Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về [r]
Trang 1Họ và tên: Nguyễn
Khôi 4
Trường TH Lam Sơn
BÀI DỰ THI TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG
GIỚI
Theo báo cáo đánh giá tình hình giới ở Việt Nam (tháng 12/2006) của Ngân hàng
thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu á (ADB), Vụ phát triển quốc tế Anh (DFID),
Cơ quan phát triển quốc tế Canada (CIDA) nhận xét: “Việt Nam là một trong những nước dẫn đầu thế giới về tỷ lệ phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế, là một trong những nước tiến bộ hàng đầu về bình đẳng giới Với việc các kế hoạch quốc gia khi xây dựng đều chú ý đến vấn đề giới, chắc chắn việc bình đẳng giới sẽ đạt được các bước tiến xa hơn nữa” Chỉ số phát triển giới (GDI) của Việt Nam tăng từ 0,668 (năm 1998) lên 0,708% (năm 2004), đứng thứ 80/136 quốc gia và hầu như không có sự chênh lệch với chỉ số phát triển con người ”
Tuy nhiên, trên thực tế việc thực thi pháp luật về bình đẳng giới còn nhiều hạn chế, tạo nên khoảng cách giới
Cụm từ “bình đẳng nam- nữ” được đưa vào Hiến pháp Việt Nam từ năm 1946 Tuy nhiên, đứng từ góc độ nghiên cứu lý luận, vấn đề bình đẳng giới trong vòng mười năm trở lại đây mới bắt đầu được quan tâm và phải đến nghị quyết 23 của Đảng (3/2003) thì
ba chữ “bình đẳng giới” mới được đưa vào thực tiễn và mang ý nghĩa của khoa học giới Vấn đề định kiến và phân biệt đối xử theo giới là một biểu hiện cụ thể của bất bình đẳng giới Xét từ góc độ nghiên cứu khoa học, định kiến và phân biệt đối xử theo giới là một khái niệm mới mẻ ở Việt Nam Những công trình nghiên cứu về định kiến và phân biệt đối xử theo giới ở nước ta chưa nhiều, chưa hệ thống và ít nhận được sự quan tâm của giới học thuật Vì vậy, về mặt lý luận, nghiên cứu nguồn gốc phát sinh, nguồn gốc củng
cố của những loại hình định kiến giới đang tồn tại và xem xét ảnh hưởng của chúng tới sự phát triển của phụ nữ và nam giới trong những bối cảnh văn hoá – xã hội khác nhau là điều rất ý nghĩa
Trang 2Do đó, Luật bình đẳng giới được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006 Ngày 12 tháng 12 năm 2006, Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 18/2006/L-CTN Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 Và để mọi người hiểu rõ hơn về Luật bình đẳng giới,
Bộ Lao động – thương binh và xã hội đã tổ chức cuộc thi “ Tìm hiểu chính sách, pháp luật về bình đẳng giới” Cuộc thi sẽ là cầu nối cho mọi người hiểu thêm về kiến thức xã hội, kiến thức thực tế về bình đẳng giới
Câu 1 Luật Bình đẳng giới quy định bao nhiêu thuật ngữ liên quan tới bình đẳng giới? Nêu các nội dung cụ thể của từng thuật ngữ và cho 2 ví dụ để minh họa cho 2 khái niệm bất kỳ.
Theo Luật Bình đẳng giới của Quốc hội khóa XI, Kỳ họp thứ 10 số 73/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006, Điều 5 quy định 9 thuật ngữ liên quan tới bình đẳng giới là:
1 Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội.
2 Giới tính Giới tính là tất cả những đặc điểm riêng biệt tạo nên sự khác nhau giữa nam
và nữ Những đặc điểm ấy giúp ta phân biệt được dễ dàng giữa giới nam và giới nữ
Có hai nguồn gốc quy định giới tính của con người, là nguồn gốc sinh học và nguồn gốc
xã hội Giữa nam và nữ có sự khác nhau rõ rệt về các đặc điểm giải phẫu sinh lý, từ đó dẫn đến sự khác biệt rõ rệt về tâm lý
3 Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ
hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó
4 Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí,
vai trò và năng lực của nam hoặc nữ
- Với chuẩn mực của người phụ nữ trong xã hội phong kiến là “tứ đức” (Công, dung, ngôn, hạnh) thì hình ảnh một người phụ nữ theo đúng nghĩa thường phải là một người: Khéo léo, đảm đang trong việc nhà, đẹp theo hướng nhẹ nhàng, đoan trang, lời nói nhỏ nhẹ, từ tốn, và luôn giữ tiết hạnh, phục tùng người đàn ông Theo đó, nếu một người phụ
nữ không khéo léo trong công việc nội trợ nhưng năng động hoạt bát, làm kinh tế giỏi, có
vẻ bề ngoài cá tính và ăn nói sắc sảo, và có thể thảo luận, “tranh cãi” cùng ngừơi khác giới thì không được đánh giá cao vì so sánh với mẫu hình người phụ nữ đã được định khuôn thì rõ ràng một cô gái như vậy là không “nữ tính”
5 Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi
trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình
- Đơn cử một ví dụ, văn hóa hay tín ngưỡng “Thờ cúng tổ tiên”, “Nối dõi tông đường” thường được coi là “trọng trách” của người đàn ông Điều này thực chất thể hiện tư tưởng trọng nam khinh nữ Tư tưởng định kiến còn được xuyên suốt qua tục ngữ, ca dao, như
Trang 3“Đàn ông rộng miệng thì sang, đàn bà rộng miệng toang hoang cửa nhà”, hay “Bồ cu mà
đỗ nóc nhà, mấy đời đàn bà đi hỏi đàn ông” v.v
- Năm 1900, Pierre de Coubertin, cha đẻ của Thế vận hội Olympic tuyên bố: “Một thế
vận hội mà có sự tham gia của nữ giới thì phức tạp, chán ngắt, phi thẩm mỹ và không đúng với tinh thần của Thế vận hội…”.
6 Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực
chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được
7 Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là biện
pháp nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới bằng cách xác định vấn đề giới, dự báo tác động giới của văn bản, trách nhiệm, nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong các quan
hệ xã hội được văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh
8 Hoạt động bình đẳng giới là hoạt động do cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân thực hiện
nhằm đạt mục tiêu bình đẳng giới
9 Chỉ số phát triển giới (GDI) là số liệu tổng hợp phản ánh thực trạng bình đẳng giới,
được tính trên cơ sở tuổi thọ trung bình, trình độ giáo dục và thu nhập bình quân đầu người của nam và nữ i nhà, xã hội và để cộng đồng tiến bộ, phát triển ”