vì vậy từ những thực tế trên, tôi chọn đề tài “Đánh giá tác động của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đến hoạt động sinh kế của cộng đồng dân cư xã Mường Nhé, huyện Mường
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM –––––––––––––––––––––––
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Khóa học : 2015-2019
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM –––––––––––––––––––––––
NGUYỄN BẢO NGỌC
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG SINH KẾ CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ XÃ MƯỜNG NHÉ, HUYỆN MƯỜNG NHÉ,
TỈNH ĐIỆN BIÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Khóa học : 2015-2019 Giảng viên hướng dẫn : TS Lê Văn Phúc
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn
toàn trách nhiệm
Thái Nguyên, ngày tháng 6 năm 2019
XÁC NHẬN CỦA GVHD SINH VIÊN THỰC HIỆN
Nguyễn Bảo Ngọc
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN DIỆN
(Ký, họ và tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên em đã nhận được sự dạy bảo ân cần của các thầy cô trong khoa Lâm nghiệp và các thầy cô giáo khác trong trường, đã tạo dựng cho em những kiến thức cơ bản giúp em có được sự tự tin cần thiết để vững tâm bước vào cuộc sống
Có được kết quả như ngày hôm nay em xin chân thành cảm ơn các thầy
cô giáo trong khoa Lâm nghiệp, đặc biệt là TS Lê Văn Phúc đã tận tình giúp
đỡ em trong đợt thực tập vừa qua
Em xin chân thành cảm ơn các cán bộ kiểm lâm ở hạt kiểm lâm huyện Mường Nhé và các cán bộ KBTTN huyện Mường Nhé đã tận tình giúp đỡ Kính chúc toàn thể cán bộ hạt kiểm lâm huyện Mường Nhé và KBTTN sức khỏe, công tác tốt và đóng góp nhiều hơn nữa trong công cuộc bảo vệ và phát triển rừng
Em xin cảm ơn tới xã UBDN xã Mường Nhé, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình em thực hiện khóa luận
Cuối cùng em xin kính chúc toàn thể các thầy cô giáo sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên,ngày tháng 6 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Bảo Ngọc
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1.Các tiêu chí đánh giá mức độ hài lòng 25
Bảng 4.1 Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp của xã Mường Nhé 29
Bảng 4.2 Thống kê diện tích rừng cung ứng DVMTR 30
Bảng 4.3 Nguồn thu chi trả DVMTR từ năm 2015-2018 31
Bảng 4.4 Mức tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng tại địa điểm nhiên cứu 32
Bảng 4.5 Tác động đến nguồn lực con người 35
Bảng 4.6 Tác động đến nguồn lực tự nhiên 37
Bảng 4.7 Tác động đến nguồn lực tài sản vật chất 37
Bảng 4.8 Tác động đến nguồn lực tài chính 39
Bảng 4.9 Tác động đến nguồn lực xã hội 40
Bảng 4.10 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của chi trả DVMTR đến các nguồn lực sinh kế của cộng đồng 41
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Mô hình xác định mức chi trả dịch vụ môi trường 8 Hình 2.2 Khung sinh kế bền vững của DFID 10 Hình 2.3.Ảnh vị trí xã Mường Nhé 18 Hình 4.1 Sự tác động của chính sách chi trả DVMTR đến năm nguồn lực sinh kế cộng đồng xã Mường Nhé 42
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BTTN : Bảo tồn thiên nhiên BVPTR : Bảo vệ phát triển rừng DVMTR : Dịch vụ môi trường rừng
Trang 8MỤC LỤC
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Khái niệm chi trả dịch vụ môi trường 4
2.1.2 Chi trả dịch vụ môi trường rừng 5
2.1.3 Nguyên tắc và hình thức của cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng 5
2.1.4 Nguyên tắc chi trả dịch vụ môi trường 6
2.1.5 Nguyên tắc người được hưởng lợi phải trả tiền 7
2.1.6 Các hình thức chi trả dịch vụ môi trường rừng 7
2.1.7 Sự sẵn lòng chi trả 7
2.1.8 Khung sinh kế bền vững 10
2.2 Những nghiên cứu trên thế giới 12
2.2.1 Một số nghiên cứu về chi trả dịch vụ môi trường rừng trên thế giới 12
2.2.2 Các mô hình sử dụng chi trả dịch vụ môi trường rừng 12
2.3 Những nghiên cứu ở Việt Nam 13
2.3.1 Thực trạng chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam 13
2.3.2 Một số nghiên cứu liên quan đến chi trả dịch vụ môi trường rừng 15
2.3.3 Một nghiên cứu về chính sách liên quan đến sinh kế cộng đồng 16
2.3.4 Tại khu vực nghiên cứu 17
2.4.Tổng quan khu vực nghiên cứu 17
2.4.1.Điều kiện tự nhiên 17
2.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 19
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
Trang 93.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 22
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 22
3.2.1 Địa điểm tiến hành nghiên cứu 22
3.2.2 Thời gian tiến hành nghiên cứu 22
3.3 Nội dung nghiên cứu 22
3.4 Phương pháp nghiên cứu 23
3.4.1 Phương pháp ngoại nghiệp 23
3.4.2 Phương pháp nội nghiệp 23
3.4.3 Phương pháp phân tích 25
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 28
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Kết quả thực hiện chính sách chi trả DVMTR của xã Mường Nhé 29
4.1.1 Các dịch vụ cung ứng và nguồn thu từ chi trả DVMTR 31
4.1.2 Các khoản chi từ chi trả DVMTR 31
4.2 Thực trạng các nguồn lực sinh kế của địa phương 32
4.3 Tác động của chính sách chi trả DVMTR đến các nguồn lực 35
4.3.1 Nguồn lực con người 35
4.3.2 Nguồn lực tự nhiên 36
4.3.3 Nguồn lực vật chất 37
4.3.4 Tác động tới nguồn lực tài chính 38
4.3.5 Tác động đến nguồn lực xã hội 39
4.3.6 Đánh giá chung tác động đến năm nguồn lực 41
4.4 Một số giải pháp góp phần tăng sinh kế cho cộng đồng dân cư 43
4.4.1 Giải pháp tạo sinh kế bền vững 43
4.4.2 Giải pháp về chính sách 44
4.4.3 Giải pháp về bộ máy, tổ chức thực hiện 44
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 46
Trang 105.1 Kết luận 46 5.2 Kiến nghị 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 11Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Rừng có tác dụng rất lớn đối với sự tồn tại, phát triển của các sinh vật trên trái đất, đặc biệt là con người Từ xưa đến nay, rừng không chỉ là nơi trú ngụ, cung cấp các loại thức ăn và các lâm sản khác cho con người mà nó còn đóng vai trò quan trọng không thể thay thế trong việc bảo vệ môi trường, điều hoà khí hậu, cân bằng sinh thái và bảo tồn nguồn gen Tuy nhiên với sự phát triển mạnh mẽ của xã hội thì nền kinh tế nước ta hiện nay cũng thay đổi từng ngày theo chiều hướng đi lên Những thay đổi đó diễn ra ở các ngành nghề khác nhau, các lĩnh vực khác nhau Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng cao hơn Vì vậy đòi hỏi các nhà quản lý phải nghiên cứu phải cân nhắc khi thiết kế xây dựng một chương trình bất kỳ nào đó phải đảm bảo sự hài hoà giữa lợi ích kinh tế với các lợi ích môi trường
Chính thức bắt đầu thực hiện toàn quốc từ ngày 01/01/2011 theo Nghị định 99/2010/ NĐ-CP ngày 24/9/2010, chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) được đánh giá là một chính sách cột mốc, đi vào cuộc sống nhanh, hiệu quả và được các cấp, ngành từ trung ương đến địa phương, bao gồm cả
người dân, ủng hộ và tham gia tích cực với những thay đổi to lớn so với
cách tiếp cận quản lý lâm nghiệp truyền thống của Việt Nam trước đây Sau gần 5 năm thực hiện, chính sách chi trả DVMTR được đánh giá là một trong những chính sách nổi bật, đáng chú ý nhất tại Việt Nam Tại hội nghị tổng kết
70 năm ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn (tháng 11/2015), chính sách này được ghi nhận là một thành tựu nổi bật của ngành lâm nghiệp giai đoạn 2011 - 2015 [Nguyễn Việt Dũng và Nguyễn Hải Vân, 2015]
Xã Mường Nhé được thành lập theo Quyết định số 1019/QĐ-UBND ngày 03/10/2005 của UBND tỉnh Điện Biên Nằm trên địa bàn của huyện Mường Nhé Khu vực này có hệ sinh thái rừng đặc trưng của vùng tây bắc, là
Trang 12nơi lưu trữ và cư trú của nhiều loài động, thực vật quí hiếm Theo số liệu thống
kê của, xã Mường Nhé có nhiều tính đa dạng sinh học về động thực vật độc đáo, có 873 loài Bước đầu được ghi nhận được 31 loài thú, 72 loài chim, 20 loài bò sát và 10 loài lưỡng cư Trong đó 55 loài nằm trong sách đỏ của Việt Nam và IUCN Ngoài ra, nơi đây còn những danh lam, thắng cảnh có giá trị Song song với các hoạt động quản lý, bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học xã Mường Nhé là chủ rừng (tổ chức) đầu tiên ở tỉnh Điện Biên được triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR sau khi Nghị định 99/2010/ NĐ-CP ngày 24/9/2010 có hiệu lực Có thể khẳng định đây là chính sách đúng đắn, góp phần tăng thu nhập cho người trực tiếp bảo vệ rừng và phù hợp với thực tiễn công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng bền vững trên địa bàn xã
Mường Nhé vì vậy từ những thực tế trên, tôi chọn đề tài “Đánh giá tác động của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đến hoạt động sinh kế của cộng đồng dân cư xã Mường Nhé, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên” để nghiên cứu, thông qua việc tìm hiểu các hoạt động sinh kế của
người dân và sự tác động của chính sách chi trả DVMTR mà xã Mường Nhé đang triển khai, thực hiện từ đó đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao mức sống của người dân cũng như nhận thức, trách nhiệm quản lý và bảo vệ rừng
tại địa bàn
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Đưa ra được những tác động chủ yếu của chính sách chi trả DVMTR
tới sinh kế của cộng đồng người dân sinh sống tại xã và cũng qua đó thiết lập được mối quan hệ giữa giữa việc quản lý tài nguyên rừng bền vững với nguồn thu từ DVMTR, Từ đó, đưa ra các giải pháp góp phần ổn định sinh kế, đảm bảo quản lý rừng bền vững
- Đưa ra những giải pháp để giải quyết sự tác động bất lợi của người
dân sinh sống ở địa bàn xã, ổn định sinh kế, nâng cao nhận thức và trách nhiệm quản lý rừng dựa vào cộng đồng để đảm bảo cho công tác quản lý bảo
Trang 13vệ rừng ở địa bàn Tìm hiểu được thực trạng sinh kế của người dân sinh sống tại xã Mường Nhé
- Phân tích và đánh giá được mối liên quan giữa sinh kế với chính sách
chi trả DVMTR và người dân sinh sống ở xã Mường Nhé
1.4 Ý nghĩa của đề tài
Trong học tập và nghiên cứu khoa học: Giúp bản thân có thể vận dụng được những kiến thức đã học được để viết bài báo cáo tốt nghiệp phục vụ cho học tập và nghiên cứu khoa học Nâng cao được năng lực cũng như rèn luyện
kỹ năng của mình, vận dụng được những kiến thức đã học ở nhà trường vào thực tiễn, đồng thời bổ sung những kiến thức còn thiếu và những kỹ năng tiếp cận các phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân
Cung cấp và bổ sung các cơ sở thực tiễn cho cho lý thuyết về phát triển sinh kế bền vững; Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo nghiên cứu và học tập trong lĩnh vực vực PES các khuyến nghị có thể dùng làm tài liệu tham khảo
Trong thực tiễn sản xuất: Đóng góp cơ sở thực tiễn để hoàn thiện chính sách chi trả dịch vụ rừng; Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các đề tài về PFES và sinh kế tại địa phương hoặc nơi khác
Trang 14Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Khái niệm chi trả dịch vụ môi trường
Đây là lĩnh vực mới đối với Việt Nam nên có nhiều khái niệm khác nhau về chi trả dịch vụ môi trường rừng Đề tài trích một số khái niệm thông dụng nhất
Khái niệm chi trả dịch vụ môi trường được đưa ra năm 2005 Chi trả dịch vụ môi trường là một giao dịch trên cơ sở tự nguyện mà ở đó dịch vụ môi trường được xác định cụ thể (hoặc hoạt động sử dụng đất để đảm bảo có được dịch vụ này) đang được người mua (tối thiểu một người mua) mua của người bán (tối thiểu một người bán) khi và chỉ khi người cung cấp dịch vụ môi trường đảm bảo được việc cung cấp dịch vụ môi trường này [Sven Wunder, 2005].[24]
Ở Việt Nam chi trả dịch vụ môi trường (PES) được đưa ra trong quyết định 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ với quy định chi tiết hơn về khái niệm chi trả dịch vụ môi trường được áp dụng cho hoạt động trồng rừng Theo đó, chi trả dịch vụ môi trường rừng là quan hệ kinh tế giữa người sử dụng các dịch vụ môi trường rừng trả tiền cho người cung ứng dịch vụ môi trường rừng Trong nghiên cứu này tác giả sẽ sử dụng khái niệm được quy định trong quyết định này để phân tích
Trong một báo cáo nghiên cứu năm 2008 có tiêu đề “Chi trả dịch vụ môi trường: kinh nghiệm và bài học tại Việt Nam” PES được nêu ra với khái niệm hẹp hơn Theo báo cáo này, chi trả dịch vụ môi trường là cam kết tham gia hợp đồng trên cơ sở tự nguyện có ràng buộc về mặt pháp lý và với hợp đồng này thì một hay nhiều người mua chi trả cho dịch vụ hệ sinh thái xác định nhiều người bán và người bán này có trách nhiệm đảm bảo một loại hình
sử dụng đất nhất định cho một giai đoạn xác định để tạo ra các dịch vụ hệ
Trang 15sinh thái thoả thuận [Hoàng Minh Hà, Meine van Noordwijk, Phạm Thu Thủy, 2008] [16]
2.1.2 Chi trả dịch vụ môi trường rừng
Theo nghị định 99/2010/NĐ-CP, chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) là quan hệ cung ứng và chi trả giữa bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng theo quy định tại Điều 6 của Nghị định
Việc chi trả được thực hiện theo hai hình thức đó là: Chi trả trực tiếp
và chi trả gián tiếp Chi trả trực tiếp là bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng trả tiền trực tiếp cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng Chi trả gián tiếp
là bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng ủy thác qua Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam hoặc Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh hoặc cơ quan, tổ chức làm thay nhiệm
vụ của Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định;
2.1.3 Nguyên tắc và hình thức của cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng
2.1.3.1 Nguyên tắc chi trả dịch vụ môi trường
- Chi trả các chi phí cho việc cung cấp các dịch vụ của họ Việc chi trả
này có thể dưới hình thức là tiền hoặc hiện vật [Wunder, 2005].[24]
Cụ thể hơn, đối với Việt Nam, chi trả cho dịch vụ môi trường rừng được quy định tại Điều 6, Chương I trong Nghị định 99/QĐ-TTg ngày 24/09/2010.[3] của Thủ tướng Chính phủ như sau:
- Tạo ra động lực tài chính hiệu quả, thúc đẩy cá nhân và cộng đồng
cung cấp các dịch vụ môi trường;
- Mức tiền chi trả sử dụng dịch vụ môi trường rừng gián tiếp do Nhà nước quy định, được công bố công khai và điều chỉnh khi cần thiết
- Việc chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng trực tiếp do người được chi trả và người phải chi trả thực hiện
Trang 16- Các tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền sử dụng dịch vụ cho người được chi trả dịch vụ môi trường rừng và không thay thế cho thuế tài nguyên nước hoặc các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật.[15]
2.1.3.2 Nguyên tắc người được hưởng lợi phải trả tiền
PES không hoạt động theo cơ chế người gây ô nhiễm phải trả tiền, mà hướng tới một cơ chế khác là người được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường sẽ trả tiền cho việc thụ hưởng đó Các nhà kinh tế đã tiến hành nhiều nghiên cứu
và chỉ ra rằng, sẽ hiệu quả hơn nếu trả tiền để giữ gìn môi trường thay vì bắt họ phải chi trả cho những thiệt hại môi trường mà họ đã gây ra [Trần thu Thủy, 2009].[7]
Một ví dụ cụ thể là, thay vì phạt những người dân ở vùng thượng lưu vì
đã chặt phá rừng gây ra lũ lụt cho vùng hạ lưu thì chi trả cho họ một khoản tiền để họ giữ các khu rừng đó và đem lại lợi ích cho dân ở vùng hạ lưu Đây
là một cách tiếp cận rất mới của PES, coi dịch vụ môi trường là hàng hóa và nếu nhận được lợi ích từ hàng hóa thì hiển nhiên phải trả tiền để được sử dụng
2.1.4 Nguyên tắc chi trả dịch vụ môi trường
- Chi trả các chi phí cho việc cung cấp các dịch vụ của họ Việc chi trả
này có thể dưới hình thức là tiền hoặc hiện vật [Wunder, 2005]
Cụ thể hơn, đối với Việt Nam, chi trả cho dịch vụ môi trường rừng được quy định tại Điều 6, Chương I trong Nghị định 99/QĐ-TTg ngày 24/09/2010 của Thủ tướng Chính phủ như sau:
- Tạo ra động lực tài chính hiệu quả, thúc đẩy cá nhân và cộng đồng
cung cấp các dịch vụ môi trường;
- Mức tiền chi trả sử dụng dịch vụ môi trường rừng gián tiếp do Nhà nước quy định, được công bố công khai và điều chỉnh khi cần thiết
- Việc chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng trực tiếp do người được chi trả và người phải chi trả thực hiện
Trang 17- Các tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền sử dụng dịch vụ cho người được chi trả dịch vụ môi trường rừng và không thay thế cho thuế tài nguyên nước hoặc các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật
2.1.5 Nguyên tắc người được hưởng lợi phải trả tiền
PES không hoạt động theo cơ chế người gây ô nhiễm phải trả tiền, mà hướng tới một cơ chế khác là người được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường sẽ trả tiền cho việc thụ hưởng đó Các nhà kinh tế đã tiến hành nhiều nghiên cứu
và chỉ ra rằng, sẽ hiệu quả hơn nếu trả tiền để giữ gìn môi trường thay vì bắt họ phải chi trả cho những thiệt hại môi trường mà họ đã gây ra [Trần thu Thủy, 2009] [17]
Một ví dụ cụ thể là, thay vì phạt những người dân ở vùng thượng lưu vì
đã chặt phá rừng gây ra lũ lụt cho vùng hạ lưu thì chi trả cho họ một khoản tiền để họ giữ các khu rừng đó và đem lại lợi ích cho dân ở vùng hạ lưu Đây
là một cách tiếp cận rất mới của PES, coi dịch vụ môi trường là hàng hóa và nếu nhận được lợi ích từ hàng hóa thì hiển nhiên phải trả tiền để được sử dụng
2.1.6 Các hình thức chi trả dịch vụ môi trường rừng
Có hai hình thức thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng:
- Chi trả dịch vụ môi trường rừng trực tiếp: là việc người sử dụng dịch
vụ môi trường rừng (người phải chi trả) trả tiền trực tiếp cho người cung ứng dịch vụ môi trường (người được chi trả)
- Chi trả dịch vụ môi trường rừng gián tiếp: là việc người sử dụng dịch
vụ môi trường rừng chi trả gián tiếp cho người cung ứng dịch vụ môi trường rừng thông qua một số tổ chức và thực hiện theo quy định tại Điều 6, Chương
I, Nghị định 99/QĐ-TTg ngày 24/09/2010 của Thủ tướng Chính phủ
2.1.7 Sự sẵn lòng chi trả
Sự sẵn lòng chi trả (willingness to pay) là thước đo độ thỏa mãn, đồng thời là thước đo lợi ích và là đường cầu thị trường, tạo nên cơ sở xác định lợi
Trang 18ích đối với xã hội từ việc tiêu thụ hoặc bán một mặt hàng cụ thể Nền tảng của PES chính là việc những người cung cấp dịch vụ môi trường sẽ nhận được một khoản tiền cho việc họ chấp nhận bảo vệ môi trường (tính điều kiện) và mức chi trả này phụ thuộc vào sự thỏa thuận với bên nhận được lợi ích từ các lợi ích từ môi trường
Nhà kinh tế học Ronald Coase cũng đưa ra quan điểm rằng, cơ sở của chi trả dịch vụ môi trường là dựa trên sự thỏa thuận lợi ích giữa hai bên thông qua việc mặc cả để đưa ra một mức giá hợp lý
Mức chi trả này đã được đề cập đến khá nhiều trong các nghiên cứu về PES Một cách khác để hiểu về mức sẵn lòng chi trả được đưa ra trong một nghiên cứu của Pagiola [2003] (Hình 2.1) Trong mô hình này, có thể thấy: nguồn thu nhập từ việc chặt phá rừng và sử dụng các cánh rừng đầu nguồn là lợi ích của những người chủ rừng, nhưng lại là chi phí của những nhà máy thủy điện và cư dân ở vùng hạ lưu
Phần màu xanh nhạt biểu diễn cho phần lợi ích của người chủ rừng như khai thác gỗ, buôn bán động vật hoang dã… Ngược lại, phần diện tích màu đỏ cho thấy chi phí hay thiệt hại của các nhà máy thủy điện khi rừng bị chặt phá Phần chi trả ở đây được thể hiện bằng màu xanh lá cây
Hình 2.1 Mô hình xác định mức chi trả dịch vụ môi trường
Nguồn: [Pagiola, 2003]
Trang 19Tóm lại, mức chi trả sẽ được xác định dựa trên cơ sở: Thu nhập của chủ rừng < Mức chi trả dịch vụ môi trường rừng < Mức lợi ích nhà máy thủy điện nhận được từ dịch vụ môi trường rừng
2.1.8 Sinh kế
Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về sinh kế, tuy nhiên
đa phần các ý kiến cho rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân hay hộ gia đình Về căn bản, các hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân hay nông hộ tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ, đồng thời chịu sự tác động của các thể chế, chính sách và những quan hệ xã hội mà cá nhân hoặc hộ gia đình đã thiết lập trong cộng đồng
Trong nhiều nghiên cứu của Frank Ellischo rằng một sinh kế bao gồm những tài sản (tự nhiên, phương tiện vật chất, con người, tài chính và nguồn vốn xã hội), những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến các tài sản và hoạt động đó (đạt được thông qua các thể chế và quan hệ xã hội), mà theo đó các quyết định về sinh kế đều thuộc về mỗi cá nhân hoặc mỗi nông hộ.[Frank Ellis, 2000]
Theo Ủy ban Phát triển Quốc tế, sinh kế được hiểu là tập hợp tất cả các nguồn lực (vốn con người; vốn vật chất; vốn tự nhiên; vốn tài chính và vốn xã hội) và khả năng mà con người có được, kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ [DFID, 2001]
Trong khuôn khổ của đề tài này tác giả sẽ vận dụng khái niệm sinh kế của DFID để phân tích những thay đổi các nguồn lực sinh kế dưới tác động của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại cộng đồng sinh sống ở xã Mường Nhé
Trang 202.1.9 Khung sinh kế bền vững
Khung sinh kế là một công cụ được xây dựng nhằm xem xét một cách
toàn diện tất cả các yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sinh kế của cộng đồng Mặc dù có rất nhiều tổ chức khác nhau sử dụng khung phân tích sinh kế và mỗi tổ chức có mức độ vận dụng khác nhau, nhưng nhìn chung, Khung sinh kế bền vững có những thành phần cơ bản giống nhau (xem Hình 2.2)
Nguồn vốn hay tài sản sinh kế là toàn bộ năng lực vật chất và phi vật
chất mà con người có thể sử dụng để duy trì hay phát triển sinh kế của họ Nguồn vốn hay tài sản sinh kế được chia làm 5 loại vốn chính: vốn nhân lực, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính và vốn xã hội (Hình 2.2)
Hình 2.2 Khung sinh kế bền vững của DFID
Nguồn: [DFID, 2001]
Vốn nhân lực (human capital): Vốn nhân lực là khả năng, kỹ năng,
kiến thức làm việc và sức khỏe, giúp theo đuổi những chiến lược sinh kế khác nhau, nhằm đạt được kết quả sinh kế hay mục tiêu sinh kế của họ Vốn nhân lực là điều kiện cần để có thể sử dụng và phát huy hiệu quả bốn loại vốn khác
Vốn tự nhiên (natural capital): Vốn tự nhiên là các nguồn tài nguyên
thiên nhiên như đất, nước… mà cộng đồng có được hay có thể tiếp cận được, nhằm phục vụ cho các hoạt động và mục tiêu sinh kế của cộng đồng Ở
Trang 21nghiên cứu này, vốn tự nhiên là quy mô và chất lượng tài nguyên rừng được đánh giá cụ thể qua việc hạn chế cháy rừng, tăng diện tích và chất lượng rừng, nâng cao các dịch vụ rừng, nâng cao giá trị đa dạng sinh học và từ đó có thể nâng cao mức sinh kế cho cộng đồng tại địa phương
Vốn vật chất (physical capital): Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng và
hàng hóa vật chất nhằm hỗ trợ việc thực hiện các hoạt động sinh kế Nguồn vốn vật chất thể hiện ở cả cấp cơ sở cộng đồng
Vốn tài chính (financial capital): Vốn tài chính bao gồm nguồn dự trữ
hiện tại, dòng tiền theo định kỳ và khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng
từ bên ngoài, như từ người thân hay từ các tổ chức tín dụng khác nhau Đánh giá này coi nguồn vốn tài chính là khoản tiền được trợ cấp cho cộng đồng, quỹ bảo vệ và phát triển rừng chi trả cho cộng đồng cung ứng các dịch vụ môi trường, nhằm hỗ trợ cho cộng đồng cải thiện sinh kế, hỗ trợ các hộ nghèo tăng thêm thu nhập và phát triển DVMTR
Vốn xã hội (social capital): Vốn xã hội là một loại tài sản sinh kế, nó
nằm trong các mối quan hệ xã hội (hoặc các nguồn lực xã hội) chính thể và phi chính thể mà qua đó, người dân có thể tạo ra cơ hội và thu được lợi ích trong quá trình thực thi sinh kế Ở nghiên cứu này, nguồn vốn xã hội được thể hiện qua mối quan hệ giữa chính sách và thực hiện chính sách (thông qua việc các cơ quan thực hiện chính sách đào tạo tập huấn cho cộng đồng địa phương), mối quan hệ giữa cộng đồng với cơ quan thực hiện chính sách, các
cơ hội được tiếp cận với các nguồn vốn trợ cấp của các quỹ PFES
Thành phần quan trọng của Khung sinh kế là kết quả của sinh kế (livelihood outcomes) Kết quả sinh kế là cải thiện phúc lợi của con người hay cộng đồng, nhưng có sự đa dạng về trọng tâm và sự ưu tiên, cải thiện về mặt vật chất, tinh thần của con người như xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập hay
sử dụng bền vững và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên
Trang 222.2 Những nghiên cứu trên thế giới
2.2.1 Một số nghiên cứu về chi trả dịch vụ môi trường rừng trên thế giới
Trên thế giới cũng đã dần xuất hiện những báo cáo về đánh giá hiệu quả và tác động của dịch vụ môi trường hay dịch vụ môi trường rừng đến sinh kế của cộng đồng dân cư tại các điểm thực hiện DVMTR và đã bước đầu có những nhận định sâu hơn, như nhận định ban đầu của Landell-Mills và Porras (2002) cho rằng, “DVMTR là một phương thức tiếp cận có khả năng làm giảm sự suy thoái môi trường và giảm nghèo tại vùng nông thôn” [Landell-Mills and Porras, 2002] Các nhận định này sau đó hai năm đã được các tác giả khác phân tích và đánh giả cụ thể hơn và chỉ đồng tình một vế về nâng cao hiệu quả của công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên, chứ không thực sự là một cơ chế để giảm nghèo [Pagiola và cộng sự., 2005] Ý kiến khác đã bổ sung và nhấn mạnh, không chỉ người nghèo, mà cả những người cung cấp dịch vụ môi trường cũng có thể không tham gia được vào chương trình này,
do quyền sở hữu đất không đảm bảo, hoặc khoảng đất rừng của họ quá nhỏ, hoặc thiếu tiếp cận tín dụng để đầu tư vào các hoạt động như trồng rừng
[Grieg-Gran et al., 2005] Như vậy, qua các kết quả nghiên cứu trên cho thấy,
chương trình DVMTR đã thực sự tác động làm giảm khả năng suy thoái môi trường, nhưng chưa thực sự tác động đến sinh kế và làm giảm đói nghèo cho cộng đồng
2.2.2 Các mô hình sử dụng chi trả dịch vụ môi trường rừng
Trên thế giới hiện nay, có rất nhiều mô hình sử dụng chi trả dịch vụ môi trường (PES) và chi trả DVMTR theo các hình thức khác nhau, nhưng phần lớn đều ở tầm vĩ mô của các quốc gia Các nước phát triển và khu vực
Mỹ La Tinh đã sử dụng các mô hình PES vào việc bảo tồn đa dạng sinh học và xóa đói giảm nghèo cho người dân vùng đầu nguồn
Cũng mô hình thực hiện PES nhưng tại Côtxta Rica lại là một hình thức khác, ở đó, PES là cơ chế để bảo vệ lưu vực của một số khách sạn tham
Trang 23gia Cơ sở của việc chi trả này là nhận thức về mối tương quan chặt chẽ giữa các dịch vụ cung cấp môi trường nước do bảo vệ lưu vực và người hưởng là ngành du lịch Lý do là các hoạt động ngành du lịch phụ thuộc rất lớn vào trữ lượng và chất lượng nước Vì vậy, từ năm 2005, một số khách sạn chi trả hàng năm 45,5 đô la Mỹ cho mỗi hecta đất của các chủ đất địa phương và trả 7% trong tổng số chi phí hành chính của mô hình chi trả dịch vụ môi trường Tuy nhiên, Côtxta Rica vẫn chưa có một cơ chế được thừa nhận chung nào dựa vào lợi ích của mọi người được chi trả trực tiếp từ các dịch vụ và bảo tồn
đa dạng sinh học của tài nguyên rừng đến cải thiện sinh kế cho những người trực tiếp bảo vệ rừng [Jindal, 2011]
Tại Trung Mỹ và Mêhicô có chương trình PES lớn nhất Mỹ La Tinh về dịch vụ môi trường thủy văn Chương trình này bảo tồn rừng tự nhiên đang bị
đe dọa để duy trì các dòng chảy và chất lượng nước phục vụ cho đời sống cộng đồng ở vùng hạ lưu trong sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp và đã đạt được những thành công đáng kể Song cho tới nay, vẫn chưa có cơ sở để đánh giá cái được và cái mất của chương trình này vì vẫn đang trong giai đoạn đầu
2.3 Những nghiên cứu ở Việt Nam
2.3.1 Thực trạng chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam
Chiến lược Phát triển ngành lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 -
2020 (Quyết định 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007), đã nhấn mạnh việc
" đảm bảo có sự tham gia rộng rãi của các thành phần kinh tế và tổ chức xã hội vào phát triển lâm nghiệp, bảo vệ môi trường (BVMT) sinh thái, bảo tồn
đa dạng sinh học (ĐDSH) và cung cấp các dịch vụ môi trường, góp phần xoá
đói giảm nghèo, nâng cao mức sống cho người dân nông thôn miền núi.", và nhiệm vụ "bảo vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên và ĐDSH nhằm đóng góp có hiệu
quả cho tạo nguồn thu từ các dịch vụ môi trường" Năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 380/QĐ- TTg ngày 10/04/2008 về chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng tại hai tỉnh Sơn La và
Trang 24Lâm Đồng Sau 2 năm thí điểm bằng các dự án hỗ trợ của USAID/Winrock International và GIZ, Chính phủ đã ban hành Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/09/2010 về chính sách chi trả DVMTR để áp dụng cơ chế này trên toàn quốc Một loạt các nghị định, thông tư hướng dẫn cũng được nhà nước xây dựng và ban hành nhằm đảm bảo chính sách chi trả DVMTR
Vì xác định đối tượng nhận chi trả là các chủ rừng của các khu rừng có cung ứng DVMTR, các tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn bản nhận
khoán quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) lâu dài (Điều 8, Nghị định 99/2010/NĐ- CP), nên chính sách chi trả DVMTR được coi là sự kế thừa, tiếp nối và cải
thiện hệ thống các chính sách, kết quả thực hiện giao đất - giao rừng, khoán QLBVR, giao rừng cộng đồng hay các cơ chế chia sẻ lợi ích đã và đang được
thực hiện trong thực tế, như Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng (Quyết định 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998); quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ của hộ gia đình, cá nhân được giao, thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp (Quyết định 178/QĐ-TTg ngày 12/11/2001); giao khoán đất rừng sản xuất trong các
lâm trường quốc doanh (Nghị định 135/NĐ-CP ngày 08/11/2005); hay thí điểm giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng trong buôn, làng là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở các tỉnh Tây Nguyên (Quyết định 304/QĐ-TTg ngày 23/11/2005)
Các Nghị định, thông tư hướng dẫn thực hiện chính sách chi trả DVMTR
• Quy định về tổ chức, quản lý: Nghị định 05/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ về Quỹ BVPTR; Thông tư 85/2012/TT-BTC ngày 25 tháng 5 năm 2012 của Bộ Tài chính về hướng dẫn chế độ quản
lý tài chính đối với Quỹ BVPTR
• Quy định về chi trả: Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm
2010 của Chính phủ về chính sách chi trả DVMTR; Nghị định số 147/2016/NĐ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2016 sửa đổi, bổ xung một số điều
Trang 25của Nghị định số 99/2010/NĐ-CP; Quyết định 2284/QĐ-TTg ngày 13 tháng
12 năm 2010 của Thủ tướng về phê duyệt đề án triển khai Nghị định 99/2010/NĐ-CP; Thông tư 80/2011/TT-BNNPTNT ngày 23 tháng 11 năm
2011 của Bộ NN-PTNT hướng dẫn phương pháp xác định tiền chi trả DVMTR; Thông tư 20/2012/TT-BNNPTNT ngày 07 tháng 5 năm 2012 của
Bộ NN-PTNT về hướng dẫn trình tự thủ tục nghiệm thu thanh toán tiền chi trả DVMTR; Thông tư liên tịch 62/2012/TTLT-BNNPTNT-BTC ngày 16 tháng
11 năm 2012 về hướng dẫn cơ chế quản lý sử dụng tiền chi trả DVMTR;
Quy định về xử lý vi phạm: Nghị định 40/2015/NĐ-CP ngày 27 tháng
4 năm 2015 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản sửa đổi Nghị định 157/2013/NĐ-CP, bao gồm bổ sung xử lý vi phạm quy định chi trả DVMTR
2.3.2 Một số nghiên cứu liên quan đến chi trả dịch vụ môi trường rừng
Từ năm 2004, Chính phủ Việt Nam đã bắt đầu xây dựng nền móng cho một chương trình quốc gia về chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) Hai trong những văn bản quan trọng nhất là Quyết định 380/TTg ngày 10/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ về Thí điểm DVMTR ở hai tỉnh Sơn La (đầu nguồn của hệ thống sông Đà) và tỉnh Lâm Đồng (đầu nguồn của hệ thống sông Đồng Nai), và Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Thực hiện DVMTR trên phạm vi cả nước Một số dự án chính đã và đang triển khai, bao gồm: (i) Tạo nguồn hỗ trợ cho hoạt động bảo vệ vùng đầu nguồn hồ Trị An; (ii) Thanh toán cho nước sông Đồng Nai (2 dự án trên do Quỹ Quốc tế Bảo vệ Động Thực vật Hoang dã đề xuất và tổ chức thực hiện)
Trang 262.3.3 Một nghiên cứu về chính sách liên quan đến sinh kế cộng đồng
Chi trả DVMTR hầu như không thể tách những nỗ lực bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học ra khỏi công tác xóa đói giảm nghèo Một số ý kiến phê bình cho rằng, trọng tâm của chi trả DVMTR không thể là các vấn đề “vì người nghèo”, vì điều này có thể hạn chế hiệu quả của chương trình PFES Và
do đó, “trọng tâm hàng đầu” vẫn là vấn đề môi trường, chứ không phải vấn đề đói nghèo [Wunder, 2008] Tuy nhiên, rất nhiều cộng đồng dân cư ở Việt Nam có truyền thống sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng, vì vậy, chính sách chi trả DVMTR nếu như không xét đến việc đáp ứng nhu cầu của người nghèo thì khó có thể thực hiện tại Việt Nam, Phạm Thu Thủy và cộng sự [2008] cho rằng, Chính phủ chỉ nhìn nhận chi trả môi trường rừng (DVMTR) thông qua lăng kính thuế và phí, họ quản lý DVMTR bằng hình thức thu phí
và lệ phí môi trường Nhóm nghiên cứu tập trung tìm hiểu vai trò, tiến trình tác động của Chính phủ và hành chính trong việc thiết kế và thực hiện chính sách DVMTR Nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù chính sách DVMTR được chính phủ ủng hộ, nhưng việc thực hiện chính sách này vẫn còn gặp khó khăn
do sự chồng chéo về cơ cấu và chức năng, do những lỗ hổng trong chính sách
và hạn chế trong việc hiểu rõ về những chính sách này của bản thân những người ra quyết định, khối tư nhân và cộng đồng địa phương
Nghiên cứu điển hình về chi trả DVMTR được thực hiện tại xã Chiềng Cọ, tỉnh Sơn La Nghiên cứu này đã đưa ra kết luận rằng, chi trả DVMTR được coi là một trong các công cụ quan trọng nhằm tạo sự công bằng và nguồn tài chính ổn định cho việc quản lý bền vững tài nguyên rừng, có tác động tích cực đến kinh tế, xã hội, môi trường trên địa bàn nghiên cứu, nhận thức của người dân được cải thiện, dịch vụ môi trường rừng được nâng cao Kinh phí của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng chỉ có tác động rất ít đến môi trường, xã hội, tăng thêm nguồn vốn sinh kế cho cộng đồng, mà không đóng góp nhiều đến kinh tế nông hộ [Hoàng Thị Thu Thương, 2011]
Trang 272.3.4 Tại khu vực nghiên cứu
Ở Mường Nhé, tỉnh Điện Biên mới có 02 đề tài nghiên cứu về chi trả môi trường đó là theo tác giả Đinh Đức Kiên (2016) “Đánh giá quá trình thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điện Biên" và tác giả Trần Xuân Tâm (2017)”chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng với sinh kế cộng đồng ở khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé”
Hiện nay chi trả môi trường mới chỉ đang triển khai trong thời gian ngắn nhưng thông qua việc phân tích về hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường có thể đánh giá phần nào về khả năng thành công của chi trả môi trường đem lại Tuy nhiên, chi trả môi trường là một cơ chế còn nhiều mới
mẻ ở tỉnh Điện Biên nói chung và khi triển khai, áp dụng tại xã Mường Nhé nói riêng, vì thế cần thiết có sự đầu tư nghiên cứu đầy đủ và các nghiên cứu đánh giá toàn diện về thực trạng thực hiện cũng như các tác động của chi trả DVMTR đến sinh kế của người dân địa phương và xã hội nhằm đưa ra các khuyến nghị phù hợp và đồng bộ hơn
2.4.Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.4.1.Điều kiện tự nhiên
2.4.1.1 Vị trí địa lý
Xã Mường Nhé nằm ở phía tây của huyện Mường Nhé Địa giới hành chính như sau:
Phía đông giáp với xã Nậm Vì và Mường Toong, huyện Mường Nhé
Phía nam giáp xã Nậm Kè, huyện Mường Nhé
Phía tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Phía bắc giáp xã Chung Chải huyện Mường Nhé
Trang 28Hình 2.3 Ảnh vị trí xã Mường Nhé
2.4.1.2 Địa hình
Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng địa hình có địa hình phức tạp dạng núi cao bị chia cắt mạnh bởi các dông núi có độ dốc lớn Phía Tây Bắc dọc theo biên giới Việt Lào trải dài qua địa phận 5 xã là dãy Phu Đen Đinh chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với đỉnh cao nhất là Pu Pá Kun (1.892m) Phía Bắc dọc theo biên giới Việt Trung là các dãy núi Phú Ta Long San, Phú Tu Na với cao đỉnh 1.405m Phía Đông Nam thuộc địa phận xã Nậm
Kè là các dông núi có độ cao trung bình trên 1000m Nằm giữa các dãy núi là các thung lũng nhỏ hẹp và một số dãy núi thấp Địa hình thấp dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam
2.4.1.3 Đặc điểm thổ nhưỡng
Đất trên địa bàn xuất phát từ nhiều loại đá mẹ, chủ yếu là đá trầm tích
và biến chất Đa số tầng đất canh tác khá dầy, từ 50 cm trở lên, tuy nhiên độ
ẩm của đất tương đối thấp làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của một số loại cây trồng
Trang 292.4.1.4 Khí hậu, thủy văn
- Khí hậu: Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió
mùa, phù hợp với nhiều cây trồng nông, lâm nghiệp và công nghiệp,
- Thủy văn: Trên địa bàn có nguồn nước mặt khá rồi rào là lưu vực đầu nguồn sông Đà với hai hệ thống suối chính là: Thuỷ hệ Nậm Ma, thuỷ hệ Nậm Nhé hầu hết các suối có lưu vực hẹp độ đốc lớn, mùa mưa có lưu lượng
nước mạnh có tiền năng thủy điện vừa và nhỏ
2.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.4.2.1 Dân số, dân tộc và lao động
Dân số khu vực nghiên cứu đến năm 2018 là 10.027 người với 10 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc Mông chiếm 73,17%, dân tộc Thái chiếm 8,15%, dân tộc Kinh 6,82%, dân tộc Hà Nhì chiến 6,42% còn lại dân tộc khác chiếm 5,44% Chủ yếu người dân sống bằng canh tác nông nghiệp trên đất cao, sườn dốc đặc biệt là các cộng đồng thôn, bản sống cạnh rừng Số lao động là 4,470 người chiếm 44,75 % dân số, trong đó lao động nông lâm nghiệp là 8.011 người, chiếm 82% lực lượng lao động, còn lại là lao động phi nông nghiệp
2.4.2.2 Tình hình kinh tế và sinh kế của người dân trong khu vực
Xã Mường Nhé chủ yếu là đồng bào nghèo thuộc các dân tộc thiểu số sinh sống
Trong những năm gần đây kinh tế xã Mường Nhé duy trì tăng trưởng khá với tổng sản phẩm bình quân ước đạt 9,11% năm Cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo hướng tích cực tăng dần tỉ trọng xây dựng - dịch vụ và giảm tỷ trọng nông nghiệp Tuy nhiên Mường Nhé vẫn là huyện đặc biệt khó khăn và
tỷ lệ hộ nghèo nằm trong tốp cao nhất của tỉnh Khu vực nghiên cứu có 2093
hộ, hộ nghèo chiếm 46,8% và 62 hộ cận nghèo chiếm 2,9%
Nguồn: [Phòng Lao động và TBXH huyện, 2018] [4]
Trang 30- Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng cây lương thực và cây có hạt là 17.009,89 (ha) với sản lượng lương thực đạt 9.715,24 tấn (bình quân 445kg/người/năm) Nhìn chung năng suất cây trồng thấp, chẳng hạn như lúa nước (31 -35 tạ/ha), lúa nương 12-15 tạ/ha) Do vậy dưới áp lực về nhu cầu kinh tế và lương thực, việc xâm lấn phá rừng làm nương vẫn xảy ra ở hầu hết các thôn, bản
- Chăn nuôi: Là khu vực có tiền năng về đất đai thuận lợi cho việc chăn nuôi và phát triển gia súc, những năm gần đây đã có bước phát triển đáng kể, tuy vậy chăn nuôi vẫn chiếm tỷ lệ thấp trong cơ cấu ngành nông nghiệp với hình thức nhỏ lẻ tự phát
- Sản xuất lâm nghiệp: Năm 2018 giá trị sản xuất lâm nghiệp 35.617 triệu đồng Trong đó giá trị tập trung chủ yếu vào các hoạt động Chi trả dịch
vụ môi trường chiếm trên 85%, còn lại là các hoạt động khai thác lâm sản và chăm sóc rừng trồng
-Cơ sở hạ tầng
Những năm qua, nhờ sự nỗ lực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị cho khu vực trung tâm, khu vực nông thôn nên kinh tế - xã hội trên địa bàn phát triển nhanh, đảm bảo đúng quy hoạch và định hướng của xã Xã có 18,5km đường biên giới giáp Lào Tổng diện tích đất tự nhiên hơn 21.781ha, gồm 16 bản và 3 cụm dân cư
.- Thủy lợi: Hầu hết đều được đầu tư công trình thủy lợi phục vụ sản xuất và đời sống Toàn bộ hệ thống kênh lớn nhỏ trải đều trên các xã với tổng chiều dài khoảng 23 km, tuy nhiên năng lực tưới thấp do các công trình xuống cấp vì mưa lũ và không được duy tu, bảo dưỡng thường xuyên
- Y tế: hệ thống các bệnh viện, phòng khám, trạm y tế các xã đã phát
triển rộng khắp, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, trong những năm qua hoạt động của ngành Y tế đã làm tốt công tác phòng, chống dịch bệnh, khám chữa bệnh cho nhân dân hiện tại tuyến huyện có 01 bệnh
Trang 31viện và 02 phòng khám.trong đó: 01 bệnh viện tại trung tâm Mường Nhé đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, với đầy đủ trang thiết bị cần thiết phục vụ công tác khám, chữa bệnh
- Giáo dục: Toàn bộ huyện có 21 trường, 275 lớp với 4 cấp học: mầm
non, tiểu học, phổ thông cơ sở và phổ thông trung học Các trường ở trung tâm huyện, trung tâm xã được xây dựng khá khang trang, điều kiện học tập đã
cơ bản đảm bảo việc dạy và học của giáo viên và học sinh
Trang 32Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm: Chủ rừng là tổ chức (Ban quản lý rừng), cộng đồng, hộ gia đình được chi trả DVMTR thuộc xã Mường Nhé
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Đề tài tập trung khảo sát tại xã Mường Nhé
thuộc huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên
- Phạm vi về thời gian:
Đề tài tập trung thu thập số liệu thứ cấp từ năm những năm gần đây và
số liệu sơ cấp điều tra từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2019
- Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu
chính sách chi trả DVMTR tác động đến các hoạt động sinh kế, các chính sách có liên quan khác được đề cập trong phạm vi hạn chế hơn
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
3.2.1 Địa điểm tiến hành nghiên cứu
Tại xã Mường nhé, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên
3.2.2 Thời gian tiến hành nghiên cứu
Từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2019
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá kết quả thực hiện chính sách chi trả DVMTR của xã Mường Nhé
- Thực trạng các nguồn sinh kế của địa phương
- Tác động của chính sách chi trả DVMTR đến các hoạt động sinh kế của người dân sinh sống ở xã Mường Nhé
- Giải pháp để ổn định sinh kế cho người dân nhằm quản lý bảo vệ rừng bền vững
Trang 333.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp ngoại nghiệp
Để khảo sát tình hình thực tế và lấy ý kiến của cán bộ quản lý và người dân trong khu vực Khu xã Mường Nhé về chính sách chi trả DVMTR, tiến hành điều tra thực tế tại xã Mường Nhé Đây là xã nằm trong khu vực trọng điểm về tình trạng xâm lấn, khai thác, săn bắn trái phép của người dân, dân số đông, mức độ phụ thuộc vào rừng lớn hơn các xã còn lại thuộc Khu BTTN và huyện quản lý
3.4.2 Phương pháp nội nghiệp
Thu thập số liệu thứ cấp
Các số liệu đã được công bố trong các văn bản, báo cáo sơ kết, tổng kết, của Hạt Kiểm lâm huyện, phòng Nông nghiệp và PTNT, phòng Tài nguyên Môi trường, Chi cục Thống kê và các phòng ban khác ở huyện Mường Nhé, Ban quản lý khu BTTN Mường Nhé
Thu thập số liệu sơ cấp
Để có các số liệu thực tế chứng minh cho các luận cứ của mình, sử dụng một số công cụ trong phương pháp đánh giá nhanh nông thôn như:
- Phỏng vấn thông tin viên chủ chốt: sử dụng bảng hỏi bán cấu trúc để
phỏng vấn nhằm khai thác thông tin từ các chuyên gia địa phương, người có kinh nghiệm trong nghề lâu năm liên quan đến thực hiện chính sách chi trả DVMTR tại cộng đồng địa phương đang nghiên cứu, bao gồm người dân, cán
bộ lãnh đạo địa phương, cán bộ Quỹ bảo vệ và PTR tỉnh Điện Biên, Ban quả
lý KBTTN Mường Nhé, cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện và các chuyên gia về chi trả DVMTR tại Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Điện Biên
- Tiến hành phỏng vấn 2-3 cán bộ viên
-Bảng hỏi với các câu hỏi liên quan đến 6 nhóm thông tin được liệt kê tại (Phụ lục 1)
Trang 34- Thảo luận nhóm tại cộng đồng: Để đánh giá tác động của chính sách
chi trả DVMTR đến các nguồn lực sinh kế cộng đồng, Do khó xác định được mức độ tác động bằng những chỉ tiêu định lượng, nên đề tài này tập trung xem xét và phân tích trên khía cạnh định tính thông qua phân tích mức độ hài lòng của người dân qua các cuộc thảo luận nhóm được thiết kế để tập trung đánh giá mức độ hài lòng của người dân trong thôn bản về tác động của chính sách đến các nguồn lực sinh kế Mức hài lòng của người dân sẽ được quy đổi
ra điểm để thể hiện mức độ tác động của chi trả DVMTR tới sinh kế của cộng đồng, theo 3 mức là mức 1: KHL (không hài lòng), mức 2 HL (hài lòng), mức
3 RHL (rất hài lòng) Các mức quy ra điểm số: mức 1 = 1 điểm, mức 2 = 5 điểm, mức 3 = 10 điểm
- Số lượng và đối tượng tham gia thảo luận nhóm: Số người tham gia
thảo luận tính theo công thức Slovin (1960) với mức tin cậy là 95% và sai số
kỳ vọng 8% là 56 người Tuy nhiên để tránh số người tham gia thảo luận không hợp lệ nên tổng số người tham gia thảo luận nhóm 60 người tại xã Mường Nhé;
Số lượng người tham gia thảo luận ở mỗi cộng đồng, thôn, bản 10 người Phương pháp lựa chọn người tham gia thảo luận ngẫu nhiên
Trong nhóm cũng có một số người tham gia trong tổ quản lý và bảo vệ rừng cộng đồng Thành viên trong nhóm được lựa chọn bao gồm nam, nữ, già, trẻ và hộ nghèo
Về công cụ thực hiện, tác giả đã sử dụng giấy A4, bút bi thực hiện các ghi chép, giấy A4 được kẻ bảng và thực hiện các câu hỏi điều tra mức độ hài lòng của cộng đồng đối với chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
- Tiêu chí đánh giá mức độ hài lòng: Vấn đề và câu hỏi thảo luận tập
trung vào chính sách chi trả DVMT, các tiêu chí của năm nguồn lực sinh kế được thể hiện tại (Bảng 3.4)