Biên bản giao nhận phải ghi rõ tên và địa chỉ trụ sở chính của công ty; họ, tên, địa chỉ thường trú, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác, số quyết[r]
Trang 1TRẮC NGHIỆM
(Tài liệu tham khảo)
Khẳng định đúng hay sai? tại sao?
1 Sau khi đã góp vốn là quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất vào công ty (CTHD, CTTNHH, CTCP) thành viên (đã góp vốn) không còn quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đó
Đúng
Vì, theo Điều 29 Luật doanh nghiệp (2005) quy định:
Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và cổ đông công ty cổ phần phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty theo quy định sau đây:
- Đối với tài sản có đăng ký hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
- Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản
Cổ phần hoặc phần vốn góp bằng tài sản không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng chỉ được coi là thanh toán xong khi quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản góp vốn đã chuyển sang công ty
Như vậy, khảng định trên luôn đúng trong mọi trường hợp
2 Căn cứ duy nhất để chứng minh quyền sở hữu cổ phần của cổ đông trong mọi công
ty cổ phần là cổ phiếu.
Sai
Vì, bên cạnh cổ phiếu là căn cứ để chứng minh quyền sở hữu cổ phần của công ty cổ phần thì hợp đồng chuyển nhượng cổ phần hay tên, địa và phần vốn góp của mỗi cổ đông được ghi trong sổ đăng ký cổ đông cũng là căn cứ chứng minh quyền sở hữu cổ phần của cổ đông công ty cổ phần
3 Mọi hợp đồng mua bán hàng hóa được giao kết giữa một công ty cổ phần với cổ đông của công ty đó phải được Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị của công ty chấp thuận.
Sai
Vì, Điều 120 Luật Doanh nghiệp (2005) quy định: “Hợp đồng, giao dịch giữa công ty với các đối tượng sau đây phải được Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị chấp thuận:
a) Cổ đông, người đại diện uỷ quyền của cổ đông sở hữu trên 35% tổng số cổ phần phổ thông của công ty và những người có liên quan của họ;
b) Thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc;…”
Như vậy, không phải mọi hợp đồng mua bán hàng hóa được giao kết giữa một công ty cổ phần với cổ đông của công ty đó đều phải được Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị của công ty chấp thuận, chỉ những hợp đồng giữa công ty với cổ đông, người đại diện uỷ quyền của cổ đông sở hữu trên 35% tổng số cổ phần phổ thông của công ty mới phảI được ĐHĐCĐ hoặc HĐQT của công ty chấp thuận
4 Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản không được tặng, cho tài sản.
Sai
Vì, theo khoản 2 Điều 31 Luật phá sản (2004), sau khi nhận được quyết định mở thủ tục phá sản, các hoạt động sau đây của doanh nghiệp, hợp tác xã phải được sự đồng ý bằng văn bản của Thẩm phán trước khi thực hiện:
Trang 2a) Cầm cố, thế chấp, chuyển nhượng, bán, tặng cho, cho thuê tài sản;
b) Nhận tài sản từ một hợp đồng chuyển nhượng;
c) Chấm dứt thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực;
d) Vay tiền;
đ) Bán, chuyển đổi cổ phần hoặc chuyển quyền sở hữu tài sản;
e) Thanh toán các khoản nợ mới phát sinh từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã và trả lương cho người lao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã
Như vậy, theo khoản 2 Điều 31 Luật phá sản (2004), sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản vẫn có thể tặng cho tài sản nếu được sự đồng ý của Thẩm phán
5 Trong mọi trường hợp, giám đốc (hoặc tổng giám đốc) công ty là người đại diện theo pháp luật của công ty
Sai
Vì người đại diện theo pháp luật của công ty có thể là Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, có thể là Chủ tich công ty, Chủ tịch HĐTV hay Chủ tịch HĐQT do Điều lệ công ty quy định
Ví dụ: Trong công ty hợp danh, nếu điều lệ công ty không quy định khác thì tất cả các thành viên hợp danh đều là người đại diện theo pháp luật của công ty; trong công ty TNHH hai thành viên trở lên, Điều lệ của công ty có thể quy định Chủ tịch Hội đồng thành viên là người đại diện theo pháp luật của công ty, Công ty cổ phần có thể quy định Chủ tịch HĐQT là người đại diện theo pháp luật của công ty
6 Khi một thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên chết, người thừa kế hợp pháp của thành viên đó trở thành thành viên của công ty mà không phụ thuộc vào quyết định của Hội đồng thành viên.
Đúng
Vì theo Điều 43 Luật doanh nghiệp (2005) thì trong trường hợp thành viên là cá nhân chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của thành viên đó là thành viên của công ty
7 Lời nói có thể là hình thức hợp pháp của mọi hợp đồng mua bán hàng hóa theo Luật thương mại năm 2005
Sai
Vì có những hợp đồng mua bán hàng hóa theo Luật thương mại 2005 bắt buộc phải được thể hiện dưới hình thức văn bản hoặc các hình thức có giá trị tương đương văn bản, như : hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Khoản 2 Điều 27 Luật thương mại (2005) quy định, mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương
8 Thủ tục phá sản quy định tại Luật phá sản năm 2004 không áp dụng đối với hộ kinh doanh lâm vào tình trạng phá sản
Đúng
Vì Luật phá sản (2004) chỉ áp dụng với doanh nghiệp và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật khi lâm vào tình trạng phá sản Hộ kinh doanh không phải là doanh nghiệp, cũng không phải là hợp tác xã nên không là đối tượng
áp dụng của Luật phá sản (2004) Vì vậy, khi hộ kinh doanh lâm vào tình trạng phá sản sẽ không được áp dụng Luật phá sản (2004) để giải quyết 1 Chủ doanh nghiệp tư nhân không thể đồng thời là thành viên hợp danh của công ty hợp danh
Sai
Trang 3Vì: theo khoản 1 Điều 133 Luật doanh nghiệp (2005) quy định: “Thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác, trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại.”
Chủ DNTN phải chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của doanh nghiệp và thành viên hợp danh cũng phải chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của công ty Do vậy, một
cá nhân không thể vừa là chủ DNTN lại đồng thời là thành viên hợp danh của công ty hợp danh,trừ trường hợp các thành viện hợp danh còn lại đồng ý Trường hợp các thành viên hợp danh còn lại đồng ý cho thành viên hợp danh của công ty hợp danh làm chủ DNTN hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác, thì các thành viên hợp danh đã đồng ý đó phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty
9 Thành viên hợp danh không thể đồng thời là thành viên hợp danh của một công ty hợp danh khác
Sai
Vì theo khoản 1 Điều 133 Luật doanh nghiệp (2005) “Thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác, trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại.”
Như vậy, theo Luật doanh nghiệp (2005) thì mặc dù thành viên hợp danh và chủ doanh nghiệp tư nhân đều phải chịu trách nhiệm vô hạn về các nghĩa vụ tài sản của công ty hay doanh nghiệp tư nhân nhưng thành viên hợp danh của công ty hợp danh vẫn có thể là thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác hoặc là chủ doanh nghiệp tư nhân, nếu được
sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại
10 Thành viên công ty TNHH phải là những đối tượng không bị cấm thành lập, quản
lý doanh nghiệp quy định tại khoản 2 Điều 13 Luật doanh nghiệp (2005).
Sai
Theo Luật doanh nghiệp (2005), chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên có thể là tổ chức hoặc cá nhân Chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên là người quản lý công ty, nên chỉ những tổ chức không bị cấm thành lập, quản lý doanh nghiệp quy định tại khoản 2 Điều
13 Luật doanh nghiệp mới có thể là chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên Bởi vậy, khảng định này chỉ đúng đối với công ty TNHH một thành viên mà không đúng với công ty TNHH hai thành viên trở lên
Công ty TNHH hai thành viên trở lên thì người quản lý không phải là tất cả các thành viên công ty như quy định của khoản 12 Điều 3 Luật doanh nghiệp (1999) mà người quản lý công ty TNHH hai thành viên trở lên chỉ bao gồm: Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và các chức danh quản lý khác do Điều lệ công ty quy định [khoản 13 Điều 4 Luật doanh nghiệp (2005)] Như vậy, chỉ những thành viên là người quản lý nêu trên (thành viên tham gia công ty với cương vị Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và các chức danh quản lý khác do Điều lệ công ty quy định) mới không được
là những đối tượng bị cấm thành lập, quản lý doanh nghiệp quy định tại khoản 2 Điều 13 Luật doanh nghiệp (2005) Vì vậy, những đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 13 Luật doanh nghiệp (2005) vẫn có thể là thành viên thường (thành viên góp vốn, không quản lý, điều hành công ty)
11 Cán bộ, công chức không thể là thành viên công ty TNHH
Sai
Theo Luật doanh nghiệp (2005), thì người quản lý công ty TNHH hai thành viên trở lên không phải là tất cả các thành viên công ty như quy định của khoản 12 Điều 3 Luật doanh nghiệp (1999) mà người quản lý công ty TNHH hai thành viên trở lên chỉ bao gồm: Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và các chức danh quản lý khác do Điều
lệ công ty quy định [khoản 13 Điều 4 Luật doanh nghiệp (2005)]
Như vậy, chỉ những thành viên là người quản lý nêu trên (thành viên tham gia công ty với cương vị Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và các chức danh quản lý khác do Điều lệ công ty quy định) mới không được là CBCC vì CBCC không được
Trang 4thành lập, quản lý doanh nghiệp theo khoản 2 Điều 13 Luật doanh nghiệp (2005) Do đó, CBCC vẫn có thể là thành viên thường (thành viên góp vốn, không thành lập quản lý công ty)
12 Các chủ thể kinh doanh khi lâm vào tình trạng phá sản sẽ bị tuyên bố phá sản
Sai
Vì:
- Thứ nhất, không phải mọi chủ thể kinh doanh khi lâm vào tình trạng phá sản đều là đối tượng được áp dụng luật phá sản Chỉ những chủ thể kinh doanh là doanh nghiệp, hợp tác
xã khi lâm vào tình trạng phá sản mới là đối tượng được áp dụng luật phá sản Do vậy, những chủ thể kinh doanh là tổ hợp tác, hộ kinh doanh khi lâm vào tình trạng phá sản (mất khả năng thanh toán nợ đến hạn khi chủ nợ yêu cầu) vẫn không được áp dụng Luật phá sản Vì vậy, không thể bị tuyên bố phá sản
- Thứ hai, ngay cả những chủ thể kinh doanh khi lâm vào tình ttrạng phá sản và là đối tượng được áp dụng Luật phá sản cũng không phải đều sẽ bị tuyên bố phá sản Mục tiêu của Luật phá sản hiện đại ngày nay (trong đó có Luật phá sản của Việt Nam) đều hướng đến giải pháp tối ưu để cứu vớt doanh nghiệp Chỉ khi không còn giải pháp nào được lựa chọn để cứu vớt doanh nghiệp, hợp tác xã thì Toà án mới tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã Như vậy, vẫn có nhiều trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản mà không
bị tuyên bố phá sản
Tóm lại, không phải mọi trường hợp các chủ thể kinh doanh khi lâm vào tình trạng phá sản sẽ bị tuyên bố phá sản
13 Trong quá trình hoạt động, nếu số lượng xã viên hợp tác xã, hoặc thành viên công ty giảm dưới mức tối thiểu thì hợp tác xã, công ty đó phải làm thủ tục giải thể.
sai
Vì trong những trường hợp như vậy, pháp luật cho phép HTX, công ty có thể gọi thêm
xã viên hoặc thành viên mới trong một thời hạn nhất định (trong thời hạn 6 tháng) hoặc có thể
áp dụng các hình thức tổ chức lại HTX, công ty, như: hợp nhất, sáp nhập hay chuyển đổi hình thức doanh nghiệp mà không cần giải thể
14 Sau khi hoàn tất nghĩa vụ góp vốn vào công ty, tổ chức, cá nhân góp vốn không còn quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn.
Đúng
Vì, theo Điều 29 Luật doanh nghiệp (2005) quy định:
1 Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và cổ đông công ty cổ phần phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty theo quy định sau đây:
a) Đối với tài sản có đăng ký hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn không phải chịu lệ phí trước bạ; b) Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản
Biên bản giao nhận phải ghi rõ tên và địa chỉ trụ sở chính của công ty; họ, tên, địa chỉ thường trú, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác,
số quyết định thành lập hoặc đăng ký của người góp vốn; loại tài sản và số đơn vị tài sản góp vốn; tổng giá trị tài sản góp vốn và tỷ lệ của tổng giá trị tài sản đó trong vốn điều lệ của công ty; ngày giao nhận; chữ ký của người góp vốn hoặc đại diện theo uỷ quyền của người góp vốn
và người đại diện theo pháp luật của công ty;
c) Cổ phần hoặc phần vốn góp bằng tài sản không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự
do chuyển đổi, vàng chỉ được coi là thanh toán xong khi quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản góp vốn đã chuyển sang công ty
Như vậy, khảng định trên luôn đúng trong mọi trường hợp
15 Công ty cổ phần được tăng vốn điều lệ bằng cách phát hành cổ phiếu, trái phiếu.
Sai
Trang 5Vì, chỉ khi phát hành cổ phiếu mới làm tăng vốn điều lệ của công ty, còn khi phát hành trái phiếu chỉ làm tăng vốn vay (tăng tổng số vốn đầu tư ) mà không làm thay đổi (không tăng) vốn điều lệ của công ty…
16 Giám đốc(Tổng giám đốc) công ty hợp danh phải là thành viên hợp danh của công ty hợp danh)
Sai
Vì, theo khoản 1 Điều 135 Luật doanh nghiệp (2005) thì tất cả thành viên hợp lại thành Hội đồng thành viên Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh làm Chủ tịch Hội đồng thành viên, đồng thời kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty nếu Điều lệ công
ty không có quy định khác
Như vậy, theo khoản 1 Điều 135 Luật doanh nghiệp (2005), Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh làm Chủ tịch Hội đồng thành viên, đồng thời kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác Trường hợp này, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty phải là thành viên hợp danh nếu Điều lệ công ty không quy định khác Vì vậy, Điều lệ công ty vẫn có thể quy định Giám đốc hoặc Tổng giám đốc không nhất thiết phải là thành viên hợp danh (có thể thuê Giám đốc hoặc Tổng giám đốc nếu Điều lệ công ty có quy định)
17 Để khởi kiện tại Trọng tài, các bên tranh chấp bắt buộc phải lập thoả thuận trọng tài, nhưng để khởi kiện tại Toà án, không nhất thiết các bên phải có thoả thuận lựa chọn Toà
án là cơ quan giải quyết khi có tranh chấp xảy ra.
Đúng
Vì thoả thuận trọng tài là điều kiện bắt buộc để Trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu Nói cách khác,
tố tụng trọng tài bắt buộc phải có thoả thuận trọng tài Trong khi đó, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Toà án do pháp luật phân định (nếu các bên không có thoả thuận trọng tài hoặc
có thoả thuận trọng tài nhưng vô hiệu theo Điều 10 Pháp lệnh Trọng tài thương mại), không phụ thuộc vào việc các bên có thoả thuận lựa chọn Toà án để giải quyết tranh chấp phát sinh hay không, trừ trường hợp các bên thoả thuận chọn Toà án nơi có trụ sở hay nới cư trú của nguyên đơn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (2004)
18 Chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên có quyền chuyển nhượng toàn bộ vốn điều lệ cho một cá nhân.
Đúng
Vì theo điểm h khoản 1 và điểm c khoản 2 Điều 64 Luật doanh nghiệp (2005) thì chủ
sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho
tổ chức, cá nhân khác
Như vậy, chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên có quyền chuyển nhượng toàn bộ vón điều lệ cho một cá nhân Trong trường hợp này, công ty có thể chuyển từ công ty TNHH một thành viên do một tổ chức làm chủ sở hữu thành công ty TNHH một thành viên do một
cá nhân làm chủ
19 Toà án chỉ có thể tuyên bố hợp đồng vô hiệu theo các căn cứ quy định tại Bộ luật dân sự (2005).
Sai
Vì ngoài các trường hợp hợp đồng vô hiệu theo quy định của Bộ luật dân sự, Toà án còn có thể tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong một số trường hợp quy định tại Điều 59, Điều 75
và Điều 120 của Luật doanh nghiệp (2005 [Trích các điều 59, 75, 120 Luật doanh nghiệp (2005)…] Ngoài ra, Toà án còn có thể tuyên các giao dịch vô hiệu theo quy định tại Điều 43 Luật phá sản
20 Giám đốc công ty TNHH phải là người góp vốn vào công ty đó.
Sai
Vì: Giám đốc có thể được công ty thuê mà không nhất thiết phải là thành viên công ty…
21 Công ty nhà nước chỉ chịu trách nhiệm trước các nghĩa vụ của mình đến hết giá trị vốn điều lệ.
Sai
Trang 6Vì Nhà nước chỉ chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty nhà nước trong phạm vi
số vốn điều lệ, còn công ty nhà nước thì chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của mình trong phạm vi số vốn do công ty quản lý…
22 Chỉ có phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư mới có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho các thương nhân
Sai
Vì theo Điều 6 Nghị định số 88/2006/ NĐ-CP ngày 29/8/2006 về ĐKKD thì:
1 Cơ quan đăng ký kinh doanh được tổ chức ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) và ở huyện, quận, thị xó, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), bao gồm:
a) Ở cấp tỉnh: Phũng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư (sau đây gọi chung là Phũng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh)
Riờng thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chớ Minh cú thể thành lập thờm một hoặc hai
cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh và được đỏnh số lần lượt theo thứ tự Việc thành lập thờm cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh do Ủy ban nhõn dõn thành phố quyết định
b) Ở cấp huyện: thành lập Phũng Đăng ký kinh doanh tại cỏc quận, huyện, thị xó, thành phố trực thuộc tỉnh cú số lượng hộ kinh doanh và hợp tỏc xó đăng ký thành lập mới hàng năm trung bỡnh từ 500 trở lờn trong hai năm gần nhất
Trường hợp khụng thành lập Phũng Đăng ký kinh doanh cấp huyện thỡ Phũng Tài chớnh - Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ đăng ký kinh doanh quy định tại Điều 8 Nghị định này (sau đây gọi chung là cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện) và cú con dấu riờng để thực hiện nhiệm vụ này
2 Phũng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh và Phũng Đăng ký kinh doanh cấp huyện cú tài khoản và con dấu riờng
3 Ủy ban nhõn dõn cấp tỉnh thống nhất với Ban Quản lý cỏc khu kinh tế do Thủ tướng Chớnh phủ quyết định thành lập (sau đây gọi chung là khu kinh tế) thành lập Phũng Đăng ký kinh doanh tại khu kinh tế
23.Đại hội xã viên quyết định việc phân phối lợi nhuận của hợp tác xã phù hợp với quy định của pháp luật và Điều lệ.
Đúng
Vì ĐHXV là cơ quan có thẩm quyền của HTX trong việc quyết định phân phối lợi nhuận của HTX trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật và Điều lệ HTX (Điều 22, Điều 37 Luật hợp tác xã năm 2003)
24 Sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và được quyền hoạt động kinh doanh.
Sai
Vì:- Thứ nhất, sau khi được cấp GCNĐKKD, không phải doanh nghiệp nào cũng có tư cách pháp nhân [ví dụ: DNTN không có tư cách pháp nhân, theo Luật doanh nghiệp (1999) công ty hợp danh không có tư cách pháp nhân, nhưng theo Luật doanh nghiệp (2005) công ty hợp danh được thừa nhận có tư cách pháp nhân]
- Thứ hai, sau khi được cấp GCNĐKKD thì doanh nghiệp được quyền kinh doanh, trừ ngành nghề kinh doanh có điều kiện Như vậy, đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì doanh nghiệp chỉ được quyền kinh doanh ngành nghề đó khi đủ điều kiện theo quy định của pháp luật Thời điểm được quyền kinh doanh ngành nghề có điều kiện không phải là thời điểm được cấp GCNĐKKD, mà là thời điểm đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật
25 Nếu không thay đổi ngành nghề kinh doanh, nhãn hiệu hàng hoá thì người mua DNTN được quyền tiếp tục hoạt động kinh doanh kể từ thời điểm nhận bàn giao DN mà không phải làm thủ tục đăng ký kinh doanh.
Sai
Trang 7Vì trong mọi trường hợp, nguời mua DN đều phải đăng ký kinh doanh lại theo quy định của pháp luật
Theo Điều 145 Luật doanh nghiệp (2005), chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền bán doanh nghiệp của mình cho người khác Chậm nhất mười lăm ngày trước ngày chuyển giao doanh nghiệp cho người mua, chủ doanh nghiệp phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký kinh doanh Thông báo phải nêu rõ tên, trụ sở của doanh nghiệp; tên, địa chỉ của người mua; tổng số nợ chưa thanh toán của doanh nghiệp; tên, địa chỉ, số nợ và thời hạn thanh toán cho từng chủ nợ; hợp đồng lao động và các hợp đồng khác đã ký mà chưa thực hiện xong
và cách thức giải quyết các hợp đồng đó
Sau khi bán doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác mà doanh nghiệp chưa thực hiện, trừ trường hợp người mua, người bán và chủ nợ của doanh nghiệp có thoả thuận khác
Người bán, người mua doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định của pháp luật về lao động
Người mua doanh nghiệp phải đăng ký kinh doanh lại theo quy định của Luật doanh nghiệp
26 Công ty nhà nước sau khi cổ phần hoá vẫn tiếp tục hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhà nước, nếu Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt.
Sai
Vì: Công ty nhà nước sau khi cổ phần hoá, Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối thì về bản chất vẫn được coi là doanh nghiệp nhà nước (theo Luật doanh nghiệp nhà nước 2003), nhưng doanh nghiệp được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần và tổ chức, hoạt động theo Luật doanh nghiệp (2005) mà không tổ chức, hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhà nước (2003)
27 Công ty TNHH tiếp nhận thêm thành viên mới luôn làm tăng (thay đổi) vốn điều lệ của công ty
Sai
Vì không phải mọi trường hợp công ty tiếp nhận thêm thành viên đều làm tăng vốn điều lệ của công ty Ví dụ, khi có thành viên công ty chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn cho người ngoài công ty (người không phải là thành viên công ty)…
Việc tiếp nhận thêm thành viên mới chỉ làm tăng vốn điều lệ của công ty khi thành viên đó góp vốn vào công ty mà không phải thông qua nhận chuyển nhượng vốn từ thành viên công ty…
28 Công ty TNHH một thành viên chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
Sai
Vì, chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên mới chịu trách nhiệm về các khoản nợ, các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ
Khoản 1 Điều 63 Luật doanh nghiệp (2005) quy định, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi
là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty
Như vậy, chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên chịu trách nhiệm về các khoản
nợ, các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty, còn công
ty phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ, các nghĩa vụ khác của công ty trong phạm vi số vốn (tài sản) của công ty
29 Trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại khi các bên tranh chấp có thỏa thuận trọng tài.
Sai
Nếu các bên có thoả thuận trọng tài nhưng thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì trọng tài thương mại vẫn không có thẩm quyền giải quyết Trong trường hợp đó, Toà án có thẩm quyền giải quyết theo sự phân định của pháp luật …
Trang 830 Trọng tài viên phải đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của pháp luật và phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận tư cách trọng tài viên.
Sai
Trọng tài viên phải hội đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của pháp luật, nhưng Pháp lệnh trọng tài thương mại (2003) đã bỏ thủ tục thi tuyển, xét chọn trọng tài viên (trước đây phải được Bộ tư pháp công nhận và cấp thẻ trọng tài viên Theo Pháp lệnh trọng tài, người có tư cách trọng tài viên khi đủ tiêu chuẩn, điều kiện quy định của pháp luật và được kết nạp vào danh sách Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài hoặc được các bên tranh chấp lựa chọn để giải quyết vụ tranh chấp của họ (đối với Trọng tài vụ việc)…
31 Nếu các bên đã có thỏa thuận trọng tài thì vụ tranh chấp thương mại không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Sai
Vì Luật trọng tài (2010) có quy đinh: Trong trường hợp vụ tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài, nếu một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được
32 Giải quyết vụ tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại không thể thiếu
sự hỗ trợ của Tòa án.
Sai
Không phải vụ tranh chấp thương mại nào được giải quyết bằng trọng tài cũng cần sự
hỗ trợ của Toà án Vụ tranh chấp thương mại bằng trọng tài chỉ cần sự hỗ trợ của Toà án khi
có yêu cầu xem xét về thẩm quyền của trọng tài, về chỉ định, thay đổi trọng tài viên, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, về yêu cầu huỷ quyết định trọng tài…
33 Khi một bên không tự nguyện thi hành quyết định trọng tài thì hiệu lực của quyết định trọng tài cần phải được Tòa án có thẩm quyền công nhận.
Sai
Theo Luật Trọng tài Thương mại (2010): Sau thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn thi hành quyết định trọng tài, nếu một bên không tự nguyện thi hành, cũng không yêu cầu huỷ theo quy định của pháp luật, bên được thi hành quyết định trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án cấp tỉnh nơi có trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi có tài sản của bên phải thi hành, thi hành quyết định trọng tài
Trong trường hợp một trong các bên có yêu cầu Toà án huỷ quyết định trọng tài thì quyết định trọng tài được thi hành kể từ ngày quyết định của Toà án không huỷ quyết định trọng tài có hiệu lực”
34 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại của trọng tài thương mại không phụ thuộc trụ sở hay nơi cư trú của bị đơn
Đúng
Trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp thương mại khi hội đủ hai điều kiện:
- Các bên tranh chấp có thỏa thận trọng tài
- Thỏa thuận trọng tài không vô hiệu
Như vậy, trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại theo
sự thỏa thuận của các bên tranh chấp mà không phụ thuộc trụ sở hay nơi cư trú của bị đơn
35 Công ty TNHH một thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ, các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
Sai Vì:
Theo khoản 1 Điều 63 Luật doanh nghiệp (2005), chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm
vi số vốn điều lệ của công ty
Công ty TNHH một thành viên phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ, các nghĩa vụ khác của công ty trong phạm vi số vốn (tài sản) của công ty
36 Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh có quyền từ chối cấp đăng ký kinh doanh cho công ty cổ phần M với lý do duy nhất là: có một cổ đông sáng lập nguyên là giám đốc một chi nhánh của công ty TNHH N (công ty TNHH N bị tuyên bố phá sản trước đó một năm)
sai
Trang 9Vì khoản 2 Điều 13 cấm thành lập, quản lý đối với những đối tượng theo quy định của pháp luật phá sản Khoản 2 Điều 94 Luật phá sản (2004) chỉ quy định: Chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh, Giám đốc (Tổng giám đốc), Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của doanh nghiệp, Chủ nhiệm, các thành viên Ban quản trị hợp tác xã bị tuyên bố phá sản không được quyền thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã, không được làm người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong thời hạn từ một đến
ba năm, kể từ ngày doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản
Như vậy, Giám đốc chi nhánh doanh nghiệp bị phá sản không phải là đối tượng bị cấm thành lập, quản lý doanh nghiệp Do vậy, Phũng đăng ký kinh doanh, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh H từ chối cấp đăng ký kinh doanh cho cụng ty cổ phần M với lý do duy nhất là: cú một
cổ đụng sỏng lập nguyờn là giỏm đốc một chi nhỏnh của cụng ty TNHH N (cụng ty TNHH N
bị tuyờn bố phỏ sản trước đú một năm) là không hợp pháp
37 Hội đồng thành viên công TNHH K có quyền quyết định không chấp nhận ông H
là thành viên công ty (ông H là người thừa kế hợp pháp của một thành viên đã chết của công
ty TNHH K và không thuộc đối tượng bị pháp luật cấm góp vốn vào công ty)
Sai
Vì theo Điều 45 Luật doanh nghiệp (2005) thì trong trường hợp thành viên là cá nhân chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của thành viên đó là thành viên của công ty
Như vậy, theo Điều 45 Luật doanh nghiệp (2005) thì ông H đương nhiên trở thành thành viên công ty TNHH K, Hội đồng thành viên công ty TNHH K quyết định không chấp nhận ông H là thành viên công ty là trái pháp luật
38 Sau khi có quyết định giải thể, trong thời gian tiến hành giải thể, đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần X, trên cơ sở nghị quyết chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông,
đã ký xác nhận xóa khoản nợ 200 triệu đồng cho công ty TNHH Y.
Bất hợp pháp vì hành vi này thuộc trường hợp bị cấm tại Điều 159 LDN (2005) Điều
159 LDN (2005) quy định:
Bất hợp phỏp vỡ hành vi này thuộc trường hợp bị cấm tại Điều 159 LDN (2005) Điều 159 LDN (2005) quy định: