn quân cũng chẳng làm gì được” Vận dụng cách đánh thích hợp, Nguyễn Xuân Ôn – nhà tư tưởng ở thế kỉ XIX chủ trương: tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, bỏ chỗ giặc sở trường, đánh chỗ giặc sở đoản là
lẽ thường của nhà binh
Chọn địa hình, địa thế có lợi:
Nguyễn Trãi có câu thơ:
“Quan hà bách nhị do thiên thuyết
Trang 7Hào kiệt công danh thử địa tầng”
(Quan hà hiểm, hai người chống trăm người, do trời xếp đặt Đất ấy là nơi lập công trạng của người hào kiệt)
Suy nghĩ nhiều, nỗ lực lớn Trần Quốc Tuấn nêu rõ: “ Lấy quân ít mà thắng địch nhiều, không khó nhọc không được”
Vấn đề chủ yếu là tìm ra những cách đánh thích hợp
Con người và vũ khí vốn là hai thành phần chủ yếu của đấu tranh vũ trang Trong các cuộc chiến tranh yêu nước của dân tộc, thế kỉ XIX trở về trước vũ khí hai bên tham chiến đều như nhau, nhưng con người Việt Nam thì luôn chiếm ưu thế về tinh thần, chính trị Trên cơ sở đó, dân tộc ta
đã suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo ra những cách đánh thích hợp mà quân xâm lược không làm được Nội dung cách đánh: hai phương thức tác chiến cơ bản là phân tán đánh nhỏ và tập trung đánh lớn
Phân tán đánh nhỏ: cách đánh của quần chúng vũ trang, của các đội quân hoạt động lẻ, đánh địch thường xuyên khắp nơi Trong khởi nghĩa, đó là sự nổi dậy của quần chúng vũ trang phá vỡ chính quyền địch, chuyển thành cuộc chiến tranh nhỏ, thay đổi cán cân lực lượng địch, ta
Ví dụ như khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 40, khởi nghĩa Lý Bí năm 542 Trong chiến tranh bảo vệ
Tổ quốc, phân tán đánh nhỏ cũng có hiệu quả lớn Đó là hoạt động của nhân dân vũ trang trong chiến tranh chống Tần (218 - 208 TCN), chiến tranh nhỏ của Triệu Quang Phục (547 – 550), cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống quân Nguyên Mông (1258), Hà Bổng diệt địch ở Quy Hóa, Hà Chương diệt địch ở Phù Ninh, đều là cách phân tán đánh nhỏ
Tập trung đánh lớn: phương thức hoạt động của quân chủ lực, quân cơ động trên phạm vi
cả nước, có nhiều binh chủng, quân chủng tham gia, đánh địch tại các địa điểm và thời điểm quan trọng hoặc quyết định Trong chiến tranh giữ nước đó là trận đánh quanh thành Cổ Loa dưới thời
An Dương Vương, những trận Lạc Bãng, Điển Triệt, dưới thời Hai Bà Trưng, Lý Bí Từ thời Dương Đình Nghệ trở về trước, tập trung đánh lớn do bộ binh đảm nhiệm Từ thời Ngô Quyền đã tập trung đánh lớn bằng thủy quân Từ cuối thế kỉ X trở đi tác chiến lớn đã đạt quy mô lớn, trình độ chính quy cho từng loại quân chủng, binh chủng (bộ binh, tượng binh, pháo binh, kỵ binh, có khi
cả thủy quân) Thời Nguyễn Huệ tập trung đánh lớn đã trở thành tác chiến hợp đồng binh chủng phức tạp hơn nhiều so với mấy thế kỉ trước Trong khởi nghĩa tập trung đánh lớn do nghĩa quân tiến hành nhằm đập tan chính quyền quân đội địch như trận Luy Lâu dưới thời Hai Bà Trưng, trận Long Biên dưới thời Lý Bí, trận Tống Bình dưới thời Phùng Hưng, Trong chiến tranh giải phóng, nhất là ở thế kỉ XV, những trận đánh tập trung ngày càng nhiều, quy mô ngày càng lớn Tiêu biểu nhất là trận Tốt Động - Chúc Động, Chi Lăng – Xương Giang
Lịch sử quân sự đã chứng minh rõ hai phương thức phân tán nhỏ và tập trung đánh lớn đều
có giá trị như nhau, tồn tại song song, tác động lẫn nhau, đưa dân tộc ta đến toàn thắng, dù là chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, chiến tranh giải phóng hay khởi nghĩa vũ trang
Trang 8Hình thức cách đánh: hai hình thức tác chiến chủ yếu là tác chiến tại chỗ và tác chiến cơ động Người dân Việt Nam, chủ yếu là nông dân, vừa cày ruộng, vừa cầm vũ khí đánh giặc ngay tại làng, xã Các đạo phong quân (quân địa phương) có mặt trên mỗi huyện, mỗi lộ Du quân (quân chính quy) cơ động trên những khu vực lớn và trên cả nước Tất cả các hình thức tác chiến trên đã sáng tạo nên một hình thức tác chiến rất Việt Nam Đó là tác chiến trên không gian rộng lớn, gọi là chiến tranh bề mặt (khác với chiến tranh tuyến thông thường) Chiến tranh bề mặt bao gồm hai hình thức tác chiến: tác chiến tại chỗ, tác chiến cơ động [3,tr.40]
Tác chiến tại chỗ bao gồm hai phạm vi:
Tác chiến làng xã: hình thức tác chiến chủ yếu của dân binh và dân chúng vũ trang, lấy làng
xã chiến đấu làm bàn đạp tấn công Tháng 6 năm 1285, Trần Quang Khải dựa vào làng chiến đấu vùng Chương Dương để tiêu diệt các đạo kị binh của Thoát Hoan từ Thăng Long kéo đến phản kích Cụm chiến đấu của cụm làng Ba Đình là một trong những trang sử chói lọi của kiểu làng chiến đấu Việt Nam Làng Nguyên Xá, làng Cự Nẫm, làng Cảnh Dương đều là những làng chiến đấu nổi tiếng trong thời hiện đại
Tác chiến trong vùng: hình thức tác chiến chủ yếu của phong quân và dân binh trong từng
lộ, từng huyện Đó là sự kết hợp chặt chẽ của tác chiến làng xã trên toàn lộ, toàn huyện với tác chiến cơ động của phong quân trên địa bàn tương ứng
Trong chiến tranh giữ nước ở thế kỉ XIII, những lộ Lạng Giang, Quy Hóa, Phú Ninh với các tướng chỉ huy phong quân và dân binh như Nguyễn Lộc, Nguyễn Truyền, Hà Bổng, Hà Chương,
ở thế kỉ XVIII, tại vùng Tuyên Quang, trước sức tiến công của đội dân binh người Tày, dưới sự chỉ huy của Ma Doãn Bảo và ở thế kỉ XIX, tại vùng Đà Giang, những đội nghĩa quân Đốc Ngữ đã gây cho địch những tổn thất đáng kể
Về mặt chiến lược, tác chiến tại chỗ là phương thức hành động của quân và dân ta nhằm chống phá âm mưu “bình định” của địch, tiêu diệt từng phần đội quân xâm lược Do đó, nó không thuần túy là tác chiến quân sự mà còn là biện pháp chiến lược đấu tranh với địch trên cả hai mặt chính trị và quân sự Tác chiến tại chỗ là hình thức tác chiến thực chất của chiến tranh nhân dân trong lịch sử dân tộc ta
Tác chiến cơ động: là hình thức tác chiến chủ yếu của quân chủ lực với đặc điểm là tình huống thay đổi nhanh chóng Những hành động quân sự được triển khai đồng thời trên cả chính diện lẫn chiều sâu với chiến tuyến không ổn định, nhằm phục vụ cho những mục đích chiến lược kiên quyết của chiến tranh yêu nước Dưới hình thức tác chiến này, quân chủ lực của ta thường vận dụng lối đánh rất linh hoạt như mai phục, bất ngờ, tuyến hậu cần, diệt lực lượng tinh nhuệ, dùng mưu trí để tập kết, đánh úp, tác chiến theo lối chính – kỳ
Tác chiến theo lối chính là đánh một cách đường thẳng, chính chính, có quy củ, đánh theo cách dàn trận thông thường của quân đội chính quy, đánh thẳng vào phía trước Lực lượng đánh theo lối này là chính binh Trái ngược với chính là kỳ Đánh theo lối kỳ là đánh một cách linh hoạt,
Trang 9thường là bí mật, bất ngờ, vượt qua lối đánh thông thường, đánh vào sau lưng, cạnh vào sườn, đánh từ trung tâm thế trận địch Lực lượng đánh theo lối này gọi là kỳ binh
Chính và kỳ là hai thủ đoạn tác chiến chủ yếu trên chiến địa, được Tôn Tử nêu lên lần đầu tiên trong cuốn binh pháp “Binh pháp thập tam thiên” Kế thừa và phát triển tư tưởng của Tôn Tử, Trần Quốc Tuấn đưa ra lập luận mới “quân gấp mười thì bao vây, gấp năm thì tiến đánh, đó là quân chính ’, “phàm đánh thắng địch phải nhờ ở kỳ” Trên cơ sở tư tưởng quân sự của bậc tiền bối, Nguyễn Trãi đưa ra một nhận xét khái quát: “ trước sau hơn mấy chục trận, đều đặt phục ra
kỳ, tránh giặc hăng, đánh giặc mệt, lấy ít đánh nhiều, lấy yếu thắng mạnh”
Qua cách lập luận của hai nhà tư tưởng quân sự lớn của dân tộc, chúng ta thấy rõ dù là chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hay chiến tranh giải phóng dân tộc ta đều không muốn thực hiện cách đánh đường đường, chính chính mà thiên về lối đánh bí mật, bất ngờ
Tạo thế và lực để lấy ít đánh nhiều
Sau khi đã tìm ra những cách đánh thích hợp thì việc tạo ra thế và lực là điều rất cần thiết Thế và lực dựa vào nhau, nâng hiệu suất chiến đấu của những người cầm vũ khí lên gấp bội
Về phương diện vật lí, thế là “tổng thể nói chung các quan hệ về vị trí tạo thành điều kiện chung có lợi hay không có lợi cho một hoạt động nào đó của con người” [6,tr.901]
Về phương diện quân sự, thế trận hình thành ở ba cấp độ lớn nhỏ khác nhau: thế trận của toàn cuộc chiến tranh – thế trận chiến lược, thế trận chiến dịch và thế trận chiến thuật – đội hình chiến đấu Chúng ta dừng lại ở thế trận chiến lược
Thế trận chiến lược là gì? Đó là “sự thể hiện cụ thể của chủ trương, quyết tâm và kế hoạch chiến lược, là sự bày binh, bố trận để tiến hành tác chiến, tiêu diệt quân địch” [5,tr.145]
Để đánh thắng những đội quân xâm lược hùng mạnh, lắm người, nhiều của, thông thường thế trận của dân tộc ta là sự “bày binh, bố trận” trên cả nước, đánh tại chỗ, đánh trên không gian lớn, đánh từ “làng” đến “nước” Ra sức tăng cường lực cả chất lượng lẫn số lượng, nâng thế lên một vị trí tương ứng, lấy thế bổ sung cho lực, tạo thành thế - lực mạnh để áp đảo địch Thế trận
là một sáng tạo độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam Thế trận đó thường được dàn sẵn một cách cơ bản trước khi nổ ra chiến tranh hay khởi nghĩa, được giữ vững, điều chỉnh trong tiến trình chiến tranh hay khởi nghĩa Nó gồm 3 nội dung lớn:
Thứ nhất là “ngụ binh ư nông” Đây là nội dung công việc xây dựng thế - lực vững mạnh trên nền tảng làng – xã Nông dân, nông thôn, nông nghiệp trên cả nước chính là địa bàn gửi chiến tranh, quân đội tạo điều kiện để “biến khối nhỏ thành khối lớn” nhờ sự kết hợp giữa quân đội và nhân dân trong sản xuất và đánh giặc giữ làng Thế trận đó được xây dựng thành công nổi bật thời Lý, Trần (chống Tống, Nguyên) và tiếp tục thời Lê (chống quân Minh) Trên phạm vi cả nước, hàng ngàn, hàng vạn làng chiến đấu đó trùng trùng, điệp điệp tỏa rộng khắp nơi, vững mạnh vô cùng
Trang 10Thứ hai, mỗi lộ, đạo là một trụ cột, một phên dậu của đất nước Trong thế trận chiến lược của ta, mỗi lộ, đạo được đặt vào một vị trí hết sức quan trọng Thông qua cấp huyện để chỉ huy các làng xã chiến đấu Mỗi lộ, đạo nắm chắc phong quân của mình – quân đội của nhà nước nhưng tác chiến ở địa phương – tiến hành diệt giặc ngay tại chỗ Huy động được nhiều nhân tài, vật lực ở địa phương Khai thác đầy đủ những thuận lợi của thế đất trong vùng Có hàng chục, hàng trăm làng xã chiến đấu làm chỗ dựa Có phong quân làm nòng cốt Lộ, đạo thực sự trở thành yếu tố chiến lược trong thế trận làng nước, một thế lực mạnh đảm bảo việc thực hiện cả nước đánh giặc Tính chất thế công phá nổi: khi địch đánh vào lộ, đạo bị quân và dân trong lộ, đạo chống lại mạnh mẽ; Khi địch tiến đánh sang lộ, đạo khác sẽ bị các lộ, đạo xung quanh quấy rối, uy hiếp ở cạnh sườn và sau lưng
Thứ ba, là sự dàn thế trận của các khối du quân Các khối du quân lục và thủy trong khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng là các đạo nghĩa quân – là phương tiện thực chất của dân tộc thực hành tiến công chiến lược tiêu diệt địch Trong khởi nghĩa Hai Bà Trưng, các đạo nghĩa quân hình thành thế bao vây các mặt đối với đạo quân chủ lực và trung tâm trấn trị của địch ở Luy Lâu Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở thế kỉ XIII, các khối du quân dàn thế trận, mặt chính của chúng đều hướng về biên giới phía Bắc Các khối du quân này có lợi thế là không phải làm nhiệm
vụ phòng thủ địa phương (kể cả du quân đóng trên địa bàn chiến lược) Được ưu tiên về vũ khí, trang bị, hậu cần Là lực lượng thiện chiến, làm nhiệm vụ đánh địch trên nhiều khu vực và chiếm đóng địa bàn chiến lược để phối hợp với các khối du quân khác hợp thành mũi nhọn lao vào quân địch
Ba nội dung trên là những nhân tố quan trọng nhất, gắn bó khăng khít với nhau trong thế trận làng – nước, tạo thành một thế trận quân sự độc đáo, sử dụng mọi lực lượng dân tộc trên toàn bộ bề mặt đất nước, biến hết thảy không gian của Tổ quốc thành một thiên la – địa võng để quyết chiến, quyết thắng quân xâm lược Thế trận đó được Trần Quốc Tuấn mệnh danh là “thế nhân trận” (thế trận hình người) “Hình trận dáng như chữ nhân, nghịch cũng như chữ nhân, tiến
cũng là chữ nhân, thoái cũng là chữ nhân, họp lại cộng làm một người, tan ra cũng làm một
người, nghìn muôn người hợp lại làm một trận, nghìn muôn người cộng làm một người” [3,tr.43]
Đó chính là thế trận chiến tranh nhân dân Trong chiến tranh giải phóng thế trận này tạo điều kiện cho quân và dân ta căng địch ra mà đánh, tiêu diệt địch, vừa giải phóng đất và giành quyền làm chủ Thế trận đó còn tạo điều kiện đứng vững cho khởi nghĩa vũ trang và toàn dân nổi dậy trong một vài khu vực phát triển thế tiến công ra khắp toàn quốc Như cuộc chiến tranh giải phóng ở thế kỉ XV, cuộc chiến tranh giải phóng kết hợp với chiến tranh vệ quốc ở thế kỉ XVIII hay trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước (Đồng khởi 1960, Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1968) Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đó là nghệ thuật nhử địch vào sâu để tiêu diệt đại bộ phận quân địch, đập tan ý chí xâm lược của chúng Điển hình là cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông năm 1285 và 1288, cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mãn Thanh 1789 Địch cần tiến sâu vào hòng đập tan chủ lực và đầu não kháng chiến của ta Còn ta phải nhử địch vào sâu