phúc khi Trương Sinh trở về.. =>Có thể nói, Vũ Nương là một người vợ thuỷ chung, một nàng dâu hiền thảo, một người mẹ rất mực thương con, hết lòng vun đắp cho hạnh phúc gia đình...[r]
Trang 1Nguyễn Dữ
Trang 2I ĐỌC - TÌM HIỂU CHUNG
1 T¸c gi¶
Nguyễn Dữ
+ Quê: Thanh Miện – Hải Dương.
+ Sống ở thế kỉ XVI, chế độ phong kiến lâm vào tình trạng loạn li, suy yếu.
+ Là người học rộng tài cao, làm quan nhưng sau đó về ở ẩn.
- Tên: Ghi chép tản mạn những câu chuyện kì
lạ được lưu truyền trong dân gian.
2 Tác phẩm “Truyền kì mạn lục”
Trang 3- Truyện “Chuyện người con gái Nam
Xương” được tái tạo trên cơ sở truyện cổ
tích: “Vợ chàng Trương”.
Trang 4- Truyện truyền kỳ là loại văn xuôi tự sự, có nguồn gốc từ văn học Trung Quốc
- Truyện truyền kì
thường mô phỏng
những cốt truyện dân gian hoặc dã sử vốn đã được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân.
Trang 5nhận thức và khát vọng
của người trí thức có lương tri trước những vấn đề lớn của thời đại, của con
người
Trang 6cái chết bi thảm của Vũ Nương.
3, Còn lại: Vũ
Nương được giải oan.
Trang 7Truyện kể về Vũ Nương – người con gái quê ở
Nam Xương Nàng là một cô gái thùy mị, nết na,
“tư dung tốt đẹp” Trương Sinh mến tiếng nàng nên xin mẹ cưới làm vợ Không lâu sau đó,
Trương Sinh đi lính, để lại mẹ già và vợ đang
mang thai Vũ Nương ở nhà sinh con, nuôi con, phụng dưỡng mẹ chồng rất chu đáo Khi mẹ
chồng mất, nàng lo ma chay như với cha mẹ đẻ mình Giặc tan, Trương Sinh trở về, nghe lời con nói nên nghi ngờ vợ không chung thủy Vũ
Nương oan ức, gieo mình xuống sông Hoàng
Giang tự vẫn
Trang 8Một đêm Trương Sinh ngồi bên đèn, đứa con chỉ chiếc bóng ở trên tường và bào đó là cha của mình – người vẫn mỗi đêm Lúc ấy, Trương Sinh mới
hiểu nỗi oan của vợ Vũ Nương được Linh Phi cứu giúp, sống dưới thủy cung tình cờ gặp Phan Lang
là người cùng làng Khi Phan Lang trở về trần
gian, Vũ Nương gửi chiếc hoa vàng và lời nhắn
cho Trương Sinh Trương Sinh liền lập đàn giải
oan trên bến Hoàng Giang Vũ Nương ngồi trên
kiệu hoa giữa dòng lúc ẩn lúc hiện rồi biến mất.
Trang 9Ii Phân tích
1 Nhân vật Vũ Nương.
a) Vẻ đẹp của người phụ nữ
truyền thống ở Vũ Nương.
-Trong cuộc sống vợ chồng bình thường:
“Trương có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức Nàng cũng giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa”
+ Giữ khuôn phép.
+ Không từng lúc nào vợ chồng phải đến bất hoà.
Trang 10- Khi tiễn chồng đi lính:
“Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ,
chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế
là đủ rồi Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn
lường Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian
lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì, khiến cho tiện thiếp băn khoăn, mẹ hiền lo lắng Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải
xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình,
thương người đất thú! Dù có thư tín ngàn hàng, cũng
sợ không có cánh hồng bay bổng”
Trang 11- Khi tiễn chồng đi lính:
+Không trông mong vinh hiển mà mong
Trang 13“Ngắn dài có số, tươi héo bởi trời Mẹ không phải không muốn đợi chồng con về, mà không gắng ăn miếng ăn miếng cháo đặng cùng vui sum họp Song,
lòng tham không cùng mà vận trời khó tránh Nước hết chuông rền, số cùng khí kiệt Một tấm thân tàn,
nguy trong sớm tối, việc sống chết không khỏi phiền đến con Chồng con nơi xa xôi chưa biết sống chết thế nào, không thể về đền ơn được Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như
con đã chẳng phụ mẹ.”
Lời trăng trối của bà mẹ chồng thể hiện sự ghi nhận nhân cách và đánh giá cao công lao của nàng đối với gia đình nhà chồng, niềm tin Vũ Nương có hạnh
phúc khi Trương Sinh trở về
Trang 14=>Có thể nói, Vũ Nương là một người vợ thuỷ chung, một nàng dâu hiền thảo, một người mẹ rất mực thương con, hết lòng
vun đắp cho hạnh phúc gia đình.
Trang 151 Nhân vật Vũ Nương.
b) Nỗi oan cuả Vũ Nương.
*Nguyên nhân
Trang 16- Vì thương con nhớ chồng, Vũ Nương chỉ cái bóng mình trên tường là cha đứa bé.
- Khi trở về, nghe con nói, Trương Sinh
đã nghi oan cho Vũ Nương.
- Tính đa nghi và gia trưởng của Trương Sinh.
Trang 17- Vũ Nương đã phân trần cho chồng hiểu tấm lòng của mình
- Là người đức hạnh, nàng chọn cái chết để chứng minh cho sự thủy chung của mình.
Trang 18* Thái độ của tác giả.
-Tố cáo xã hội phong kiến “trọng nam khinh
nữ” Sự ghen tuông mù quáng của người chồng
vũ phu.
- Cảm thương số phận oan nghiệt của người
phụ nữ.
Trang 192 Yếu tố kì ảo
-Vũ Nương được Linh Phi cứu.
- Vũ Nương gặp lại chồng và được giải oan.
Ý nghĩa:
-Tăng sức hấp dẫn, lôi cuốn người đọc.
-Thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc:
+ Khẳng định thêm phẩm chất đẹp đẽ của
Vũ Nương.
+ Niềm tin về sự công bằng, một xã hội tốt đẹp.
Trang 203/.Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo
*Giá trị hiện thực:
-Truyện phơi bày hiện thực chiến tranh phong kiến
-Những bất công đối với người phụ nữ trong
xã hội cũ; nỗi oan khuất và số phận bi thảm
của họ.
*Giá trị nhân đạo:
-Khẳng định, đề cao đức hạnh, phẩm giá của
người phụ nữ.
-Cảm thông với khát vọng hạnh phúc và số
phận bi thảm của họ.