3.Hình thức thứ 3 : Chứng minh Đó là hình thức trong đó học sinh thu được kiến thức về các hiện tượng hoặc tính chất của sự vật trước tiên từ lời giáo viên, còn việc biểu diễn các phương[r]
Trang 15.1.4.Thí nghiệm biểu diễn của giáo viên.
5.1.4.1 Những yêu cầu sư phạm về kĩ thuật biểu diễn thí nghiệm.
- Phải đảm bảo an toàn
+ Các chất độc dễ nổ không dùng lượng lớn
+ Thận trọng nghiêm túc theo đúng các quy định về bảo hiểm
- Đảm bảo tính thành công của thí nghiệm
+ Nắm vững kĩ thuật thí nghiệm
+ Thao tác nhanh chóng, khéo léo
- Thí nghiệm phải rõ ràng,học sinh dễ quan sát
+ Thí nghiệm không bị che lấp
+ Dụng cụ dễ nhìn
+ Dùng phông màu sắc thích hợp
- Thí nghiệm phải đơn giản,dễ làm,tiết kiệm
- Lượng thí nghiệm vừa phải
- Cần kết hợp với bài giảng
5.1.4.2.Các hình thức phối hợp lời giảng của giáo viên với việc biểu diễn thí nghiệm
Việc biểu diễn mọi phương tiện trực quan đều kèm theo, phối hợp với lời giảng của giáo viên theo nhiều cách khác nhau.Từ việc nghiên cứu lý luận dạy học người ta phân biệt 4 hình thức phối hợp lời giảng giáo viên với biểu diễn các phương tiện trực quan
1.Hình thức thứ nhất: Quan sát trực tiếp
Trang 2Giáo viên dùng lời nói hướng dẫn học sinh quan sát, học sinh nhờ sự quan sát rút ra được những kiến thức về những tính chất có thể tri giác trực tiếp được đối tượng quan sát
Đặc điểm:
- Mức độ thông tin dễ
- Nguồn cung cấp thông tin là thí nghiệm
- Học sinh chủ động tìm ra tri thức Phát huy được tính ,tích cực ,chủ động của học sinh
- Mức độ nhận thức của học sinh mới chỉ là nhận thức cảm tính
Áp dụng cho các đối tượng và quá trình đơn giản, có thể rút ra được kết luận nhờ quan sát trực tiếp.Ví dụ khi nghiên cứu tính chất bề ngoài của các đối tượng như màu sắc trạng thái, hình dạng …
VD: Nghiên cứu tính chất vật lý của nhôm
Giáo viên đưa ra một mẫu nhôm mỏng đề nghị học sinh quan sát
Học sinh 1: Nhôm là chất rắn ở điều kiện thường
Học sinh 2: Nhôm có tính ánh kim và màu trắng bạc
Học sinh 3: Ta có thể dát mỏng nhôm
Giáo viên: Uốn cong mẫu nhôm cho học sinh quan sát
Học sinh 4: Nhôm có tính chất mềm,dễ kéo sợi
Giáo viên: Hơ nhẹ mẩu nhôm trên ngọn lửa đèn cồn,một lát sau cho học sinh chạm tay
vào mẩu nhôm
Học sinh 5: Chạm tay vào mẩu Nhôm thấy nóng Học sinh kết luận Nhôm dẫn nhiệt
tốt
Giáo viên: Giới thiệu cho học sinh các dây dẫn điện làm từ Nhôm.
Học sinh 6: Nhôm dẫn điện tốt
Trang 3Giáo viên: Như vậy các em đã biết gì về tính chất vật lý của nhôm?
Học sinh 7: Tổng kết lại ý kiến của những học sinh trên
2 Hình thức thứ 2: Qui nạp
Giáo viên dùng lời nói hướng dẫn học sinh quan sát các sự vật và các quá trình và trên
cơ sở những kiến thức sẵn có của học sinh,giáo viên hướng dẫn họ làm sáng tỏ và trình bày ra được những mối liên hệ giữa các hiện tượng mà họ không thể nhận thấy trong quá trình tri giác trực tiếp
Đặc điểm:
- Mức độ thông tin phức tạp
- Học sinh chủ động tìm ra tri thức , phát huy được tính tích cực chủ động của mình
- Nguồn cung cấp thông tin là thí nghiệm và hệ thống câu hỏi gợi ý của giáo viên
- Mức độ nhận thức của học sinh không chỉ dừng lại ở mức độ cảm tính nữa Học sinh nhận thức lý tính hơn ,huy động những tri thức đã có ,qua quá trình tư duy tìm tòi sáng tạo mới nhận thức đựơc bản chất vấn đề
Áp dụng cho các đối tượng và quá trình phức tạp.Ở đây lời nói của giáo viên có chức năng hướng dẫn học sinh quan sát, gợi ý học sinh tái hiện kiến thức cũ có liên quan để giải thích hiện tượng, hướng dẫn học sinh tự giải thích hiện tượng và tự đi đến kết luận
VD: Nghiên cứu tính chất lưỡng tính của Nhôm( tiết 48 trong bài Nhôm và hợp
chất của nhôm –Chương trình lớp 12 cơ bản)
Giáo viên cho 2 mẫu nhôm vào 2 ống nghiệm.ống 1 đựng dung dịch NaOH.ống 2
đựng dung dịch HCl Học sinh sẽ quan sát thấy miếng nhôm tan dần ở cả hai ống nghiệm
và có bọt khí thoát ra
GV: Yêu cầu học sinh viết phương trình phản ứng của Al với dung dich HCl
HS: Từ những kiến thức đã học ở chương đại cương về kim loại(tiết 26, chương trình
lớp 12 cơ bản) Học sinh đã nắm được tính chất tác dụng với axit của kim loại Từ đó học sinh viết được ptpư:
2Al + 6HCl → 2AlCl3 + 3H2↑
Trang 4GV: Yêu cầu học sinh đọc lại kiến thức về kim loại , và dự đoán phản ứng Al với dung
dịch NaOH có xảy ra hay không?
HS: Với những kiến thức đang có học sinh trả lời là không có phản ứng xảy ra
GV: Vậy tại sao khi ta cho mẩu Al vào dd NaOH lại có hiện tượng mẩu Al tan dần và có
bọt khí thoát ra? Phải chăng ngoài tính chất của kim loại Al còn có tính chất khác?
GV: Yêu cầu học sinh viết cấu hình e của Al.Và cho nhận xét về số e lớp ngoài cùng ,
suy đoán tính chất kim loại của Al với kim loại kiềm và kiềm thổ?
HS: 13Al : 1s2 2s2 2p6 3s2 3p1
Nhôm có 3e Lớp ngoài cùng Tính kim loại của Al thể hiện yếu hơn kim loại kiềm
và kiềm thổ.Do đó Nhôm vừa thể hiện tính chất của kim loại vừa thể hiện tính chất của phi kim, vì thế Al có thể tác dụng với dd NaOH
Từ những kiến thức về công thức phân tử, tính chất hóa học của nhôm học sinh biết bọt khí thoát ra là hidro Nhưng học sinh chưa hiểu được cơ chế xảy ra phản ứng_những điều không tri giác trực tiếp được
Khi đó giáo viên phải hướng dẫn học sinh đọc lại tính chất bảo vệ bền vững của lớp màng oxit Al2O3; Tính chất lưỡng tính của Al2O3, Al(OH)3và tác dụng của Al với H2O.Từ
đó học sinh mới hiểu được cơ chế xảy ra phản ứng:
Đầu tiên màng nhôm oxit Al2O3 bị hòa tan bởi dung dịch NaOH do tính chất lưỡng tính
Al2O3 + 2NaOH→ 2NaAlO2 +H2O
Sau đó nhôm tác dụng với nước tạo ra hidro và Al(OH)3
2 Al + 6H2O → 2Al(OH)3 +3 H2↑
Do tính chất lưỡng tính Al(OH)3 tan trong dung dịch NaOH dư
Al(OH)3 + NaOH → NaAlO2 + 2 H2O
Trang 5Như vậy, ngoài sự quan sát trực tiếp giáo viên còn hướng dẫn cung cấp những tri thức để học sinh có thể nắm được cơ chế xảy ra phản ứng Như vậy từ những kiến thức sẵn có , từ việc làm thí nghiệm và hướng dẫn của giáo viên học sinh đã nắm được tính chất lưỡng tính của Al
3.Hình thức thứ 3 : Chứng minh
Đó là hình thức trong đó học sinh thu được kiến thức về các hiện tượng hoặc tính chất của sự vật trước tiên từ lời giáo viên, còn việc biểu diễn các phương tiện trực quan nhằm khẳng định hoặc cụ thể hóa các thông báo bằng lời của giáo viên
Đặc điểm:
- Mức độ thông tin dễ
- Nguồn cung cấp thông tin là giáo viên
- Mức độ nhận thức của học sinh mới chỉ là nhận thức cảm tính
- Học sinh không chủ động tìm ra tri thức Học sinh lĩnh hội tri thức thụ động,không phát huy được tính tích cực , sáng tạo
VD: Nhận biết ion Cl ─ trong dung dịch ( Tiết 62 trong bài nhận biết một số ion
trong dung dịch –Chương trình lớp 12 cơ bản)
- GV nêu cho học sinh cách nhận biết ion Cl ─ : Để nhận biết ion Cl─ trong dung dịch
ta dùng thuốc thử là ion Ag+ (AgNO3).Cho dung dịch AgNO3 vào dung dịch nếu thấy xuất hiện kết tủa màu trắng nhận biết được trong dung dịch có ion Cl─
PTPƯ: Cl ─ + Ag + → AgCl↓
- Sau đó GV thực hiện thí nghiệm nhỏ từ từ dung dich AgNO3 vào dung dịch chứa
ion Cl ─ Cho học sinh quan sát , học sinh quan sát thấy có kết tủa màu trắng
- Từ đó học sinh thấy đựoc kiến thức gv cung cấp ban đầu là chính xác Tin tưởng
vào tri thức vừa được cung cấp
4.Hình thức thứ 4 :Diễn dịch
Giáo viên mô tả các sự vật và quá trình.Giáo viên nhắc lại những kiến thức đã học có
liên quan dùng để giải thích bản chất của hiện tượng Giáo viên giải thích hiện tượng rồi
Trang 6rút ra những mối liên hệ giữa các hiện tượng mà học sinh không thể nhận thấy được trong quan sát trực tiếp Sau đó giáo viên biểu diễn thí nghiệm để minh họa
Đặc điểm:
- Mức độ thông tin phức tạp
- Học sinh nhận thức tri thức một cách bị động
- Nguồn cung cấp thông tin là giáo viên và liên hệ kiến thức cũ
- Mức độ nhận thức của học sinh là lý tính
VD: Tính chất oxy hoá của dd H2SO4 đặc nóng
GV: Nhắc lại tính chất axit của dd H2SO4 loãng.Đề nghị học sinh viết ptpư của axit đó với kim loại và cho nhận xét
HS: Fe + H 2 SO 4 → FeSO 4 + H 2↑
Cu + H 2 SO 4 → Không xảy ra
Kim loại đứng trước H trong dãy điện hoá tác dụng với axit H2SO4 tạo khí H2
GV: DD axit H2SO4 đặc nóng không chỉ thể hiện tính axit mà còn thể hiện tính oxy hoá.Nó có thể tác dụng với các kim loại đứng sau H trong dãy điện hoá và tạo ra các sản phẩm khử của S : S, SO2, H2S…
Cu + H2SO4 → CuSO4 + SO2 ↑ + H2O
GV: Thực hiện thí nghiệm : Cho mẩu Cu vào dung dịch H2SO4 đặc nóng , cho học sinh quan sát
HS: Quan sát thấy mẩu Cu tan dần và có khí mùi xốc thoát ra, dung dịch chuyển sang màu xanh
Học sinh quan sát hiện tượng thấy đúng như lý thuyết đã được học giải thích và hiểu được các quá trình không thể tri giác trực tiếp bằng mắt Bằng việc quan sát giáo viên làm thí nghiệm , nhận định khí thoát ra là SO2, miếng Cu tan dần học sinh sẽ khẳng định những kết luận đuợc học ở trên
Trang 7Như vậy: Trong 4 hình thức biểu diễn thí nghiệm thì 2 hình thức đầu là biểu diễn thí
nghiệm theo phương pháp nghiên cứu , hai hình thức sau là theo hình thức minh hoạ.Biểu diễn theo hình thức nghiên cứu là phương pháp tích cực , tính chất nhận thức của học sinh là chủ động và tự lực giành lấy kiến thức.Biểu diễn theo hình thức minh hoạ thì hoạt động nhận thức của học sinh là thụ động , ở đây học sinh thu đựơc kiến thức trước tiên từ lời nói của giáo viên, còn việc biêủ diễn thí nghiệm chỉ nhằm khẳng định hoặc cụ thể thông báo bằng lời của giáo viên Biểu diễn theo phương pháp minh hoạ tốn ít thời gian hơn so với phương pháp nghiên cứu
Trong thực tế dạy học việc biểu diễn thí nghiệm theo phương pháp nghiên cứu hay minh hoạ phụ thuộc vào vấn đề nghiên cứu là đơn giản hay phức tạp Nếu học sinh đã có kĩ năng quan sát và suy luận tốt , có yêu cầu cao về sự phát triển tính tự lực của hoạ sinh và có điều kiện thời gian thì nên biểu diễn theo phương pháp nghiên cứu Những nội dung khó phức tạp nên dùng phương pháp minh hoạ Điều quan trọng là phải biết sử dụng hợp lí các phương pháp trên