1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bai du thi BINH DANG GIOI

19 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 162,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, công tác tuyên truyền về bình đẳng giới đã góp phần làm chuyển biến nhận thức và hành vi của cộng đồng dân cư về giới và bình đẳng giới trong quan hệ đối xử giữa nam[r]

Trang 1

BÀI LÀM:

Trong xã hội phụ quyền, phụ nữ bị hạn chế không được tham gia các công việc xã hội không có nghĩa là họ chỉ làm việc trong gia đình Họ vẫn phải làm các công việc như nam giới,

như làm ruộng, buôn bán, làm dịch vụ nhưng không được công nhận là tham gia công việc xã hội Đặc biệt phụ nữ bị hạn chế trong những hoạt động lãnh đạo và trí tuệ Phụ nữ chỉ được học

để phục vụ chồng, con và những người thân trong gia đình mà không được thi thố ngoài xã hội Hiện tượng “ Gà mái gáy thay gà trống”, “Gái goá lo việc triều đình” là tối kỵ Những phụ

nữ là vợ vua chúa khi chồng chết trẻ, được phụ tá cho con trai là vua trẻ con nhưng chỉ được phép “buông rèm chấp chính” nghĩa là ngồi ở đàng sau chiếc rèm để phán quyết việc công mà không công khai trước mặt bá quan Hiện tượng này không chỉ hàm ý khinh miệt sâu sắc nhân cách và trí tuệ của phụ nữ mà còn kìm hãm năng lực của họ trên cương vị lãnh đạo để phục vụ đất nước Lịch sử Việt Nam chỉ ghi lại rất ít những nhân vật nữ tài năng lãnh đạo đất nước là

bà Dương Vân Nga thời nhà Đinh; Bà Y Lan trong hai giai đoạn là vợ vua và mẹ vua đã quản

lý đất nước để chồng yên tâm đi đánh giặc, đã đề các chính sách đúng đắn để bảo vệ trâu cày

và giải phóng cho các cung nữ; bà Linh từ quốc mẫu Trần Thị Dung đã chỉ đạo sơ tán cả tôn thất triều đình ra khỏi thành Thăng Long trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ nhất thực hiện chiến lược “Vườn không, nhà trống” của triều Trần; nữ tuớng tài ba và bất khuất Bùi Thị Xuân trong đội ngũ nghĩa quân Tây Sơn; Bà Nguyễn Thị Duệ, nữ trí thức thời

Lê đã phải giả trai đi thi để đoạt bằng tiến sỹ Những tấm guơng trên đã chứng tỏ rằng khi được có cơ hội thì phụ nữ cũng thể hiện tài năng không thua nam giới và mặc dù bị chịu sự bất công, phân biệt nhưng sự đóng góp của phụ nữ vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc là

vô cùng to lớn

Tuy nhiên, xã hội Việt Nam thời trước Cách mạng tháng 8/1945 là một xã hội nghèo đói, chậm phát triển Một trong những nguyên nhân của nó là tình trạng bất bình đẳng giới phổ biến Một nửa dân số đất nước là phụ nữ bị kìm hãm, sống trong nghèo đói và thất học, bị hạn chế không được đóng góp trực tiếp vào sự phát triển Họ không phải là nguồn nhân lực có chất lượng cao và sự tồn tại của họ gắn với các nhãn mác: ngu dốt và rẻ mạt Không có nhà khoa học nổi tiếng nào là phụ nữ Nữ trí thức nếu có chỉ dừng ở mức là học sinh trung học và hầu như hạn chế về sinh viên đại học

Từ những vấn đề nêu trên, tôi quyết tâm tìm hiểu Luật Bình đẳng giới qua một số câu hỏi

Để nhằm tuyên truyền trong cơ quan mình làm việc, trên địa bàn dân cư mà mình sinh sống…

Luật số 73/2006/QH11 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 10 Thông qua Luật Bình đẳng giới như sau:

Trang 2

Luật Bình đẳng giới gồm 6 chương 44 điều, quy định: nam, nữ bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND, tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ chức Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế và tài chính Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư… Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo: nữ cán bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới ba mươi sáu tháng tuổi được hỗ trợ theo quy định Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình, bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp, sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật Các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm: áp dụng các điều kiện khác nhau trong tuyển dụng lao động nam và lao động nữ đối với cùng một công việc mà nam, nữ đều có trình độ và khả năng thực hiện như nhau, Từ chối tuyển dụng hoặc tuyển dụng hạn chế lao động, sa thải hoặc cho thôi việc người lao động vì lý do giới tính hoặc do việc mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ, Phân công công việc mang tính phân biệt đối xử giữa nam và nữ dẫn đến chênh lệch về thu nhập hoặc áp dụng mức trả lương khác nhau cho những người lao động

có cùng trình độ, năng lực vì lý do giới tính

Câu 1:

Luật bình đẳng giới quy định bao nhiêu thuật ngữ liên quan tới bình đẳng giới? Nêu các nội dung cụ thể của từng thuật ngữ và cho 2 ví dụ minh họa 2 khái niệm bất kỳ? Trả lời:

Theo Điều 5 của luật bình đẳng giới quy định 8 thuật ngữ về bình đẳng giới Nội dung như sau:

1 Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội

2 Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ

3 Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó

4 Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ

5 Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình

6 Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực

Trang 3

chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được

7 Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới bằng cách xác định vấn đề giới, dự báo tác động giới của văn bản, trách nhiệm, nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong các quan hệ xã hội được văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh

8 Hoạt động bình đẳng giới là hoạt động do cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân thực hiện nhằm đạt mục tiêu bình đẳng giới

9 Chỉ số phát triển giới (GDI) là số liệu tổng hợp phản ánh thực trạng bình đẳng giới, được tính trên cơ sở tuổi thọ trung bình, trình độ giáo dục và thu nhập bình quân đầu người của nam và nữ

Ví dụ: Về định kiến giới

Ông bà ngày xưa có câu “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, rõ ràng quan niệm này cho thấy việc xem trọng con trai: 1 con trai thì có, 10 con gái cũng như không Mặc dù đó là quan niệm sai lầm nhưng còn nặng trong tư tưởng của mỗi người dân Á đông cả trong xã hội hiện đại Chính vì lẽ đó mà áp lực về việc sinh con trai đối với các gia đình vẫn còn tồn tại, nhiều gia đình sinh quá số con theo khả năng nuôi dưỡng của mình và trái với chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình cũng vì muốn có thêm con trai Ngay trong đội ngũ giáo viên là những người đi dạy người, tuyên truyền về chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình nhưng cũng có không ít giáo viên vi phạm pháp lệnh dân số không phải vì vỡ kế hoạch mà vì định kiến giới, muốn sinh con trai

Ví dụ: Về giới tính

Trang 4

Theo kết quả Tổng điều tra dân số năm 2009, tỷ lệ sinh giảm từ 2,33 con/phụ nữ vào năm

1999 xuống còn 2,03 con/phụ nữ vào năm 2009 Với mỗi quốc gia, dự báo dân số trong tương lai có ý nghĩa quyết định tới mọi lĩnh vực, đặc biệt là việc hoạch định chính sách, chiến lược Việt Nam vẫn là nước có qui mô dân số lớn thứ 13 trên thế giới, chất lượng dân số còn hạn chế, chỉ số phát triển con người vẫn ở mức thấp, tầm vóc, thể lực còn hạn chế Đặc biệt, tỷ số chỉ số giới tính ở Việt Nam đang trải qua thời kỳ gia tăng bất thường, liên tục và ở mức đáng báo động, từ 106,2 bé trai vào năm 2000 lên tới 110,5 bé trai vào năm 2009 Việc lựa chọn giới tính thai nhi cho thấy sự bất bình đẳng giữa nam và nữ, định kiến giới tính

Câu 2:

Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là gì? Nêu các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trên từng lĩnh vực?

Trả lời:

Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất,

do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam

và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được

Theo Khoản 5 điều 11 Luật Bình đẳng giới quy định các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm:

Trang 5

a) Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới;

b) Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới

Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế bao gồm:

a) Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế và tài chính theo quy định của pháp luật;

b) Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư theo quy định của pháp luật

* Một số hình ảnh minh chứng về tuyên truyền Bình đẳng giới:

Đ/c Phó thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân trả lời với nữ CNVCLĐ về Bình đẳng giới

Theo Khoản 3 điều 13 Luật Bình đẳng giới quy định các biện pháp thúc đẩy bình

a) Quy định tỷ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động; b) Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ; c) Người sử dụng lao động tạo điều kiện vệ sinh an toàn lao động cho lao động nữ làm việc trong một số ngành, nghề nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại

Sự bình đẳng là do nhận thức đem lại Nhiều phụ nữ đi làm có thu nhập cao, thậm chí còn cao hơn của chồng nữa nhưng vẫn bị chồng coi thường, phụ bạc

Hình ảnh Nữ công nhân đang lao động

Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo bao gồm:

a) Quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập, đào tạo;

b) Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy định của pháp luật

Hội thảo Bình đẳng giới trong giáo dục ở Việt Nam

Trong 2 ngày 9-10/8/2011, tại Hà Nội, Bộ Giáo dục và đào tạo, Tổ chức hòa bình

và phát triển (PyD), Trung tâm nghiên cứu Quốc tế về các vấn đề liên quan đến phụ nữ về

(ICRW) đã tổ chức Hội thảo Chia sẻ kinh nghiệm về chiến lược, phương pháp phòng

chống bạo lực trong trường học, khu vực Châu Á-Thái Bình Dương

Trang 6

Tại hội thảo, các đại biểu đã đề cập đến nhiều nội dung cũng như các thuật ngữ xung quanh một số chủ đề: Phòng chống bạo lực tại trường học, bình đẳng giới trong giáo dục ở Việt Nam, xây dựng khung hiểu biết về các phương pháp tiếp cận bạo lực giới; tổng quan về các mô hình thực hành trên thế giới Bên cạnh đó, các chuyên gia nghiên cứu trong nước và quốc tế đã đưa ra những phân tích những mô hình phòng chống bạo lực giới tại trường học chẳng hạn như: ngăn ngừa và giảm thiểu tác hại của bạo lực trên cơ sở giới; Các phong trào bình đẳng giới trong trường học; t hay đổi các quan điểm về giới trong nhóm sinh viên các trường dạy nghề tại Việt Nam…

Thông qua những kinh nghiệm của mỗi quốc gia hoặc vùng miền, các nhóm nghiên cứu

đã đưa ra những tiêu chí quan trọng để đánh giá sự phát triển của xã hội đồng thời cho rằng bình đẳng giới cũng là yếu tố quan trọng góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội, tạo sự ổn định và bền vững cho mỗi quốc gia Tiếp đó, dựa trên kết quả nghiên cứu việc can thiệp bạo lực giới trong các trường học tại

Việt Nam, các nhóm nghiên cứu cũng mạnh dạn đưa ra những phương pháp nhằm giảm thiểu thực trạng sử dụng bạo lực trong trường học như: giáo dục chuyển đổi hành vi về xây dựng gia đình và phòng chống bạo lực gia đình giai đoạn 2011-2020; đưa giáo dục sức khỏe sinh sản - tình dục vào chương trình đào tạo; tư vấn và nâng cao năng lực cho nam thanh niên trong phòng chống bạo lực giới…

Các đại biểu cũng dành nhiều thời gian để nhận xét, đánh giá và thảo luận về phương pháp tiếp cận, giá trị thực tế, công sức của nghiên cứu viên đây được coi như là định hướng nhằm giúp các tác giả hoàn chỉnh thêm về nội dung, hình thức cũng như tính khoa học của mỗi

đề tài

* Bình đẳng giới trong lĩnh vực Khoa học và Công nghệ:

1 Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận, ứng dụng khoa học và công nghệ

Trang 7

2 Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận các khoá đào tạo về khoa học và công nghệ, phổ biến kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ và phát minh, sáng chế

* Bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao:

1 Nam, nữ bình đẳng trong tham gia các hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao

2 Nam, nữ bình đẳng trong hưởng thụ văn hoá, tiếp cận và sử dụng các nguồn thông tin

* Điều 17 khẳng định bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế:

1 Nam, nữ bình đẳng trong tham gia các hoạt động giáo dục, truyền thông về chăm sóc sức khỏe, sức khoẻ sinh sản và sử dụng các dịch vụ y tế

2 Nam, nữ bình đẳng trong lựa chọn, quyết định sử dụng biện pháp tránh thai, biện pháp

an toàn tình dục, phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục

3 Phụ nữ nghèo cư trú ở vùng sâu, vùng xa, là đồng bào dân tộc thiểu số, trừ các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, khi sinh con đúng chính sách dân số được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ

* Bình đẳng giới trong lĩnh vực Gia đình:

1 Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình

2 Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong

sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình

3 Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp; sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật

4 Con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển

5 Các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình

*Một số hình ảnh minh chứng về Bình đẳng giới ở vùng nông thôn:

Những biện pháp khác

Trang 8

a) Quy định tỷ lệ nam, nữ hoặc bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng tham gia, thụ hưởng;

b) Đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ năng lực cho nữ hoặc nam;

c) Hỗ trợ để tạo điều kiện, cơ hội cho nữ hoặc nam;

d) Quy định tiêu chuẩn, điều kiện đặc thù cho nữ hoặc nam;

đ) Quy định nữ được quyền lựa chọn trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam;

e) Quy định việc ưu tiên nữ trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam;

Việt Nam phấn đấu đạt tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy Đảng nhiệm kỳ 2016 - 2020 từ 25% trở lên; tỷ số giới tính khi sinh không vượt quá 113 trẻ sơ sinh trai/100 trẻ sơ sinh gái vào năm 2015 và 115/100 vào năm 2020

Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định số 2351/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 với mục tiêu giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm; tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị

Theo đó, hàng năm, trong tổng số người được tạo việc làm mới, bảo đảm ít nhất 40% cho mỗi giới (nam và nữ) Tỷ lệ nữ làm chủ doanh nghiệp đạt 30% vào năm 2015 và từ 35% trở lên vào năm 2020 Lao động nữ nông thôn dưới 45 tuổi được đào tạo nghề và chuyên môn kỹ thuật chiếm 1/4 vào năm 2015 và chiếm 1 nửa vào năm 2020 Tỷ lệ nữ ở vùng nông thôn nghèo, vùng dân tộc thiểu số có nhu cầu được vay vốn ưu đãi từ các chương trình việc làm, giảm nghèo và các nguồn tín dụng chính thức đạt 80% vào năm 2015

Với mục tiêu này, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới đặt chỉ tiêu phấn đấu đạt tỷ lệ

nữ tham gia cấp ủy Đảng nhiệm kỳ 2016 - 2020 từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011- 2015 đạt tỷ lệ từ 30% trở lên và nhiệm kỳ 2016 - 2020 trên 35% Bên cạnh đó, phấn đấu đến năm 2015 đạt 80% và đến năm 2020 đạt trên 95% Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ

Cũng theo Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới, một mục tiêu cơ bản khác là bảo đảm bình đẳng giới trong tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Cụ thể, tỷ số giới tính khi sinh không vượt quá 113 trẻ sơ sinh trai/100 trẻ sơ sinh gái vào năm 2015 và 115/100 vào năm 2020 Đến năm 2015, mục tiêu sẽ giảm 60% và đến năm 2020 giảm 80% sản phẩm văn hóa, thông tin mang định kiến giới Tăng thời lượng phát sóng các chương trình, chuyên mục và số lượng các sản phẩm tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới

Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới cũng đặt chỉ tiêu đến năm 2015 và duy trì đến năm 2020 các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bố trí đủ cán bộ làm công tác bình đẳng giới; hình thành đội ngũ cộng tác viên, tình nguyện viên tham gia công tác bình đẳng giới và

sự tiến bộ của phụ nữ

Trang 9

Câu 3:

Nêu những quy định về nội dung và mức xử phạt đối với từng hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động? Theo quy định của pháp luật lao động hiện hành, chế độ nghỉ thai sản được quy định như thế nào?

Trả lời:

Các hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động.

1 Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi phân công công việc mang tính phân biệt đối xử giữa nam và nữ dẫn đến chênh lệch về thu nhập hoặc chênh lệch về mức tiền lương, tiền công của những người lao động có cùng trình độ, năng lực vì lý do giới tính

2 Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Áp dụng các điều kiện khác nhau trong tuyển dụng lao động nam và lao động nữ đối với cùng một công việc mà nam, nữ đều có trình độ và khả năng thực hiện như nhau, trừ trường hợp áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới hoặc đối với các nghề nghiệp đặc thù theo quy định của pháp luật;

b) Từ chối tuyển dụng hoặc tuyển dụng hạn chế lao động nam hoặc lao động nữ vì lý

do giới tính, trừ trường hợp áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới; sa thải hoặc cho thôi việc người lao động vì lý do giới tính hoặc do việc mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ

3 Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc khôi phục lại quyền lợi hợp pháp đã bị xâm hại đối với hành vi quy định tại khoản 1

Chế độ nghỉ thai sản hiện hành theo quy định của Luật lao động

1 Người lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con, cộng lại từ bốn đến sáu tháng do Chính phủ quy định, tuỳ theo điều kiện lao động, tính chất công việc nặng nhọc, độc hại và nơi xa xôi hẻo lánh Nếu sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người

Trang 10

mẹ được nghỉ thêm 30 ngày

2 Hết thời gian nghỉ thai sản quy định tại khoản 1, nếu có nhu cầu, người lao động nữ

có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương theo thoả thuận với người sử dụng lao động Người lao động nữ có thể đi làm việc trước khi hết thời gian nghỉ thai sản, nếu đã nghỉ ít nhất được hai tháng sau khi sinh và có giấy của thầy thuốc chứng nhận việc trở lại làm việc sớm không có hại cho sức khoẻ và phải báo cho người sử dụng lao động biết trước Trong trường hợp này, người lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản, ngoài tiền lương của những ngày làm việc

Câu 4:

Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 đặt ra mục tiêu, chỉ tiêu nào nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị? Bằng hiểu biết của mình hãy nêu tên đầy đủ của các vị lãnh đạo nữ cấp cao hiện nay của Đảng và Nhà nước ta.

Trả lời:

Mục tiêu: Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị

- Chỉ tiêu 1: Phấn đấu đạt tỷ lệ nữ tham gia các cấp ủy Đảng nhiệm kỳ 2016 – 2020 từ 25% trở lên; tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 –

2015 từ 30% trở lên và nhiệm kỳ 2016 – 2020 trên 35%

- Chỉ tiêu 2: Phấn đấu đến năm 2015 đạt 80% và đến năm 2020 đạt trên 95% Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ

- Chỉ tiêu 3: Phấn đấu đến năm 2015 đạt 70% và đến năm 2020 đạt 100% cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội có lãnh đạo chủ chốt là nữ nếu ở cơ quan, tổ chức

có tỷ lệ 30% trở lên nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động

Câu 5:

Từ những tình huống, câu chuyện thực tế trong cuộc sống, hãy viết một bài tối đa

1500 từ về cá nhân hoặc tập thể điển hình hoặc chia sẻ câu chuyện, sự kiện ấn tượng trong việc thực hiện bình đẳng giới.

Trả lời:

Tình huống: Chồng bà A cho rằng việc đi chợ nấu cơm, giặc giũ, chăm sóc con cái là

việc của phụ nữ, nam giới chỉ lo kiếm tiền và giải quyết những công việc to lớn nên đã không

Ngày đăng: 03/06/2021, 02:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w