1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

AM NHAC VA PPDH AN DHLT MN

11 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 25,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi trẻ tham gia các hoạt động âm nhạc, mỗi trẻ đều phải chấp hành tính tổ chức, sự chú ý, phản ứng nhanh, biết kiềm chế, điều khiển vận động phù hợp với âm nhạc, biết nhường nhịn giúp đ[r]

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG MÔN: ÂM NHẠC VÀ PPDH ÂM NHẠC

HỆ : ĐHLT MẦM NON

Số ĐVHT: 3 ( 2 TH – 1 LT) GVBM: TRẦN ĐỨC LÂM

-Tóm tắt Chương trình đào tạo GV Mầm non, trình độ đại học, hệ Liên thông từ CĐSP đối với học phần “Âm nhạc và PPDH âm nhạc cho trẻ em” 3 đvht (2 lí thuyết, 1 thực hành):

Giới thiệu một số khái niệm về ca hát (sơ lược về bộ máy phát âm, hơi thở - hơi ca hát, bài tập luyện thanh, tư thế ca hát thông thường), động tác giữ nhịp, dàn dựng bài hát, học các bài hát trong chương trình.

Giới thiệu sơ lược về phím đàn điện tử (sơ lược về cấu trúc, nhận biết các nốt trên phím đàn, chức năng và cách sử dụng, bảo quản ở tư thế tập), luyện các gam; bước đầu tập sử dụng một nhạc cụ để phục vụ cho dạy mầm non.

Giới thiệu các kiến thức cơ bản về nhạc lí phổ thông: cao độ âm thanh, trường độ âm thanh, các kí hiệu ghi trường độ, cao độ, nhịp, phách Các loại nhịp; Cung, quãng Dấu hóa, dấu biểu, … Điệu thức; rèn luyện đọc các bản nhạc và đọc ứng dụng các bài hát trong chương trình âm nhạc ở mầm non

Giới thiệu chung về vai trò của âm nhạc, đặc điểm và khả năng tiếp thu âm nhạc của trẻ mầm non, phương pháp dạy học hát, nghe nhạc, tập đọc nhạc, cách xây dựng kế hoạch theo chương trình mới.

Trang 2

-I Giới thiệu một số khái niệm về ca hát (sơ lược về bộ máy phát âm, hơi thở -hơi ca hát, bài tập luyện thanh, tư thế ca hát thông thường), động tác giữ nhịp, dàn dựng bài hát, học các bài hát trong chương trình ( 10 – LT 5; TH 5)

1 Khái niệm chung về ca hát:

2 Một số bài tập luyện thanh cơ bản dùng cho trẻ

3 Các động tác giữ nhịp cơ bản khi dạy trẻ hát và vận động theo nhạc

4 Một số bài hát trong chương trình

II Giới thiệu sơ lược về phím đàn điện tử (sơ lược về cấu trúc, nhận biết các nốt trên phím đàn, chức năng và cách sử dụng, bảo quản ở tư thế tập), luyện các gam; bước đầu tập sử dụng một nhạc cụ để phục vụ cho dạy mầm non ( 5 – LT 1; T.H 4)

( Học tại phòng thực hành nhạc cụ )

III Giới thiệu các kiến thức cơ bản về nhạc lí phổ thông: cao độ âm thanh, trường độ âm thanh, các kí hiệu ghi trường độ, cao độ, nhịp, phách Các loại nhịp; Cung, quãng Dấu hóa, Hóa biểu, … Điệu thức; rèn luyện đọc các bản nhạc và đọc ứng dụng các bài hát trong chương trình âm nhạc ở mầm non ( 10 - LT 7; TH 3 )

1 Khuông nhạc, khóa nhạc, vị trí các nốt nhạc trên khuông nhạc

2 Kí hiệu ghi trường độ, dấu lặng

3 Phách, trọng âm, nhịp, các loại nhịp cơ bản

4 Cung và nửa cung, quãng

5 Dấu hóa, hóa biểu

6 Sơ lược về điệu thức – gam – giọng

7 Đọc nhạc ứng dụng

IV vai trò của âm nhạc, đặc điểm và khả năng tiếp thu âm nhạc của trẻ mầm

non, phương pháp dạy học hát, nghe nhạc, tập đọc nhạc, cách xây dựng kế hoạch theo chương trình mới (20 – LT 15; TH 5)

1 Vai trò của giáo dục âm nhạc trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách trẻ em :

1.1 Âm nhạc là phương tiện giáo dục thẩm mỹ:

Âm nhạc là một trong các bộ môn nghệ thuật giáo dục cái đẹp cho trẻ Lời ca giai điệu của các bài hát, bản nhạc đã giúp trẻ tưởng tượng, học nói lên cảm xúc của mình, trẻ thấy được mình có thể diễn tả những ý nghĩ, những ước mơ, những cảm xúc mạnh mẽ

Trong giáo dục âm nhạc, điều quan trọng không phải là dạy trẻ hát chuẩn xác,

rõ ràng một cách đơn giản mà trẻ phải được tham gia các hoạt động âm nhạc như nghe nhạc, vân động theo nhạc, múa, trò chơi âm nhạc Được tiếp xúc với âm nhạc, ở một chừng mực nào đó trẻ sẽ biết nhận xét, trao đổi… đó chính là ý nghĩa của giáo dục thẩm mĩ

Bài hát là phương tiện để giáo dục trẻ nhiều mặt Do đó các bài hát giản dị, có tính nghệ thuật, phù hợp với lứa tuổi sẽ hình thành ở trẻ thị hiếu âm nhạc trong sáng, lành

mạnh, là cơ sở của tình cảm thẩm mỹ, đạo đức tốt đẹp Ví dụ bài Đàn gà con- nhạc

Philipencô, lời Việt Anh, đã tạo dựng hình ảnh “ Đàn gà con lông vàng đi theo mẹ tìm ăn

Trang 3

trong vườn, cùng tìm mồi ăn ngon” Lời ca trên giai điệu bay bổng như nhắn gửi, nhắc nhở các em biết vâng lời mẹ, biết yêu thương mẹ và cùng chăm chỉ làm việc… những hình ảnh

biểu trưng về cái đẹp được thể hiện rõ trong các bài Con chim non, Cá vàng bơi, Búp bê, Cháu yêu bà… Những hình ảnh đó đã nuôi dưỡng cho tâm hồn trẻ những nhận thức về cái

đẹp

Vì vậy, giáo dục tình cảm thẩm mỹ cho trẻ thông qua hoạt động âm nhạc trong trường Mầm non làm phong phú thêm đời sống tinh thần của trẻ, giúp trẻ cảm thụ cái đẹp, tạo niềm tin tưởng cho các cháu

1.2 Âm nhạc là phương tiện giáo dục đạo đức

“ Để sử dụng âm nhạc như một phương tiện giáo dục đạo đức: khi tác động đến con người, nó thức tỉnh một cách đặc biệt mạnh mẽ trong người ấy tất cả những gì là tốt đẹp, tìm được sự hưởng ứng trong những khía cạnh ưu tú nhất của tâm hồn người

ấy Chính khả năng ấy của âm nhạc làm cho tính tình dịu hơn và tốt hơn, làm con người cao đẹp hơn, trong sạch hơn và nhân hậu hơn” ( Trích vai trò giáo dục của âm

nhạc A.Xookhor NXB Văn hóa Hà Nội, 1974- (trang 51) Vũ Tự lân dịch

Lời ca của âm nhạc giàu tính biểu hiện và chất trữ tình… Nội dung lời ca phong phú trong các bài hát giúp trẻ phát hiện vẻ đẹp trong thiên nhiên, sự ngộ nghĩnh đáng yêu của các con vật quen thuộc, về tình cảm gia đình, bạn bè, lòng yêu nước…, từ đó gợi cho các cháu về cách ứng xử, giáo dục các cháu đạo đức làm người

Những bài dân ca, đồng dao khác nhau của các dân tộc Việt Nam phong phú về âm điệu, tiết tấu, phương thức diễn xướng, phong tục tập quán sẽ cho trẻ hiểu biết về bản sắc âm nhạc dân tộc Việt nam… từ đó các cháu có lòng tự hào về văn hóa dân tộc

Khi trẻ tham gia các hoạt động âm nhạc, mỗi trẻ đều phải chấp hành tính tổ chức,

sự chú ý, phản ứng nhanh, biết kiềm chế, điều khiển vận động phù hợp với âm nhạc, biết nhường nhịn giúp đỡ nhau… Những cái đó giáo dục cho trẻ văn hóa giao tiếp, văn hóa hành vi và tính tập thể, tạo điệu kiện hình thành những phẩm chất đạo đức của trẻ

1.3 Âm nhạc góp phần phát triển trí tuệ:

Am nhạc không chỉ đơn thuần là để vui chơi, giải trí mà còn thúc đẩy sự phát triển của trẻ

Ơ trẻ mẫu giáo, các hình thức tư duy trực quan hành động, trực quan hình tượng

và tư duy trìu tượng được biểu hiện trong bất kỳ hoạt động nào, trong đó có âm nhạc Tiếp xúc với âm nhạc, đứa trẻ dần dần có khả năng tổng hợp cùng với tư duy logic Ví

dụ, khi nghe được các thể loại âm nhạc khác nhau như hát ru có tính êm dịu tình cảm, còn hành khúc có tính mạnh mẽ…

Âm nhạc giúp trẻ phát triển trí nhớ Trí nhớ âm nhạc là khả năng thu nhận và ghi nhớ Đặc điểm của trẻ mẫu giáo là ghi nhớ âm nhạc bằng tai nghe dựa vào nhạc cảm

Vì vậy khi tập hát, giáo viên nên gợi mở, giúp trẻ nhận thức và trên cơ sở ấy trí nhớ ngày càng phát triển

Trang 4

Tính tích cực và sự tập trung chú ý trong giờ học hát giữ vai trò quan trọng trong việc củng cố và phát triển trí nhớ Trẻ hát là cùng lúc ghi nhớ lời ca, giai điệu, tiết tấu… điều này có tác dụng rèn luyện đôi tai nhạy bén cho trẻ, đồng thời tăng cường sự nhận thức của trẻ với thế giới xung quanh

Âm thanh là ngôn ngữ đặc thù của âm nhạc để tạo dựng hình tượng âm nhạc Hình tượng âm nhạc là loại hình tượng biểu hiện mang tính khái quát và ước lệ cao Chính vì điều này mà hình tượng âm nhạc không mang tính xac định cụ thể nhưng làm thức dậy

ở trẻ mơ ước và tưởng tượng Ví dụ: Người lớn khuyến khích trẻ làm động tác múa minh họa một bài hát, trẻ sẽ suy nghĩ, tổng hợp những chi tiết quen thuộc và chi tiết mới trong động tác… Vì vậy trí tuệ phải hoạt động tích cực

Như vậy, giáo dục âm nhạc thực hiện nhiều nhiêm vụ thúc đẩy hoạt động trí tuệ

1.4 Âm nhạc tác động đến sự phát triển sinh lý của trẻ.

Từ cuối thế kỷ XI, hai nhà sinh lý học Nga I M Do Ghen và I R Tackhanốp đã nghiên cứu thí nghiệm xác nhận điều mà trong thực hành hàng ngày mọi người đều

biết: “ Âm nhạc rõ ràng ảnh hưởng đến hô hấp, đến tuần hoàn của máu và các quá trình sinh lý khác”.

Nghe, vận động theo nhạc giúp trẻ tập phối hợp các động tác đi, chạy, nhảy chính xác, tác phong nhanh nhẹn Vận động toàn thân khi có nhạc kèm theo tạo cho trẻ sự mềm dẻo nhịp nhàng, có ảnh hưởng tốt đến tim mạch và sự phát triển cơ Nếu nghe nhạc đúng mức và phù hợp sẽ làm thư giãn thần kinh, kích thích óc sáng tạo

Hát cũng liên quan trực tiếp đến sự phát triển thể lực của trẻ, giúp trẻ củng cố cơ quan phát âm, thở sâu, tránh nói lắp, đẩy mạnh chức năng hoạt động của cơ quan phát thanh, hô hấp, hình thành giọng hát ở trẻ…Hát còn ảnh hưởng đến tư thế của trẻ : khi học hát, trẻ luôn được nhắc nhở phải ngồi thẳng, không gù, đó là điều quan trọng để tạo

tư thế đúng

“ Tai âm nhạc” phát triển cùng với sự nhạy cảm sẽ giúp trẻ hưởng ứng những tình cảm và hành vi tốt đẹp, hoàn thiện mọi vận động thể chất ở trẻ

Có thể nói, giáo dục âm nhạc là một trong những con đường hoàn thiện đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ và thể lực Nhà sư phạm V.Xu- khôm- lin- xki đã đánh giá rất cao hiệu

quả giáo dục toàn diện của âm nhạc: “ Chất lượng công việc giáo dục trong một nhà trường được xác định phần lớn bởi mức độ hoạt động âm nhạc trong hoạt động của nhà trường đó”.

Nhận thức đúng đắn và sâu sắc tác dụng giáo dục toàn diện của âm nhạc đối với trẻ mẫu giáo là điều cần thiết đầu tiên để tiến hành tốt việc giáo dục âm nhạc cho các cháu Bước đầu cho các cháu làm quen, tiếp xúc với âm nhạc để các cháu bộc lộ rõ năng khiếu âm nhạc Đây cũng là điểm phát hiện, bồi dưỡng những cháu có năng khiếu để khi có điều kiện có thể cho học chuyên nghiệp

2 Đặc điểm khả năng âm nhạc của trẻ Mầm non:

Trẻ dưới 1 tuổi:

Trang 5

- Nhạy cảm sớm, 10 đến 12 ngày tuổi đã có phản ứng với âm thanh

- Tháng thứ 2 đã có biểu hiện phản ứng với âm thanh

- Cuối năm này trẻ có hiện tượng bập bẹ hát theo người lớn

Trẻ từ 1 -2 tuổi:

- Trẻ chú ý và có xúc cảm với những bài hát vui tươi, nhộn nhịp

- Thích nghe hát ru

- Hưởng ứng với những động tác đơn giản

Trẻ từ 2 - 3 tuổi:

- Phát âm còn ngọng nhưng biết lien hệ về ngữ nghĩa

- Nói được câu ngắn

- Chức năng các cơ vận động phát triển ổn định hơn

- Hứng thú với âm nhạc qua vận động đơn giản ( vỗ tay, dậm chân…)

- Biết theo dõi tỉ mĩ không gian

- Biết nhắc lại bài hát ngắn

- Phân hóa về khả năng âm nhạc

Trẻ từ 3 - 4 tuổi:

- Xuất hiện tính tự chủ, thích hoạt động

- Trẻ nói và hát trong mọi hoạt động, biết đáp ứng lại và hay bắt chước

- Hát được cả câu (ngắn hoặc dài)

- Nhận biết được gia điệu quen thuộc

- Thích thêm từ vào bài hát

- Thích làm quen với nhạc cụ, biết vôc tay nhanh chậm theo nhịp điệu bài hát

Trẻ từ 4 - 5 tuổi:

- Biết nhận xét về tính chất âm nhạc, phân biệt được âm sắc

- Biết biểu hiện theo yêu cầu bài hát

- Trong các động tác vận động, trò chơi trẻ biết mô phỏng hình tượng, thích phân vai

- Thêm bớt từ hoặc tạo nhịp điệu mới

Trẻ từ 5 – 6 tuổi:

- Biết chuyển đổi điệu bộ theo âm điệu

- Biết vận động toàn than với một trình tự tương đối phức tạp

- Sử dụng bàn phím ở mức độ đơn giản

- Có nhu cầu hoạt động âm nhạc, biết thể hiện nhạc cảm

- Sự nhạy cảm về âm nhạc giảm dần

- Có ấn tượng sâu sắc khi nghe nhạc, biết so sánh.

3 Nhiệm vụ và phương hướng giáo dục âm nhạc:

- giáo dục cho trẻ lòng yêu âm nhạc, biết cảm thụ âm nhạc thông qua các hoạt động âm nhạc phong phú Dưới tác động gióa dục của âm nhạc, những ấn tượng, những khái niệm âm nhạc tạo điều kiện cho sự hình thành thị hiếu âm nhạc ở trẻ, giúp trẻ biết lựa chọn, đánh giá tác phẩm, biết cách biểu diễn ở mức

độ đơn giản

- Dạy trẻ những kỹ năng cơ bản, đơn giản và thói quen trong các dạng hoạt động

âm nhạc như ca hát, nghe, vận động, múa, trò chơi âm nhạc

- Phát triển ở trẻ năng lực cảm thụ, tưởng tượng, sự tập trung chú ý, biết nhận xét,

có khả năng diễn tả hứng thú và sự lựa chọn, phát huy tính tích cực, sáng tạo

Trang 6

trong các dạng hoạt động âm nhạc như thể hiện các hình tượng bằng động tác, điệu bộ, hoặc tự hát một câu nhạc ngắn theo ý thích…

Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục âm nhạc, giáo viên phải có khả năng, kiến thức âm nhạc, biết biểu diễn, vì hiệu quả giáo dục ảnh hưởng trực tiếp tới trẻ Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần phải biết đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của trẻ trong mối quan hệ với âm nhạc, đặc điểm cơ quan phát âm của trẻ… để có phương pháp dạy thích hợp Đặc biệt, giáo viên cần phải biết truyền đạt, biết thể hiện thật hấp dẫn và phù hợp với trẻ

1. Các phương pháp cơ bản:

I.1 Phương pháp trực quan thính giác ( trực quan truyền cảm): Là phương pháp

đặc thù của giáo dục âm nhạc, trong đó âm nhạc gợi lên những tâm trạng, cảm xúc, tình cảm đa dạng, gần gũi trẻ

I.2 Phương pháp dùng lời ( giảng giải, chỉ dẫn…): hướng tới ý thức của trẻ Đối

với trẻ, lời nói cụ thể và có hình ảnh của giáo viên là một trong những phương tiện nhận thức đặc biệt gần gũi, dễ hiểu

I.3 Phương pháp thực hành nghệ thuật: Trẻ hát, chơi trò chơi âm nhạc, vận động

( múa), sử dụng nhạc cụ, hoạt động sáng tạo dưới sự hướng dẫn của giáo viên là kết quả của giáo dục âm nhạc Sự phát triển trí tuệ, năng khiếu của trẻ được bắt nguồn từ hát múa và các cuộc thử nghiệm khác Những buổi thực hành làm cho trẻ nâng cao trình độ âm nhạc và phát triển trí não

2. Ca hát:

2.1 Ý nghĩa giáo dục của ca hát:

Ca hát là loại hình nghệ thuật có giá trị biểu hiện tình cảm cao vì nó tác động tới người nghe bằng âm nhạc và lời ca ca hát phản ánh cuộc sống sinh động của con người và là hình thức nghệ thuật dễ tiếp thu, dễ thể hiện Vì vậy, ca hát mang tính quần chúng rộng rãi, được đánh giá cao và không thể thiếu trong cuộc sống

Nhạc trưởng Xtolkovxki nói: “ Đối với trẻ, giọng hát là nhạc cụ âm nhạc đầu tiên và vừa sức nhất”

Trong quá trình phát triển cơ thể, ca hát giúp cho trẻ thở sâu, phát triển giọng, củng cố thanh quản, phát triển ngôn ngữ, phát triển tư duy, đặc biệt là

sự nhạy cảm và khả năng tái hiện chính xác âm điệu, nhịp điệu, trí nhớ âm nhạc

2.2 Yêu cần cần đạt khi dạy trẻ hát :

- Tư thế: trong khi hát cần đứng hoặc ngồi thẳng để tạo hơi thở tốt Hai tay đặt tự

nhiên lên đùi, không nâng vai, khom lưng hay dựa đầu vào thành ghế, không căng cứng mà hoàn toàn tự nhiên, thoải mái

Trang 7

- Lấy hơi : hít nhanh, sâu, không hổn hển, thở ra từ từ đủ để hát một câu nhạc

ngắn Hơi thở là cơ sở của ca hát, do đó cần dạy dàn dần và có hệ thống cho trẻ biết cách thở đúng Trẻ học qua mẫu của giáo viên qua từng câu hát

- Tạo âm: giọng trẻ hát phải tự nhiên, âm thanh vang sáng , phát âm không ức

chế, phải nhẹ nhàng nhưng có độ vang nhất định, không la hét căng thẳng trong khi ca hát

- Hát rõ lời: liên quan tới vị trí đúng của lưỡi và môi, hàm dưới cử động tự nhiên.

Dấu giọng có liên quan đến ngữ điệu, do đó gió viên cần đọc lời rõ ràng, chậm, diễn cảm cho trẻ hiểu để trẻ hát rõ, đúng, rành mạch

- Sự chính xác: trẻ có hát đúng âm điệu, nhịp điệu bài hát hay không phụ thuộc

vào khả năng và phát âm Giáo viên nên lựa chọn bài hát phù hợp cấu trúc, âm vực, làm mẫu chính xác, chia nhóm và cá nhân để giúp trẻ thực hiện đúng, chi tiết

- Sự hòa hợp: Khi hát tập thể, trẻ hòa giọng mình trong giọng hát chung của các

bạn qua việc điều chỉnh độ cao, độ mạnh nhẹ, nhịp độ hát

2.3 Lựa chọn bài cho trẻ hát :

- Về lời ca: Các bài có nội dung theo chủ điểm giáo dục: CĐ gia đình, CĐ giao

thông, CĐ thế giới động vật, thực vật, CĐ bản thân, CĐ quê hương đất nước…

- Về âm nhạc: Cần có hình tượng rõ ràng được thể hiện qua lời ca âm điệu và

nhịp điệu dễ nhớ, dễ hát; điệu thức cũng như cấu trúc mang tính dân tộc ( điệu thức 5 âm dân tộc không dùng nửa cung để trẻ dễ hát); tiết tấu nốt trắng, nốt đen, móc đơn, lặng đen, lặng đơn Trẻ mấu giáo lớn có thể hát tiết tấu chấm dôi, móc kép; âm vực từ quãng 6- quãng tám thứ nhất

- Về cấu trúc: đối với nhà trẻ và mẫu giáo bé, bài hát nên có cấu trúc dài 8- 12

nhịp; lớp chồi và lá 12- 20 nhịp ( không kể câu nhắc lại)

Có thể phân chia các bài dạy trẻ hát theo nội dung thể hiện như sau:

- Những bài hát thể hiện tình cảm yêu thương, gẫn gũi ; Như hát về ông ba, cha

mẹ, người thân trong gia đình…

- Những bài hát thể hiện tình cảm vui vẻ, thân thiết với bạn bè, tình đoàn kết hữu nghị

- Những bài hát giúp trẻ nhận biết môi trường xung quanh thông qua nội dung lời ca:

- Những bài hát phản ánh sinh hoạt , tính chất hồn nhiên, ngộ nghĩnh của trẻ

2.4 Phương pháp dạy trẻ hát:

a Làm quen với bài hát:

- thông qua các phương tiện truyền thông ở mọi lúc mọi nơi để làm quen với bài hát mới

- Cô giới thiệu cho trẻ biết tên bài hát, tên tácgiả…

- Giới thiệu kết hợp với phương tiện trực quan…

- Cô hát mẫu bài hát; sử dụng biện pháp trực quan truyền cảm, cô biểu diễn bài hát trọn vẹn, hát đúng, hát hay, rõ lời…

b Dạy trẻ hát: tiến hành dạy hát theo trình tự

Trang 8

- Chú ý cách bắt giọng: tránh âm vực hát cao hay thấp quá để bảo vệ và phát triển giọng hát của trẻ

- Cách bắt nhịp : giáo viên phải thận trọng đối với những bài hát có nhịp láy đà, phân biệt hướng đi của nhịp hai phách, nhịp ba phách để bắt nhịp cho đúng, không ngược phách

c hát ôn:

- Để tạo sự nhịp nhành khi hát cho trẻ vỗ tay theo nhịp, theo phách, hoặc âm hình tiết tấu của bài hát để trẻ tăng thêm cảm xúc về nhịp điệu, tiết tấu

3 Nghe nhạc:

3.1 Vai trò, ý nghĩa của việc nghe nhạc :

- Nghe nhạc góp phần phát triển cảm xúc của trẻ đối với âm nhạc, hình thành ở tre thói quen nghe nhạc Từ đó biết ghi nhớ tác phẩm, phân biệt nội dung, hình thành mối liên hệ giữa âm nhạc và cuộc sống

- Nghe nhạc là cơ sở để trẻ học hát, vận động, chơi theo nhạc Việc nghe nhạc trong trường mầm non là một hoạt động tích cực, có mối quan hệ chặt chẽ với vận động, hoàn thiện những đặc trưng tâm lý ở trẻ

3.2 Nội dung nghe:

- Nghe đàn, hát các tác phẩm khác nhau( dân ca, nhạc truyền thống, các sáng tác chuyên nghiệp)

- Nghe trong quá trình học thuộc bài hát, vận động nhịp điệu, trò chơi

- Nghe với mục đích xác định các thuộc tính của âm thanh trong các tổ chức học tập

3.3 Một số thể loại bài hát cho trẻ nghe :

a Các bài hát vui vẻ, nhộn nhịp, dí dỏm

b Bài hát trữ tình, êm dịu.

3.4 Phương pháp dạy trẻ nghe:

- Nghe trực tiếp: trẻ được nghe cô đàn hát trực tiếp sẽ gây ấn tượng mạnh mẽ nhất, lôi cuốn nhất, trẻ được quan sát cách thể hiện sinh động của cô… Nghe trực tiếp là phương pháp trực quan truyền cảm đòi hỏi giáo viên cần phải hát thật chính xác, tự nhiên, diễn cảm, thể hiện đúng phong cách tác phẩm

- Nghe qua phương tiện: Là giáo viên đàn giai điệu bài hát, nghe đài, băng cát sét,

ti vi, đĩa hình…

3.5 Các hình thức tổ chức nghe:

- Tổ chức nghe trong thời điểm đón trẻ, giờ chơi, giờ học, giờ nghỉ…

- Nghe kết hợp được hiểu là loại tiết học âm nhạc có hát hoặc vận động là trọng tâm

Trang 9

- Nghe là tiết trọng tâm

3.6 Các bước tiến hành:

- Bước 1: Chuẩn bị cho trẻ nghe : Dẫn dắt trẻ nghe nhạc bằng cách dùng lời

lẽ hấp dẫn, sinh động để giới thiệu qua hình tượng âm nhạc, tên tác phẩm, tác giả Dựa vào lời ca khơi gợi sự tưởng tượng của trẻ

- Bước 2: Hát cho trẻ nghe: giáo viên cần hát diễn cảm và những gì liên quan

đến trình diễn trước trẻ như diễn đạt cảm xúc, sự trang trọng hay âu yếm… Đây là phương pháp trình diễn nghệ thuật, vì vậy phụ thuộc rất nhiều vào khả năng của giáo viên

- Bước 3: Củng cố ấn tượng, ghi nhớ tác phẩm: Sau khi cho trẻ nghe, giáo

viên hỏi trẻ tên bài hát, tên tác giả, tính chất bài hát… Cô có thể hát lại cho trẻ nghe, để kiểm nhận lại và khắc sâu thêm hình tượng âm nhạc

4 Vận động theo nhạc:

4.1 Ý nghĩa của vận động theo nhạc :

Nhà chỉ huy Lô-tô- kop- xki viết: “ Cả người lớn và trẻ em, thông thường khi nghe nhạc đều có ý muốn cử động theo nhịp, tiết tấu Tay họ đung đưa, chân gõ nhịp, đầu lắc lư Đó là hình thức múa tự phát Nhiều khi các em nhỏ vừa nghe nhạc, vừa tự ngẫu hứng điệu múa có tiết tấu độc đáo của mình”

Giữa âm nhạc và vận động có mối liên hệ trực tiếp xuất phát từ cơ sở sinh lý, đó là cơ quan thính giác và cơ quan cảm giác về chuyển động và

thăng bằng Nhà tâm lý học B.N Chep-lô-va cho rằng: “ Việc tri giác âm nhạc xảy ra cùng lúc hoàn toàn trực tiếp với những phản ứng vận động âm nhạc theo diễn biến thời gian”.

Vận động theo nhạc giúp trẻ phát triển cảm giác nhịp điệu, sự khéo léo, khả năng phản ứng nhanh và đúng các ấn tượng nghe được trong âm nhạc

4.2 Đặc điểm phát triển vận động của trẻ :

Trẻ 1 tuổi: giai đoạn tập đi, biết cầm, lắc, vỗ tay, lặp lại vài động tác đơn giản

Trẻ 2 – 3 tuổi: Biết lặp lại động tác đơn giản theo nhịp điệu nhất định

Trẻ 3 – 4 tuổi: Biết làm các động tác phối hợp đơn giản, động tác đối xứng,

biết chuyển động phù hợp tính chất mạnh mẽ hay êm dịu của bài hát (tốc độ vừa phải), biết ghi nhận để tự bắt đầu hoặc kết thúc bước chuyển động

Trẻ 4 – 5 tuổi: Biết chuyển động nhịp nhàng theo tính chất âm nhạc, có thể

thực hiện các buớc nhảy thẳng, chân sáo, đá chân , xoay tròn… theo nhóm hoặc cá nhân, thực hiện được với tốc độ nhanh vừa

Trẻ 5 – 6 tuổi: Biết chuyển động nhịp nhàng theo tính chất âm nhạc, linh hoạt

hơn với các động tác, bắt dầu iết sang tạo các động tác riêng, phối hợp nhịp nhàng toàn thân với tay, chân

 Sử dụng nhạc cụ: trống, phách đệm đơn giản với tiết tấu chậm hoặc theo nhịp; lớp 5 – 6 tuổi có thể sử dụng nhạc cụ gõ với tiết tấu nhanh, TT phối hợp, thổi kèn giai điệu đơn giản

Trang 10

4.3 Các dạng vận động theo nhạc:

Nhóm vận động 1 : Vận động đơn giản

- Vận động theo nhịp, phách bài hát

- Vận động theo tiết tấu:

+ Tiết tấu chậm:

+ Tiết tấu nhanh:

+ Tiết tấu phối hợp:

 Nhóm vận động 2: vận động hướng vào kĩ năng, vận động múa các động tác đơn giản minh họa lời bài hát

4.4 Phương pháp hướng dẫn trẻ vận động theo nhạc:

a Làm mẫu

b Dùng lời

c Phương pháp học thuộc

5 Trò chơi âm nhạc:

5.1 Vai trò, ý nghĩa giáo dục của trò chơi âm nhạc:

Năm 1962, nhà tâm lý học J Piaget đã nhấn mạnh vai trò rõ rệt của hoạt động chơi trong việc phát triển nhận thức của trẻ Ong đề xuất ba giai đoạn:

- Giai đoạn chơi luyện tập đơn giản ( trẻ khoảng 2 tuổi)

- Giai đoạn chơi tưởng tượng ( trẻ khoảng 2- 7 tuổi )

- Giai đoạn trò chơi có luật ( trẻ khoảng 7- 11 tuổi )

Trẻ ở lứa tuổi mầm non học tập thông qua hoạt động vui chơi các hoạt động

âm nhạc như ca hát, vận động, nghe… tổ chức dưới dạng trò chơi là hình thức hấp dẫn, lôi cuốn trẻ… Tham gia chơi với nhau giúp các cháu có sự tưởng tượng phong phú, có tinh thần tập thể, rèn luyện phản xạ nhanh nhẹn

5.2 Các dạng trò chơi âm nhạc:

- Chơi dựa theo nội dung và cấu trúc âm nhạc

- Trò chơi rèn luyện thuộc tính âm nhạc

- Trò chơi rèn luyện trí nhớ âm nhạc

5.3 PP dạy trẻ chơi:

Ngày đăng: 03/06/2021, 23:48

w