1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Văn mẫu lớp 9: Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương qua tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ

14 649 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 438,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Truyện thể hiện niềm thương cảm sâu sắc của tác giả trước số phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, đồng thời ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của họ qua nhân vật chính V

Trang 1

Đề bài: Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương (thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến) qua tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ

Bài văn mẫu 1

Nguyễn Dữ sống ở thế kỷ XVI quê ở huyện Trường Tân nay là Thanh Miện — Hải Dương Ông là học trò của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm Các tác phẩm của ông đã đóng góp rất lớn cho nền văn học trung đại Việt Nam Điền hình là "Truyền

ky Man Luc" gồm có hai mươi câu chuyện nhỏ Trong đó tiêu biểu là chuyện người con gái Nam Xương là câu chuyện thứ l6 của Truyền Kỳ Mạn Lục, được

bắt đầu từ truyện "vợ chàng Trương" Truyện thể hiện niềm thương cảm sâu sắc của tác giả trước số phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, đồng thời ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của họ qua nhân vật chính Vũ Nương

Trước tiên Vũ Nương là người phụ nữ mang nhiều phẩm chất tốt đẹp là người phụ

nữ bình dân xuất thân từ gia đình nghèo nhưng nàng vừa có nhan sắc, vừa có đức

hạnh Tính đã thùy mi nết na lại thêm tư duy tốt đẹp

Vẻ đẹp của Vũ Nương mang vẻ đẹp của một người phụ nữ - của chiếc bánh trôi

trong thơ của Hồ Xuân Hương "vừa trắng lại vừa tròn" Vì vậy Trương Sinh con nhà hào phú đã xin với mẹ trăm lạng vàng cưới nàng về làm vợ, cuộc hôn nhân không bình đăng, đã vậy Trương Sinh lại có tính đa nghi, hay ghen Vậy mà trong

đạo vợ chồng nàng tỏ ra là một phụ nữ thông minh, đôn hậu, biết chồng có tính đa

nghỉ hay ghen nàng đã "luôn giữ gìn khuôn phép thất hòa" chứng tỏ nàng tất khéo léo trong việc vun vén hạnh phúc gia đình

Sống trong thời loạn lạc nên cuộc sum vay chua duoc bao lau thi Truong Sinh

tong quan di linh noi bién ai Budi tién chéng ra tran nang rot chén ruou đây chúc chồng bình yên "chàng đi chuyến này thiếp chăng mong thế là đủ rồi" Ước mong của nàng thật giản dị chỉ vì nàng coi trọng hạnh phúc gia đình hơn mọi công danh phù phiếm ở đời Những năm xa cách Vũ Nương thương nhớ chồng khôn xiết kế: "Mỗi khi bướm lượn đây vườn mây che kín núi thì nỗi buồn chân trời góc

bề lại không thé nao ngăn được”

Trang 2

Tâm trạng thương nhớ ấy của Vũ Nương cũng là tâm trạng chung của nhiễu người chinh phụ trong thời loạn lạc ngày xưa

"Nhớ chàng đăng đăng đường lên bằng trời

Trời thăm thắm xa vời khôn thấu

Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong"

(Chinh phụ ngâm khúc - Đoàn Thị Điểm) Thể hiện tâm trạng ây Nguyễn Dữ vừa cảm thông với nỗi đau xa cách chồng của

Vũ Nương vừa ca ngợi tắm lòng chung thủy của nàng

Không chỉ là một người vợ chung thủy, Vũ Nương còn là một người mẹ hiền, người con dâu hiếu thảo, chàng ra trận vừa tròn tuần thì nàng sinh con nuôi dạy con khôn lớn Đề bù đắp thiếu văng cha của con nàng chỉ chiếc bóng của mình trên tường và nói là cha Đản, còn với mẹ chồng già yếu nàng chăm sóc mẹ rất chu đáo, thuốc thang phụng dưỡng như cha mẹ đẻ của mình Nàng đã làm chọn chữ

"công" với nhà chồng Đây là điều rất đáng trân trọng của Vũ Nương bởi thời xưa quan hệ mẹ chồng nàng dâu dường như chưa bao giờ êm đẹp và chứa đầy những

định kiến khắt khe

Tấm lòng của nàng đã được người mẹ chồng ghi nhận, điều này thể hiện qua những lời trăn trỗi của bà trước khi qua đời "Sau này trời xét lòng lành ban cho phúc đức giống dòng tối tươi, xanh kia quyết chăng phụ con cũng như con đã chăng phụ mẹ" Vũ Nương chính là người phụ nữ lý tưởng trong xã hội ngày xưa:

Công, dung, ngôn, hạnh

Là người phụ nữ có bao phẩm chất tốt đẹp đáng lẽ nàng phải được hưởng cuộc sống hạnh phúc chí ít cũng như nàng mong ước đó là thú vui nghỉ gia, nghi thất -

vợ chồng con cái sum họp bên nhau Thế nhưng cuộc sống của Vũ Nương cũng như cuộc đời của người phụ nữ xưa là những trang buôn đầy nước mắt Bất hạnh của nàng bắt đầu từ khi giặc tan Trương Sinh trở về, chuyện cái bóng của con thơ

đã là Trương Sinh ngờ vực, rồi kết tội Vũ Nương Chàng đỉnh nỉnh là vợ hư, nàng hết lời phân trần để bày tỏ lòng thủy chung, cố găng hàn gắn hạnh phúc gia đình

có nguy cơ tan vỡ những tất cả đều vô ích Vốn có tính hay ghen lại vũ phu ít học

Trang 3

Trương Sinh đã đối xử với nàng hết sức tàn nhẫn "mắng nhiếc, đánh đuôi nàng đi",

bỏ ngoài tai những lời phân trần của vợ và những lời khuyên can của hàng xóm Thất vọng đến tột cùng Vũ Nương đành mượn dòng nước quê hương để giãi tỏ nỗi lòng trong trăng của mình Nàng "tắm gội chay sạch ra bến sông Hoàng Giang ngửa cổ lên trời là than rằng kẻ bạc mệnh này duyên ham hiu phi nho" Noi réi nàng nhảy xuống sông tự vẫn Vũ Nương bị người thân nhất đây xuống bên bờ vực thăm dẫn đến bi kịch gia đình

Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương (thân phận người phụ nữ trong XHPK) qua

"Chuyện người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ, "thà chết trong còn hơn sống đục" với tắm lòng yêu thương con người Nguyễn Dữ không để cho sự trong sáng cao đẹp của Vũ Nương phải chịu oan khuất nên phần cuối chuyện đây ắp những chỉ tiết hoang đường kì ảo Sau câu chuyện của Phan Lang, Trương Sinh lập đàn giải oan cho vợ Nàng trở về trong thế rực rõ uy nghi nhưng chỉ thấp thoáng trong giây lát rồi biến mất mãi mãi Vũ Nương mãi mắt đi quyền sống, quyền hạnh phúc, quyên làm vợ, làm mẹ Bi kịch của Vũ Nương cũng chính là bi kịch của người phụ nữ xã hội xưa Bi kịch ấy không chi dimg 6 thé ki XVI, XVII, XVII

mà đến đầu thế ký XIX Nguyễn Du từng viết trong truyện Kiểu:

"Đau đón thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung"

Với niềm xót thương sâu sắc Nguyễn Dữ lên án những thế lực tản ác chà đạp lên những khát vọng chính đáng của con người — của phụ nữ Ông tố cáo xã hội phong kiến với những hủ tục phi lý, trọng nam khinh nữ, đạo tam tòng bao bất công và hiện thân của nó là nhân vật Trương Sinh, người chồng ghen tuông mù quáng, vũ phu sống với hủ tục là thế lực đồng tiên bạc án nên Trương Sinh con nhà hào phú một lúc bỏ ra trăm lạng vàng để cưới Vũ Nương Ngoài ra ông còn tố cáo chiến tranh phi nghĩa đã làm phá vỡ hạnh phúc gia đình của con người

Như vậy bằng cách xây dựng truyện hết sức độc đáo là sự kết hợp hài hòa giữa yếu tô tự sự, trữ tình và yếu tổ thực ảo Chuyện "Người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ mang đến cho chúng ta bao ấn tượng tốt đẹp Truyện ca ngợi Vũ

Trang 4

Nương có đây đủ phẩm chất tốt đẹp mang tính truyền thống nhưng cuộc đời nàng lại là những trang buồn đây nước mắt Vẻ đẹp số phận của nàng cũng là vẻ đẹp số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến cũ Ngày nay chúng ta được sống trong thế giới công băng dân chủ, văn minh người phụ nữ là một nửa của thế giới

họ được hưởng những quyên lợi mà nam giới được hưởng Vậy chúng ta hãy phát huy những vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ xưa và thương cảm trước số phận của họ

Bài văn mẫu 2

“Nghi ngút dầu ghênh tỏa khói hương Miéu ai như miễu vợ chàng Trương”

Ngàn năm trôi qua, làn khói viếng “miễu vợ chàng Trương” vẫn muôn đời lan tỏa, vẫn vương, như tiếc như thương cho số phận đầy bi kịch của Vũ Nương Bằng ngòi bút đây trân trọng trong “Chuyện người con gái Nam Xương”, Nguyễn Dữ đã tạc

vào lịch sử văn học Việt Nam hình ảnh một người phụ nữ thời phong kiến, một Vũ

Nương, đại diện cho cái đẹp hoàn mỹ Nhưng đáng tiếc thay, cuộc đời nàng lại chất chứa những trang buồn đầy nước mắt

Tên nàng là “Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương”, đã đẹp người lại đẹp nết Trương Sinh, chồng nàng, là một người thất học lại thêm tính đa nghỉ Khi binh

đao loạn lạc, Trương phải ra trận Một tuần sau, nàng sinh con trai đầu lòng và một mình chăm sóc mẹ chồng, lo tang ma khi mẹ chồng mất Giặc tan, chàng Trương về,

nghe lời con trẻ mà nghi ngờ lòng thủy chung của vợ Vũ Nương không minh oan được nên đành tram minh, nhưng nàng được Linh Phi ở động Rùa cứu giúp Sau đó, nàng gặp Phan Lang, người hàng xóm đã cứu Linh Phi, nhờ Phan Lang gửi hộ lời với chàng Trương Trương Sinh hối cải, lập đàn giải oan theo lời Vũ Nương Nàng hiện lên gặp chồng con rồi lại quay về động Rùa vì hai người đã “âm dương đôi đường” Nhưng hình ảnh Vũ Nương không dừng lại ở đó mà còn mãi vẫn vương trong lòng người đọc bởi nét đẹp hoàn mỹ cũng như số phận oan khuất và cái chết đây bi thảm của nàng

Trang 5

Vũ Nương chính là đại diện cho vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến Không như Nguyễn Du miêu tả thật tinh tế nét đẹp

“nghiêng nước nghiêng thành” của Thúy Kiều, Nguyễn Dữ chỉ điểm qua nhẹ nét đẹp của Vũ Nương: “tư dung tốt đẹp” Nhưng chỉ bằng một chỉ tiết nhỏ ấy, tác giả đã

phần nào khắc họa được hình ảnh một cô gái có nhan sắc xinh đẹp Cũng bởi “mến

vì dung hạnh” nên chàng Trương đã lẫy nàng làm vợ Nhưng chữ “dung” ấy, vẻ đẹp hình thức ấy, chăng thể nào tỏa sáng ngàn đời như vẻ đẹp tâm hồn nàng Vũ Nương

“vốn con kẻ khó”, song rất mực tuân theo “tam tòng tứ đức”, giữ trọn lề lỗi gia phong và phẩm hạnh của chính mình Thế nên, nàng rất “thùy mị., nết na” Trong gia đình chồng, nàng luôn “giữ gìn khuôn phép, không để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa” Thế là, “hạnh”, một trong những tiêu chuẩn đánh giá con người, nàng đã vẹn tròn Lễ nghĩa, nàng cũng thông hiểu, am tường Tuy chăng phải tiểu thư khuê các, con nhà quyên quý nhưng lời nàng nói ra dịu dàng như vàng như ngọc Ngày tiễn chồng ra trận, nàng đã dặn rằng: “Chàng đi chuyến này, thiếp chăng mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gắm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi” Từng lời, từng chữ nàng thốt ra thắm đẫm tình nghĩa vợ

chồng thủy chung, son sắt, khiến “mọi người đều ứa hai hàng lệ” Phận làm vợ, ai

chang mong phu quân mình được phong chức tước, áo gắm về làng Còn nàng thì không Nàng chỉ ước ao giản dị rằng chàng Trương trở về được bình yên để có thể

sum họp, đoàn tụ gia đình, hạnh phúc âm êm như ngày nào Nhưng mong ước của nàng đã không thực hiện được BỊ chồng một mực nghi oan, Vũ Nương tìm mọi lời

lẽ dé chứng minh sự trong sạch của mình Nàng vẫn đoan trang đúng mực, chỉ nhẹ nhàng giải thích: “Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu Sum họp chưa

thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết Tô son điểm phân từng đã nguôi lòng Ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót Đâu

có sự mất nết hư thân như lời chàng nói Xin chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp” Lời nói của nàng luôn từ tốn, nhẹ nhàng, không quá hoa mỹ nhưng chất chứa

nghĩa tình Chỉ qua những lời thoại, từ “ngôn” của Vũ Nương đã để lại một ân tượng

khó phai trong lòng người đọc bởi vẻ từ tốn, tế nhị của nàng Và cũng từ những câu

Trang 6

nói ay, chúng ta cảm nhận được sự hy sinh vô bờ của nàng vì chồng con, gia đình

Khi chồng ra trận, cả giang san nhà chong triu nang trén d6i vai gay guéc, mong

manh của nàng Nàng phải sinh con một mình giữa nỗi cô đơn lạnh lẽo, thiếu sự vỗ

về, an ủi của người chồng Thật là một thử thách quá khó khăn với một người phụ nữ chân yếu tay mềm Nhưng nàng vẫn vượt qua tất cả, một mình vò võ nuôi con khôn lớn, đợi chồng vẻ Không những thế, nàng còn hết lòng chăm lo cho mẹ chồng 6m nặng: “Nàng hết sức thuốc thang, lễ bái thần phật và lẫy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn” Thời xưa, quan hệ mẹ chồng — nàng dâu dường như chưa bao giờ êm đẹp và chứa đầy những định kiến khắt khe

“Mẹ anh nghiệt lam anh oi

Biết rằng có được ở đời với nhau Hay là vào trước ra sau Cho cực lòng thiếp, cho đau lòng chàng”

Nhưng nàng đã yêu thương mẹ chồng như chính cha mẹ ruột của mình Mọi việc trong nhà đều được nàng chăm lo chu tất Và lời trăn trỗi cuối cùng của mẹ chồng như một lời nhận xét, đánh giá, một phần thưởng xứng đáng với những công lao và

sự hy sinh cao cả của nàng vì gia đình nhà chồng: “Xanh kia quyết chăng phụ con cũng như con đã chăng phụ mẹ” Tác giả đã một lần nữa nhắc lại: “Nàng hết lời

thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như với cha mẹ đẻ mình”, như tô đậm

tình yêu thương của nàng đối với mẹ chồng Vũ Nương là một nàng dâu đảm đang, thảo hiền trong mắt tất cả mọi người Vậy là cả “công — dung — ngôn — hạnh” nàng đều vẹn toàn Nàng chính là đỉnh cao của sự hoàn mỹ về cả vẻ đẹp hình thức lẫn tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam xưa dưới chế độ phong kiến Song, số phận chắng

hề mỉm cười với nàng

Cuộc đời Vũ Nương tiêu biểu cho số phận oan trái của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến Nàng gặp bao bất hạnh trên đường đời Chiến tranh tàn khốc đã

khiến bao gia đình li tán Trước cảnh đất nước binh đao loạn lạc, Trương Sinh phải

đi lính, giao phó cả giang san nhà chồng trên đôi vai bé nhỏ của người thiếu phụ Tất

cả mọi việc trong nhà đêu trông cậy vào nàng “Khi xa chồng vừa đây tuân thì sinh

Trang 7

ra một đứa con trai, đặt tên là Đản” Thiếu vắng sự quan tâm, săn sóc của người chồng, song nàng vẫn nuôi nắng, dạy dỗ con thơ khôn lớn, trưởng thành Vừa một mình chăm sóc, thuốc thang cho mẹ chồng, Vũ Nương vừa sinh con trai, lai thầm

lặng, tần tảo nuôi con và cũng một mình lo ma chay, chôn cất mẹ chồng chu đáo Từng ngày từng ngày trôi, bấy giờ, trên đôi vai bé nhỏ của nàng khó khăn lại chồng chất khó khăn Rồi chiến tranh cũng qua, cứ ngỡ Vũ Nương lại được sum họp gia đình, đoàn viên cùng chàng Trương, được sống trong hạnh phúc lứa đôi mà nàng hăng ao ước Nàng đâu biết rằng bi kịch cuộc đời nàng sắp bắt đầu Những ngày xa chồng, nàng đã âm thầm nuôi con, và nàng xót xa biết bao khi nhìn cảnh con thơ thiếu văng sự chăm sóc, yêu thương của người cha Thế là nàng đã chỉ bóng mình trên tường mà bảo với con rằng ấy chính là cha Đản Hành động ấy chăng phải vì nàng quá thương nhớ chồng mà xuất phát từ tắm lòng yêu thương con vô bờ của một người mẹ Nhưng nàng sẽ chăng bao giờ ngờ được răng nàng chết chính bởi cái bóng của chính mình Ngày Trương Sinh về, nghe lời con thơ dại mà hàm oan vợ:

“Trước đây có người đàn ông đêm nảo cũng đến Mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngôi, nhưng chăng bao giờ bế Đản cả” Trương Sinh vốn là tên thất học, lại thêm “tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức” Lời nói ngây thơ của bé Đản chứa đây những chỉ tiết đáng ngờ, như đồ thêm dau vào lửa Tính đa nghi của Trương Sinh đã dâng lên đến cao trào và một mực “đinh ninh là vợ hư” Chàng không còn đủ bình tĩnh để phán đoán, phân tích, bỏ ngoài tai những lời phân trần của

vợ, không tin cả những nhân chứng bênh vực cho nàng cũng nhất quyết không nói

ra nguyên cớ đề nàng có cơ hội minh oan Và Trương Sinh thoáng chốc hóa một kẻ

vũ phu, thô bạo, “mắng nhiếc nàng và đánh đuôi đi” Vượt qua được mọi gian lao,

vat va trong chiến tranh đề vẹn tròn phận dâu thảo hiền nhưng Vũ Nương không thể vượt qua nồi bức tường của chế độ nam quyên độc đoán, bất công, tàn bạo Lời nói của nàng đây thương tâm: ““Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu” Ngay

từ đầu, cuộc hôn nhân giữa nàng và chàng Trương đã có phần không bình dang va

mang tính chât một cuộc trao đôi, mua bán: Trương Sinh “xin với mẹ đem trăm lạng

Trang 8

vàng cưới về” Điều ấy khiến chúng ta chạnh lòng nhớ đến tình cảnh một Thúy Kiều khi phải bán mình chuộc cha:

“Cò kè bớt một thêm hai Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm”

Sự cách bức về địa vị xã hội như thế đã tạo cho Trương Sinh một cái thế bên cạnh những uy quyền vốn có của người chồng, người đàn ông trong gia đình gia trưởng phong kiến Chính cái gia đình “chồng chúa vợ tôi”, “phu xướng phụ tùy” ấy đã khiến nàng bị khinh rẻ, đối xử tệ bạc Một người vợ vốn đức hạnh, ngoan hiển, vâng theo cả “tam tòng tứ đức” lại phải mang tiếng xấu “hư thân mất nết” Mọi lời mắng nhiếc của Trương Sinh như chà đạp lên phẩm giá cao đẹp mà nàng đã gìn giữ cả một đời Khi xa chồng, Vũ Nương là người vợ thủy chung, yêu chồng tha thiết, nỗi buồn nhớ cứ dài theo những “bướm lượn đây vườn”, “mây che kín núi” Thế mà khi vừa

mới sum họp hạnh phúc, nàng lại bị gán cho tội danh: “lừa chồng dối con” Thật đau đón, thật tủi nhục! Bi kịch của cuộc đời Vũ Nương chính từ lễ giáo bất công và chế

độ nam quyên Người đàn ông với những quyên hành về số phận, cuộc đời người phụ nữ đã đây Vũ Nương vào đường cùng không lối thoát Cái chết oan khuất, xót

xa của Vũ Nương, ai có thể ngờ người gây ra thảm kịch ấy chính là chồng va con nàng, những người thân mà nàng hết mực yêu thương, chăm sóc Nàng, một người con gái luôn khao khát hạnh phúc dù chỉ nhỏ nhoi, bình dị nhưng cho dén khi tram mình xuống sông thì cuộc đời nàng đúng là một chuỗi dài những bi kịch Hạnh phúc đâu quá xa vời mà xã hội phong kiến ấy không cho nàng cham tay đến tận hưởng

“thú vui nghỉ gia nghi thất” một lần duy nhất trong đời Nỗi oan của nàng thấu cả trời xanh Ngày xưa, Quan Âm Thị Kính mắc oan giết chồng bởi “tình ngay lý gian” Nhưng nàng Thị Kính cũng còn hiểu ra nỗi oan khuất của mình từ đâu mà thành Còn khi đã chìm sâu dưới dòng nước, Vũ Nương vẫn không hẻ biết rằng mình phải chết vì đâu Bi kịch của Vũ Nương là một lời tổ cáo xã hội phong kiến xem trọng quyền uy của kẻ giàu và của người đàn ông trong gia đình, đồng thời bày tỏ niềm cảm thương đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ Người phụ nữ đức hạnh

không những không được bênh vực, che chở mà lại còn bị đối xử một cách bất công,

Trang 9

vô lý: chỉ vì lời nói ngây thơ của đứa trẻ miệng còn hôi sữa và vì sự hồ đỗ, vũ phu của anh chồng ghen tuông mà đến nỗi phải kết liễu cuộc đời mình Phải chăng đăng sau nỗi oan của nàng còn bao nhiêu nỗi oan của những người phụ nữ khác trong chế

độ phong kiến bị rẻ rúng, suốt đời sống trong câm lặng

Xót thương trước nỗi đau khổ vì bị chà đạp của những người phụ nữ, Nguyễn Dữ như muốn minh oan và bù đắp cho những đức tính tốt đẹp của nàng bang một cuộc sống khác với dương gian Nhưng ở chốn “làng mây cung nước”, Vũ Nương chăng thể nào nguôi nỗi nhớ về những oan ức, bĩ cực ở cõi trần Sống giữa cõi tiên huyền

ảo, đẹp diệu kỷ nhưng nàng dường như không bao giờ dút tình nghĩa gia đình, mãi khóc thương cảnh gia đình tiêu điều xơ xác Nàng xin lập đàn giải oan, khao khát

được trả lại danh dự của một người con gái đức hạnh Và cuối cùng, nỗi oan của

nàng đã được giải Từ chốn thủy cung, Vũ Nương “ngôi trên một chiếc kiệu hoa

đứng giữa dòng, theo sau có đến năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, rực rỡ sắc

mảu, lúc ân, lúc hiện” Nhưng xót xa thay, nàng “chăng thể trở về nhân gian được nữa” Nỗi oan tình của nàng đã được minh oan, giải tỏa nhưng âm dương đôi đường cách trở, nàng chăng bao giờ được làm vợ, làm mẹ chốn cõi trần Bé Đản mãi mãi là một đứa bé mô côi mẹ Nếu nàng được trở về với cõi trần thì liệu xã hội phong kiến bất công không có nơi dành cho cái đẹp này có dành cho nàng một cuộc sống âm êm, bình yên, hay một lần nữa, nàng phải đau đớn, buồn khô Dù quay về chốn tiên cảnh xinh đẹp, nhưng cuối cùng, mơ ước cả đời của nàng, hạnh phúc “nghi gia nghỉ thất”, chỉ mãi là ước mơ hảo huyền

Hình tượng nhân vật Vũ Nương là hiện than cua long vi tha và vẻ đẹp người phụ nữ Song cuộc đời nàng gặp nỗi bi kịch lớn Ấy chính là tấn bi kịch của người phụ nữ

Việt Nam trong chế độ phong kiến tàn ác, chế độ của sự lạc hậu và cả bóng đêm vĩnh

cửu Điều đó khiến chúng ta phải chạnh lòng trước số phận của người phụ nữ

“Đau đớn thay phận đàn bà Lời răng bạc mệnh cũng là lời chung”

Bài văn mẫu 3

Nguyễn Dữ là nhà văn xuất sắc trong nền văn học trung đại Việt Nam Ông học

Trang 10

rộng tài cao, nhưng chỉ làm quan một năm rỗi lui về ở ân vì bất lực trước thời đại

suy yếu của phong kiến Có thể nói “truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ là một tác phẩm tiêu biểu cho thể loại truyền kỳ ở Việt Nam, trong đó “người con gái Nam Xương” dựa trên tích truyện dân gian nhưng với tài năng sự sáng tạo tuyệt vời và lòng yêu con người tha thiết, Nguyễn Dữ đã làm bao bạn đọc phải rơi lệ xót thương cho cuộc đời và số phận của Vũ Nương — một người phụ nữ đức hạnh nhưng có số phận bất hạnh

Mở đầu trang - truyện, tác giả Nguyễn Dữ đã giới thiệu Vũ Nương là một người con gái: “thùy mị, nết na, tư dung tốt đẹp” Mặc dù con nhà nghèo lây chồng giàu lại có tinh đa nghi ít học nhưng do hiền lành nết na lại thông minh, khéo cư xử nên nàng đã san bằng được khoảng cách “môn đăng hộ đối” — một quan điểm nặng nề của lễ giáo phong kiến và giữ được không khí trong gia đình yên ấm, hạnh phúc “chưa từng xảy

ra thất hòa” Có thể nói cuộc đời nàng tuy ngăn ngủi nhưng nàng đã làm tròn bốn

phận của một người vợ hiền, một người dâu thảo, người mẹ hết mực yêu con Trước

hết, Vũ Nương là người vợ hết lòng yêu thương và thủy chung son sắc với chồng Sống dưới thời loạn lạc vì không có học nên tên Trương Sinh phải ghi vào số lính loại đầu Trong buổi tiễn đưa chồng ra trận, nàng rót chén rượu đây tiễn chồng bằng lời lẽ dịu dàng, tha thiết “chàng đi chuyến này thiếp chả dám mong đeo được ấn phong hầu mặc áo gắm trở về quê cũ chỉ xin ngày về mang theo hai chữ bình yên thế

là đủ rồi” Đọc đến đây người đọc xúc động trước khao khát, ước mơ bình dị của Vũ

Nương Đăng sau niềm khao khát ước mơ ấy là cả một tắm lòng yêu thương chân thành, đăm thăm vượt ra ngoài cám dỗ vật chất tầm thường “vinh hoa phú quý” Yêu thương chồng, nàng mong mỏi ngày chàng bình yên trở về bởi hơn hết trong lòng nàng cái khát khao lớn nhất là được hưởng thú vui “nghi gia nghỉ thất” vợ chồng

sum họp, con cái day đàn nàng được làm trọn và hưởng hạnh phúc làm mẹ, làm vợ,

Khi Trương Sinh ở ngoài mặt trận, tình cảm của nàng luôn hướng về Trương Sinh Hình ảnh “bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi” là hình ảnh thiên nhiên hữu tình gợi sự trôi chảy của thời gian đã khiến cho “nỗi buồn góc bề chân trời không thể nào ngăn được” Tác giả đã diễn tả thật tính tê chân thực nôi niềm nhớ nhung, mong mỏi

Ngày đăng: 30/04/2017, 09:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w