GV: Nếu như trước cách mạng Nguyễn Tuân khao khát đi đây đi đó mà ông gọi là chủ nghĩa xê dịch để phần nào vơi bớt cảm giác thiếu quê hương thì sau cách mạng trong chuyến đi[r]
Trang 1Ngày soạn: 28/11/2011 Ngày giảng: 12A -1 /12/2011 12B- /12/ 2011 12C- /12/2011 12D- /12/2011 Tiết 46 đọc văn
NGƯỜI LÁI Đề SễNG ĐÀ
( Trớch) Nguyễn Tuõn
I Mục tiờu cần đạt.
Giỳp học sinh
1 Kiến thức:
- Vẻ đẹp đa dạng của con sụng Đà (hung bạo, trữ tỡnh) và người lỏi đũ (trớ dũng, tài hoa) trờn trang văn Nguyễn Tuõn
- Vốn từ ngữ dồi dào, biến húa; cõu văn đa dạng, nhiều tầng, giàu hỡnh ảnh
và nhịp điệu; những vớ von, so sỏnh, liờn tưởng, tưởng tượng độc đỏo, bất ngờ
2 Kĩ năng:
Đọc - hiểu tựy bỳt theo đặc trưng thể loại
3 Thỏi độ:
Yờu mến con người lao động trong thời kỳ mới
II Chuẩn bị của GV và HS
1) Chuẩn bị của giáo viên.
- SGK, SGV, sách bài tập ngữ văn 12.
- Thiết kế bài giảng ngữ văn 12 NXBGD
- Thiết kế bài giảng ngữ văn 12 NXBHN
- Thiết kế bài giảng ngữ văn 12 NXBĐHQGHN
- Bài tập trắc nghiệm ngữ văn 12 NXBGD
- Kiểm tra đánh giá kết quả môn ngữ văn 12 NXBGD
2) Chuẩn bị của học sinh.
- Sgk + Vở ghi; đọc và soạn bài theo hệ thống câu hỏi sgk
III Tiến trình bài dạy
* Kiểm tra sĩ số: (1 phút) 12A 12B… …12C ….…12D….
1.Kiểm tra bài cũ.
* Hỡnh thức: kiểm tra miệng ( 5 phỳt).
Trang 2* Câu hỏi: Đọc khổ đầu bài thơ đàn ghi ta của Lor- ca và phân tích khổ thơ
đó?
*Đáp án - biểu điểm.
- Đọc thuộc đoạn thơ ( 2 điểm)
- Vở soạn bài ở nhà đầy đủ khoa học ( 2 điểm)
- Giá trị nội dung ( 3 điểm)
- Giá trị nghệ thuật ( 3 điểm)
2 Bài mới.
* Giới thiệu bài mới ( 1 phút)
Trong chương trình Ngữ văn ở nhà trường các em đã được biết đến rất nhiều tác phẩm viết về dòng sông như dòng Bạch Đằng trong Bạch Đằng Giang Phú của Trương Hán Siêu:
Bát ngát sóng kình muôn dặm
Thướt tha đuôi trĩ một màu
Rồi dòng sông quê thân thương trong Nhớ con sông quê hương của Tế
Hanh
Quê hương tôi có con sông xanh biếc
Nước gương trong soi tóc những hàng tre
Hay dòng sông Hồng trong Tràng Giang của Huy Cận
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song Và bây giờ cô sẽ đưa các em
đến thăm và khám phá vẻ đẹp của một dòng sông ở phía Tây Bắc của Tổ quốc đó
là dòng Sông Đà trong tùy bút Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân
* Ghi nhan đề lên bảng.
Hoạt động của giáo viên tg Hoạt động của học sinh
Trong chương trình Ngữ Văn 11
các em đã được học về tác giả
Nguyễn Tuân
Hãy nêu những hiểu biết của em
về tác giả Nguyễn Tuân?
Chiếu chi tiết tác giả
- Nguyễn Tuân( 1910- 1987) là
nhà văn xuất sắc nhất của văn
xuôi hiện đại Việt Nam.
- Nguyễn Tuân là nhà văn, nhà
nghệ sỹ lớn suốt đời đi tìm cái đẹp,
ông có sự đóng góp quan trọng
cho thể loại kí và sự phát triển của
ngôn ngữ dân tộc.
- Là nhà văn có phong cách tài
hoa, uyên bác
G: Nguyễn Tuân là người có vốn
kiến thức vô cùng phong phú
Trước cách mạng ông dùng vốn
I TÌM HIỂU CHUNG.
1 Tác giả
Phong cách tài hoa uyên bác,
Trang 3kiến thức ấy để chơi ngông với đời,
để khoe tài, để thể hiện bản lĩnh của
mình và ông tìm đến những vẻ đẹp
xưa vẫn còn vang bóng, thấy cái
đẹp trong những con người kiệt
xuất Sau cách mạng ông dùng nó
để ca ngợi Tổ Quốc, ca ngợi nhân
dân, ca ngợi thời đại mới Ông tìm
thấy cái đẹp ở hiện tại, trong cuộc
sống và chiến đấu, thấy cái đẹp
trong quần chúng nhân dân - những
con người bình dị Chúng ta sẽ thấy
rõ sự thay đổi đó của Nguyễn Tuân
trong tập tùy bút Sông Đà nói
chung và Người lái đò Sông Đà nói
riêng
G: Gọi học sinh đọc tiểu dẫn
Dựa vào phần tiểu dẫn SGK nêu
hoàn cảnh sáng tác của văn bản
Người lái đò Sông Đà?
GV: Nếu như trước cách mạng
Nguyễn Tuân khao khát đi đây đi
đó mà ông gọi là chủ nghĩa xê dịch
để phần nào vơi bớt cảm giác thiếu
quê hương thì sau cách mạng trong
chuyến đi thực tế Tây Bắc không
chỉ để thỏa niềm khát khao xê dịch
mà chủ yếu để tìm kiếm chất vàng
của thiên nhiên cùng thứ vàng đã
qua thử lửa trong tâm hồn con
người Tây Bắc Tập tùy bút Sông
Đà gồm 15 tùy bút và một bài thơ
phác thảo Trong đó Người lái đò
Sông Đà là một trong những tùy
bút đặc sắc
Em hiểu gì về thể loại tùy bút ?
GV: Văn bản này được viết theo
thể tùy bút Đặc điểm của thể tùy
bút là tính chủ quan, trình bày tự
do, phúng túng, biến hóa linh
hoạt, giàu hình ảnh, nhạc điệu, từ
ngữ phong phú, nhiều cách so
sánh liên tưởng Qua các tùy bút
Nguyễn Tuân nói chuyện với người
đọc không chỉ bằng một trái tim
2 Hoàn cảnh sáng tác.
- Văn bản Người lái đò Sông Đà được
in trong tập Sông Đà xuất bản 1960, là kết quả chuyến đi thực tế của Nguyễn Tuân đến với vùng đất Tây Bắc năm 1958
3 Thể loại tùy bút:
Tính chủ quan, trình bày tự do, phúng túng, biến hóa linh hoạt, giàu hình ảnh, nhạc điệu, từ ngữ phong phú, nhiều cách so sánh liên tưởng
Trang 4nghệ sỹ mà còn bằng một trí tuệ
uyên bác, một học vấn sâu rộng,
lịch lãm về nhiều lĩnh vực, bằng tác
phong của một nhà nghiên cứu,
điều tra tỉ mỉ vấn đề
G hướng dẫn học sinh đọc văn bản:
Khi đọc văn bản này đọc với giọng
biến hóa linh hoạt Khi đọc những
đoạn miêu tả đá, thác nước, ghềnh
thác,…các em đọc với giọng mạnh
mẽ, dồn dập, dứt khoát Sang đến
đoạn miêu tả Sông Đà Sông Đà khi
ở trên máy bay nhìn xuống các em
đọc với giọng nhẹ nhàng, êm ái
G: Cô sẽ đọc diễn cảm một số đoạn
chọn lọc trong tác phẩm để các
thưởng thức vẻ đẹp ngôn ngữ được
sáng tạo dưới bàn tay bởi một nghệ
sỹ tài hoa
Trong Người lái đò Sông Đà
Nguyễn Tuân đã khắc họa những
hình tượng nào? Sông Đà và
người lái đò
G: trong tác phẩm nhà văn đã xây
dựng hai hình tượng đó là hình
tượng Sông Đà và hình tượng
người lái đò Sông Đà, trước hết
chúng ta đi tìm hiểu hình ảnh con
Sông Đà
Hướng chảy của Sông Đà được
giới thiệu như thế nào trong hai
câu thơ của Nguyễn Quang Bích?
Chiếu 2 câu thơ của Nguyễn
Quang Bích
G: Nhà văn không chỉ đi khám phá
vẻ đẹp của Sông Đà mà còn phát
hiện sự độc đáo của dòng sông này
Cách giới thiệu đã cho ta thấy điểm
độc đáo của dòng Sông Đà trong
muôn vàn con sông Việt Nam Điều
đó không chỉ bộc lộ vốn hiểu biết
II ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN
1 Hình tượng con sông Đà.
* Lời đề từ:
Chúng thủy giai đông tẩu
Đà giang độc bắc lưu
( Mọi dòng sông đều chảy về hướng đông
Chỉ có dòng sông Đà chảy theo hướng bắc)
=> Dòng sông có hướng chảy độc đáo,
đi ngược với quy luật tự nhiên Sông
Đà có tính cách độc đáo, riêng biệt.
Trang 5sâu rộng của tác giả về kiến thức
địa lý mà còn tạo nên sự cộng
hưởng của hai cái đẹp: cái đẹp của
thiên nhiên và cái đẹp của người
nghệ sỹ đều giàu cá tính, độc đáo,
riêng biệt Nguyễn Tuân đến với
Sông Đà là hành động của con
người độc đáo đi tìm cái độc đáo.
G: Con Sông Đà đầy cá tính nó
không chỉ là người con ngỗ ngược
của bà mẹ thiên nhiên Tây Bắc mà
dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn
Tuân con sông ấy hội đủ hai vẻ đẹp
đối lập nhau vừa hung bạo, dữ dội,
vừa thơ mộng, trữ tình Như đã giới
thiệu ở đầu tiết học tác phẩm này
chúng ta sẽ học trong 2 tiết vì vậy ở
tiết học này chúng ta sẽ chỉ đi tìm
hiểu nét tính cách hung bạo của
Sông Đà
G: Khi hung bạo con Sông Đà trở
thành kẻ thù số 1 của con người.
Để làm nổi bật sự hung bạo của
Sông Đà trước hết nhà văn đã miêu
tả Sông Đà ở các phương diện:
- Đá bờ sông
- Mặt nghềnh
- Hút nước
- Âm thanh
Bây giờ cô sẽ chia lớp ta thành 4
nhóm, mỗi nhóm sẽ cùng tìm hiểu
một phương diện của Sông Đà Đây
là câu hỏi của mỗi nhóm
Thảo luận nhóm
Nhóm 1: Cảnh đá bờ sông được
nhà văn miêu tả như thế nào?
Nhà văn đã sử dụng biện pháp
nghệ thuật nào trong các biện
pháp sau để tả cảnh đá bờ sông:
so sánh, ẩn dụ, tương phản.
Nhóm 2: Tìm những chi tiết miêu
a Con Sông Đà hung bạo
Trang 6tả mặt ghềnh Hát Loóng? Nhà
văn đã sử dụng biện pháp nghệ
thuật nào khi miêu tả mặt ghềnh
Hát Loóng?
Nhóm 3: Em hãy tìm trong văn
bản những chi tiết miêu tả sự
hung bạo của Sông Đà qua những
hút nước? Nhà văn không sử
dụng biện pháp nghệ thuật nào
trong các biện pháp sau để miêu
tả: so sánh, nhân hóa, tương
phản.
Nhóm 4: Âm thanh của thác
nước được miêu tả ra sao? Nét
đặc sắc về nghệ thuật trong
những chi tiết ấy?
G phát phiếu học tập
Cô cho các em thời gian 3 phút để
suy nghĩ và trả lời.( G đi lại quan
sát học sinh làm bài)
Chiếu vách đá Sông Đà
Bây giờ cô xin mời nhóm 1 trả lời
câu hỏi: Nhóm 1: Cảnh đá bờ sông
được nhà văn miêu tả như thế
nào? Nhà văn đã sử dụng biện
pháp nghệ thuật nào trong các
biện pháp sau để tả cảnh đá bờ
sông: so sánh, ẩn dụ, tương phản.
G: Sự hung bạo của Sông Đà được
thể hiện trước hết ở vách đá Các từ
ngữ tạo hình, góc cạnh như dựng
vách thành, chẹt lòng sông đã
khiến cho sông Đà được tái hiện
thành hình khối, đường nét Hình
ảnh mặt sông chỗ ấy chỉ đúng ngọ
mới có mặt trời vừa diễn tả được
độ cao của vách đá sông Đà, độ hẹp
của lòng sông Ông tiếp tục khắc
sâu độ cao của những vách đá và sự
nhỏ hẹp của dòng chảy bằng những
hình ảnh, những liên tưởng độc đáo
như: Ngồi trong khoang đò qua
quãng ấy đang mùa hè cũng thấy
- Đá bờ sông: dựng vách thành, mặt
sông chỗ ấy chỉ đúng ngọ mới có mặt trời, vách đá chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu
→ so sánh → Dùng thị giác và xúc giác để miêu tả
=>Cảnh vách đá Sông Đà hiểm trở, kì vĩ.
Trang 7lạnh, cảm thấy mình như đứng ở
hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên
một khung cửa sổ nào trên cái
tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt
phụt đèn điện Nhà văn đã dùng cả
thị giác và xúc giác để miêu tả, ông
miêu tả vách đá vừa bằng con mắt
của một họa sĩ vừa bằng sự cảm
nhận tinh tế, độc đáo của một nhà
văn Ông so sánh cảm giác của con
người giữa thiên nhiên hoang sơ,
hùng vĩ với một khoảnh khắc của
đời sống hiện đại giữa chốn thị
thành Tác giả đã kéo gần hơn nữa
khoảng cách giữa con người và
thiên nhiên, khoảng cách giữa thiên
nhiên nhiên hoang sơ với cuộc sống
hiện đại ở chốn thị thành
Nhóm 2: Tìm những chi tiết miêu
tả mặt ghềnh Hát Loóng? Nhà
văn đã sử dụng biện pháp nghệ
thuật nào khi miêu tả mặt ghềnh
Hát Loóng?
Chiếu mặt ghềnh Hát Loóng
G: Sự hùng vĩ và dữ dội của Sông
Đà ở quãng mặt ghềnh Hát Loóng
qua biện pháp nhân hoá: Con sông
như một kẻ chuyên đi đòi nợ dữ
dằn các biện pháp nghệ thuật như
điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc, lại
được sự hỗ trợ của các thanh trắc
liên tiếp cùng các động từ xô, cuồn
cuộn, gùn ghè, đòi tạo nên âm
hưởng dữ dội, nhịp điệu khẩn
trương dồn dập vừa như xô đẩy vừa
như hợp sức của gió, sóng và đá
khiến cho cả ghềnh sông đang sôi
lên cuộn chảy dữ dội → cả mặt
ghềnh luôn tạo nên mối đe dọa thực
sự đối với bất cứ người lái đò nào
Nhóm 3: Em hãy tìm trong văn
- Mặt ghềnh: nước xô đá, đá xô sóng,
sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè , đòi nợ xuýt
→ Điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc,
nhiều thanh trắc liên tiếp tạo nên âm hưởng dữ dội, nhịp điệu khẩn trương dồn dập vừa như xô đẩy vừa như hợp sức của gió, sóng và đá
=>Mặt ghềnh cuộn chảy dữ dội
Trang 8bản những chi tiết miêu tả sự
hung bạo của Sông Đà qua những
hút nước? Nhà văn không sử
dụng biện pháp nghệ thuật nào
trong các biện pháp sau để miêu
tả: so sánh, nhân hóa, tương
phản.
Chiếu hút nước trên sông
G: Đến đây nghệ thuật so sánh
được tác giả đưa ra `thật hào phóng
tạo nên những liên tưởng kỳ thú về
cảnh sông nước dữ dội đầy thách
thức đối với con người Những cái
hút nước giống như những cái
giếng bê tông; Nước thở và kêu như
cửa cống cái bị sặc; nước ặc ặc lên
như vừa rót dầu sôi vào Các động
từ thở, kêu, sặc, ặc ặc…nói lên
cường lực ghê gớm của những cái
hút nước Và thật độc đáo khi ông
lấy hình ảnh ô tô sang số ấn ga trên
quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ
vực để ví von với cách chèo thuyền
Tác giả đã dùng kiến thức trong
lĩnh vực nào khi miêu tả hút nước
sông Đà?
G: đọc đoạn miêu tả hút nước bằng
điện ảnh Nguyễn Tuân là người có
kiến thức uyên thâm về lĩnh vực
điện ảnh vì vậy ông đã truyền cho
người đọc cảm giác sợ hãi như
đang ở trên hút nước Sông Đà
Bằng so sánh, nhân hóa, liên tưởng
độc đáo, bằng kể và tả, kết hợp với
các động từ thở, kêu, sặc, ặc ặc, và
vận dụng kiến thức uyên thâm của
điện ảnh Nguyễn Tuân đã khiến
cho những cái hút nước ấy hiện
hình nhiều góc độ khác nhau với
cường lực ghê gớm giúp người đọc
cảm nhận được sự dữ tợn của hút
nước Sông Đà
Chiếu âm thanh thác nước
- Hút nước trên sông: hút nước như
cái giếng bê tông, nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc, những cái giếng sâu nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào
→ So sánh, nhân hóa, liên tưởng độc đáo, bằng kể và tả, kết hợp với các động
từ thở, kêu, sặc, ặc ặc, và vận dụng kiến thức uyên thâm của điện ảnh =>Hút
nước ghê gớm, khủng khiếp
Trang 9Nhóm 4: Âm thanh của thác
nước được miêu tả ra sao? Nét
đặc sắc về nghệ thuật trong
những chi tiết ấy?
G: Đây là một đoạn văn rất tiêu
biểu cho phong cách phóng túng,
độc đáo của tác giả Ông đã lấy lửa
để tả nước, lấy rừng để tả sông, lấy
âm thanh để tả trạng thái Đặc biệt
là khi miêu tả âm thanh thác nước
tác giả lại sử dụng rất nhiều các
động từ: oán trách, khiêu khích,
van xin, lồng lộn, bùng bùng, gầm
thét, rống vừa diễn tả âm thanh vừa
diễn tả sức mạnh, nội lực của thác
nước Âm thanh thác nước sông
Đà thật mạnh mẽ, hoang dã, ghê
sợ
Để miêu tả âm thanh thác nước tác
giả đã vận dụng kiến thức trong
lĩnh vực âm nhac Nguyễn Tuân đã
dùng các cao độ khác nhau trong
âm nhạc để miêu tả âm thanh thác
nước Phải rất am hiểu về âm nhạc
thì Nguyễn Tuân mới có cách phối
hợp âm thanh làm nổi bật sự khủng
khiếp của nước sông Đà như vậy
G: Sự hung bạo của Sông Đà
không chỉ hiện lên qua vách đá,
mặt ghềnh, hút nước, âm thanh
mà nhà văn lại tiếp tục làm nổi
bật sự hung bạo ấy ở cảnh đá trên
sông
Tìm những chi tiết nhà văn
Nguyễn Tuân đã miêu tả đá trên
Sông Đà? Biện pháp nghệ thuật
được sử dụng khi miêu tả?
Chiếu đá trên sông
G: Ở ngoài đời Sông Đà vốn đã
hung bạo nhưng dười ngòi bút của
Nguyễn Tuân sự hung bạo ấy còn
tăng lên gấp bội Nguyễn Tuân nhìn
vào đâu là những tảng đá sống
Âm thanh: réo gần, réo to, oán trách,
van xin, khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo rống,lồng lộn, gầm thét, bùng bùng
→ Nghệ thuật so sánh, nhân hóa, cường điệu, kết cấu tăng tiến, nghệ thuật chuyển đổi cảm giác, sử dụng rất nhiều động từ mạnh, vận dụng tri thức trong
lĩnh vực âm nhạc => âm thanh mạnh
mẽ, hoang dã, ghê sợ
– Đá trên sông: + Đá mai phục hết
trong lòng sông, nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, nhăn nhúm, méo mó hơn cả mặt nước chỗ này
+ Trùng vi thạch trận: Sông Đà bày
binh bố trận với 3 trùng vi.Trùng vi 1 của sinh ở bờ trái, trùng vi 2 cửa sinh ở
Trang 10động đến đấy Cái đôi đũa thần
ngôn từ của Nguyễn Tuân chạm
vào đến đâu thì đá nổi hình nổi
dáng, mang vẻ dữ dằn, phảng phất
linh hồn con người Đó chính là
phong cách uyên bác, tài hoa, độc
đáo chỉ có ở Nguyễn Tuân
G: Sông Đà bày binh bố trận với 3
trùng vi được bố trí cửa sinh của tử
lệch nhau để lừa chết người lái đò
Trùng vi 1: có 1 cửa sinh ở bờ
trái, 4 cửa tử Đám tảng đám hòn
chia làm ba hòn chặn ngang đòi
ăn chết cái thuyền Tuyến hai
hàng tiền vệ dụ nữa vào tận tuyến
giữa Đến tuyến ba những boong
ke chìm, pháo đài nổi có nhiệm vụ
đánh tan cái thuyền Đá trông
nghiêng y như là hất hàm hỏi,
hòn khác thì thách thức
→ Trùng vi 2: có thêm nhiều của
tử và 1 cửa sinh ở bờ phải Dòng
thác hùm beo hồng hộc tế mạnh
trên sông đá, bọn thủy quân định
níu thuyền lôi vào cửa tử, chúng
khiêu khích mặc dù thằng đá
tướng đã tiu nghỉu cái mặt xanh
lè thất vọng.
→Trùng vi 3: chỉ có 1 luồng sống
ở giữa bọn đá hậu vệ hai bên là
luồng chết
Biện pháp nhân hóa, cường điệu,
vận dụng tri thức trong lĩnh vực thể
thao, võ thuật, quân sự những hòn
đá vô tri hiện lên như những tên
tướng giặc hung hăng bạo ngược
Qua những chi tiết miêu tả đá trên
Sông Đà em có nhận xét gì về đá
trên Sông Đà? =>Các Biện pháp so
sánh, nhân hóa, cường điệu, vận
dụng tri thức trong lĩnh vực thể
thao, võ thuật, quân sự, điện ảnh, sử
dụng các động từ mai phục, nhổm,
vồ và nhiều tính từ như ngỗ ngược,
nhăm nhúm, méo mó, phải, trái,
bờ phải, trùng vi 3 luồng sống nằm ở giữa
→ So sánh, nhân hóa, cường điệu, vận dụng tri thức trong lĩnh vực thể thao, võ thuật, quân sự, điện ảnh, sử dụng nhiều động từ, tính từ
=> Đá trên Sông Đà nham hiểm, mưu
mô, xảo quyệt.