Sau đại hội đảng lần thứ VI năm 1986 nền kinh tế của nước ta đã chuyển sang một hướng đi mới, đó là : phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự q
Trang 1DẪN LUẬN
Từ năm 1986 trở về trước nền kinh tế nước ta là nền kinh tế sản xuất nhỏ, mang tính tự cung tự cấp vận hành theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp Do những sai lầm trong nhận thức về mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta ngày càng tụt hậu, khủng hoảng kéo dài, đời sống nhân dân khổ cực Chỉ có cách đổi mới nền kinh tế mới giúp nước ta thoát khỏi tình trạng đó
Sau đại hội đảng lần thứ VI năm 1986 nền kinh tế của nước ta đã chuyển sang một hướng
đi mới, đó là : phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nói cách khác đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Việc nghiên cứu về nền kinh tế thị trường ở nước ta có ý nghĩa rất lớn về cả lý thuyết lẫn thực tế Một mặt cho ta thấy được tính khách quan của nền kinh tế thị trường, sự cần thiết phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước ở nước ta hiện nay, thấy được những gì đã đạt được và chưa đạt được ở Việt Nam cũng như hiểu rõ hơn về quá trình đổi mới nhận thức của Đảng ta về kinh tế thị trường Mặt khác, giúp ta hiểu rõ hơn về nền kinh tế của nước nhà hiện nay, đồng thời thấy được vai trò to lớn của quản lý nhà nước đối với nền kinh tế thị trường, những giải pháp để nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường hiện nay
Ở Việt Nam, phát triển kinh tế thị trường không những là nội dung của công cuộc đổi mới
mà còn là công cụ, là phương thức để nước ta đi tới mục tiêu xây dựng xã hội chủ nghĩa Ngoài ra, để phát triển kinh tế thị trường ở nước ta thì không chỉ có Đảng, nhà nước mà tất cả mọi người đều phải có trách nhiệm
Vì vậy, việc nghiên cứu những quan điểm của Đảng cũng như đưa ra những giải pháp để nền kinh tế nước ta phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa và nhận thức về trách nhiệm của bản thân đối với nền kinh tế nước nhà là công việc vô cùng cần thiết Xuất phát từ tầm quan trọng đó nên tôi quyết định chọn đề tài : “Quá trình đổi mới nhận thức
về kinh tế thị trường? Giải pháp để nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường hiện nay? Nhận thức của anh/chị về trách nhiệm bản thân đối với vấn đề phát triển kinh tế đất nước?” cho bài luận này
Trang 2NỘI DUNG Chương 1 Một số khái niệm cần làm rõ
1.1 Kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường không phải là một chế độ kinh tế - xã hội Kinh tế thị trường là hình thức và phương pháp vận hành kinh tế Các quy luật của thị trường chi phối việc phân bổ tài nguyên qui định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, và sản xuất cho ai Đây là một kiểu tổ chức kinh tế hình thành và phát triển do những đòi hỏi khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất Nó là phương thức sinh hoạt kinh tế của sự phát triển
Kinh tế thị trường là hình thức phát triển cao nhất của kinh tế hàng hoá Khái niệm kinh
tế thị trường phản ánh trạng thái tồn tại vận động của nền kinh tế theo cơ chế thị trường, thật ra kinh tế thị trường là sản phẩm của sự phát triển khách quan của xã hội loài người
1.2 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là tên gọi mà Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra cho mô hình kinh tế hiện tại của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Nó được mô tả là một nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, trong đó khu vực kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, với mục tiêu dài hạn là xây dựng chủ nghĩa xã hội
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sản phẩm của thời kỳ Đổi Mới, thay thế nền kinh tế kế hoạch bằng nền kinh tế hỗn hợp hoạt động theo cơ chế thị trường Cụm
từ "định hướng xã hội chủ nghĩa" mang ý nghĩa là Việt Nam chưa đạt đến chủ nghĩa xã hội mà đang trong giai đoạn xây dựng nền tảng cho một hệ thống xã hội chủ nghĩa trong tương lai
Chương 2 Quá trình đổi mới nhận thức về kinh tế thị trường.
2.1 Sự cần thiết của việc hình thành, chuyển đổi và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.
Trước năm 1986, cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta là cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, đây là cơ chế mà ở đó Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu, thể hiện ở sự chi tiết hoá các nhiệm vụ do Trung ương giao bằng một hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh từ một trung tâm Các doanh nghiệp căn cứ vào chỉ tiêu kế hoạch của nhà nước từ đó lập kế hoạch sản xuất kinh doanh cho mình Trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, các cơ quan nhà nước can thiệp quá sâu vào các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm gì đối với các quyết định của
Trang 3mình, từ đó làm cho các doanh nghiệp thụ động không phát huy được tính sáng tạo, các quan hệ kinh tế bị hiện vật hoá Quan hệ hàng hoá tiền tệ chỉ mang tính hình thức, bỏ qua hiệu quả kinh tế, quản lý kinh tế và kế hoạch hoá bằng chế độ cấp phát, giao nộp Bộ máy quản lý cồng kềnh, nhiều cấp trung gian nhưng kém năng lực Cơ chế tập trung bao cấp
đã góp phần cho thắng lợi giải phóng đất nước, nhưng sau khi điều kiện kinh tế xã hội đã thay đổi Đặc biệt khi trình độ phát triển kinh tế đã nâng cao lên rất nhiều, cơ cấu càng phức tạp thì những khuyết điểm bên trong nền kinh tế kế hoạch ngày càng bộc lộ
Giai đoạn này không chấp nhận kinh doanh tự do, nhà nước phân phối hàng chục mặt hàng thiết yếu cho cuộc sống như: gạo, thực phẩm, chất đốt, vải vóc, pin… cho đến các tiêu phẩm phân phối được mua bổ sung như xà phòng, xi măng, xăm lốp xe đạp Toàn bộ nguồn cung cấp lương thực thực phẩm và nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống là thông qua chế độ tiêu chuẩn tem phiếu có định mức cho từng đối tượng Hàng hóa thời đó không được mua bán tự do trên thị trường như bây giờ, không được phép vận chuyển tự do hàng hóa từ địa phương này sang địa phương khác Trao đổi bằng tiền mặt bị hạn chế nên có người thậm chí có tiền vẫn đói vì không ai được phép kinh doanh Câu nói “ Có tiền mua tiên cũng được ” ít nhất cũng không thể đúng ở thời bao cấp, thời này sổ gạo mới là thứ quan trọng nhất
Mô hình kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp đã dẫn tới cuộc khủng hoảng kinh tế
-xã hội nghiêm trọng và kéo dài buộc nhiều đơn vị và cơ sở phải “phá rào” theo hướng thị trường hóa để tự cứu lấy mình, tạo ra sự đổi mới cục bộ
Đại hội VI khẳng định: “Việc bố trí lại cơ cấu kinh tế phải đi đôi với đổi mới cơ chế quản
lý kinh tế Cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp từ nhiều năm nay không tạo được động lực phát triển, làm suy yếu kinh tế xã hội chủ nghĩa, hạn chế việc sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế khác, kìm hãm sản xuất, làm giảm năng suất, chất lượng, hiệu quả, gây rối loạn trong phân phối lưu thông và đẻ ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội”
Vì vậy việc đổi mới cơ chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang một cơ chế quản lý kinh tế mới trở thành nhu cầu cần thiết và rất cấp bách đó là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
2.2 Sự hình thành tư duy của Đảng về kinh tế thị trường thời kỳ đổi mới:
2.2.1 Tư duy của Đảng về kinh tế thị trường từ Đại hội VI đến Đại hội VIII:
Một là, kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản mà là thành tựu phát triển chung của nhân loại.
Trang 4Trước khi đổi mới chúng ta cho rằng kinh tế thị trường là sản phẩm riêng của chủ nghĩa
tư bản còn kinh tế kế hoạch hóa là sản phẩm riêng của chủ nghĩa xã hội, hai mô hình kinh
tế này không hề có mối liên quan Nhưng dần dần chúng ta thấy rằng nhận định đó là không đúng Đảng ta đã thừa nhận kinh tế thị trường là thành tựu phát triển chung của nhân loại, không phải chỉ trong chủ nghĩa tư bản mới có kinh tế thị trường, kinh tế thị trường đã có mầm mống từ trong xã hội nô lệ hình thành trong xã hội phong kiến và phát triển cao trong chủ nghĩa tư bản
Chủ nghĩa tư bản không sản sinh ra kinh tế hàng hóa, do đó, kinh tế thị trường với tư cách là kinh tế hàng hóa ở trình độ cao không phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản mà là thành tựu phát triển chung của nhân loại Chỉ có thể chế kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa hay cách thức sử dụng kinh tế thị trường theo lợi nhuận tối đa của chủ nghĩa tư bản mới là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản
Nhận thức này đã bỏ đi 1 định kiến rất sai lầm trước đó
Hai là, kinh tế thị trường còn tồn tại khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế mà ở đó các quan hệ kinh tế đều được thực hiện trên thị trường, thông qua quá trình trao đổi mua bán Quan hệ hàng hóa - tiền tệ phát triển đến một trình độ nhất định sẽ đạt đến kinh tế thị trường Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển của kinh tế hàng hóa dựa trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất Trong những điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, sự phát triển của kinh tế hàng hóa, tất nhiên, chịu sự tác động của những quan hệ xã hội nhất định hình thành nên các chế độ kinh tế -
xã hội khác nhau Vì vậy, không thể nói kinh tế hàng hóa là sản phẩm của một chế độ kinh tế - xã hội nào mà phải hiểu rằng nó là một sản phẩm của quá trình phát triển của lực lượng sản xuất xã hội loài người, nó xuất hiện và tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất xã hội và đến trình độ cao hơn đó là kinh tế thị trường
Ở Việt Nam, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, những điều kiện chung để kinh tế hàng hóa xuất hiện vẫn còn tồn tại Do đó, sự tồn tại kinh tế hàng hóa ở nước ta là một tất yếu khách quan Những điều kiện chung để kinh tế hàng hóa xuất hiện và tồn tại là:
Phân công lao động xã hội là cơ sở tất yếu của nền sản xuất hàng hóa vẫn tồn tại
và ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu ở nước ta hiện nay Sự phát triển của phân công lao động xã hội thể hiện ở chỗ các ngành nghề ở nước ta ngày càng đa dạng, phong phú, chuyên môn hóa sâu Điều đó, đã góp phần phá vỡ tính chất tự cung tự cấp của nền kinh tế tự nhiên trước đây và thúc đẩy kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ hơn
Trang 5 Sự tồn tại và phát triển của nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế khác nhau tạo nên sự tách biệt kinh tế giữa các chủ thể kinh tế độc lập cũng là điều kiện tất yếu cho sự tồn tại và phát triển kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường ở nước ta Thật vậy, một khi còn tồn tại nhiều dạng sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và
về sản phẩm lao động sẽ tạo nên sự độc lập về kinh tế của những ngành chủ sở hữu khác nhau đó Do đó, các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế khi cần sản phẩm của nhau tất yếu phải thông qua con đường thoả thuận, trao đổi, mua bán
Đại hội VII của Đảng (tháng 6/1991) trong khi khẳng định chủ trương tiếp tục xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế vừa cạnh tranh vừa hợp tác, bổ sung cho nhau trong nền kinh tế quốc dân thống nhất, đã đưa ra kết luận quan trọng rằng sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội, nó tồn tại khách quan và cần thiết cho xây dựng chủ nghĩa xã hội Đại hội cũng xác định cơ chế vận hành của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là “cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước” bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác
Tiếp tục đường lối trên, Đại hội VIII của Đảng (tháng 6/1996) đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Ba là, có thể và cần thiết sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Kinh tế thị trường tồn tại khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Vì vậy,
có thể và cần thiết sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Ở bất kỳ xã hội nào, khi lấy thị trường làm phương tiện có tính cơ sở để phân bổ các nguồn lực kinh tế thì kinh tế thị trường cũng có những đặc điểm chủ yếu sau:
Các chủ thể kinh tế có tính độc lập, nghĩa là có quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, lỗ - lãi tự chịu
Hệ thống thị trường hoàn hảo, điều kiện để có thị trường hoàn hảo: Phải có chủ thể thị trường đông đảo, phải phát triển đồng bộ đủ các yếu tố và các loại thị trường, phải phát triển thị trường thống nhất trên toàn quốc, kết nối thị trường trong nước với thị trường quốc tế
Giá cả cơ bản do cung cầu điều tiết Bất kì sự can thiệp không thích đáng nào do con người tạo ra đối với tín hiệu giá cả sẽ đều bẻ cong tín hiệu thị trường, gây tổn hại cho sự vận hành cả nền kinh tế
Trang 6 Có hệ thống pháp quy kiện toàn Tự do khế ước là đặc trung của kinh tế thị trường nên phải được sự bảo hộ của pháp luật do chính phủ chế định Hệ thống pháp luật thị trường phải hoàn hảo, đủ các tầng nấp định chế pháp luật
Tính mở cửa hoạt động kinh tế Thị trường trong nước và thị trường thế giới ngày càng liên kết thành một chỉnh thể bảo đảm cho tính lưu động tự do của hàng hóa,
tư bản, sức lao động,…
Chính phủ thực hiện sự quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế Kinh tế thị trường tự bản thân nó khó tránh khỏi khủng hoảng kinh tế chu kì, khó tránh khỏi phân hóa hai cực, tàn phá môi trường, để bù đắp những khiếm khuyết này thì nền kinh tế thị trường hiện đại cần có vai trò quản lý vĩ mô và điều tiết kế hoạch của chính phủ để đảm bảo nền kinh tế được vận hành ổn định, lành mạnh
Trước đổi mới, do chưa thừa nhận trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn tồn tại sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường nên chúng ta đã xem kế hoạch là đặc trưng quan trọng nhất của kinh tế xã hội chủ nghĩa, đã thực hiện phân bổ mọi nguồn lực theo kế hoạch là chủ yếu còn thị trường chỉ được coi là một công cụ thứ yếu bổ sung cho kế hoạch do đó không cần thiết sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội Vào thời kỳ đổi mới, chúng ta ngày càng nhận rõ có thể dùng cơ chế thị trường làm cơ sở phân bổ các nguồn lực linh tế, dùng tín hiệu giá cả để điều tiết chủng loại và số lượng hàng hóa, điều hòa quan hệ cung cầu, điều tiết tỷ lệ sản xuất thông qua cơ chế cạnh tranh, thúc đẩy cái tiến bộ, đào thải cải lạc hậu, yếu kém
Thực tế cho thấy, những mô hình “phá rào” chuyển sang làm ăn mới đều cho chúng ta một kết luận rằng ở đó kinh tế thị trường giúp xây dựng chủ nghĩa xã hội chứ không phá chủ nghĩa xã hội Ví dụ như chủ trương đổi từ “khoán việc” sang “khoán hộ” của đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc là ông Kim Ngọc vào năm 1966, chủ trương này không hề làm mất đi chủ nghĩa xã hội mà chỉ làm mất đi cái đói, mất đi cái khổ của đồng bào Nhưng chủ trương này chỉ được thực hiện vào 1 thời gian ngắn vì thời điểm đó chủ trương này bị cho là “ đốt cháy giai đoạn ” và không được chấp nhận Từ sau năm 1986, sau khi Đảng ta thực hiện các chính sách đổi mới nền kinh tế, thóc lúa nước ta không những không giảm đi mà còn tăng lên rất nhiều, chúng ta đã chấm dứt được nạn đói kéo dài, đã có đủ thóc gạo ăn và thậm chí là suất khẩu sang các nước khác
Đây là một nhận định rất đúng đắn
2.2.2 Tư duy của Đảng về kinh tế thị trường từ đại hội IX tới đại hội XII
Đại hội IX của Đảng (tháng 4/2001) xác định : Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa
xã hội Đó là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có
Trang 7sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là bước chuyển quan trọng từ nhận thức kinh tế thị trường như một công cụ, một cơ chế quản lý sang coi kinh
tế thị trường như một chỉnh thể, là cơ sở kinh tế của sự phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Tư duy của Đảng về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta được tiếp tục phát triển từ Đại hội IX, Đại hội X, XI và XII Điều này đã làm làm sáng tỏ thêm nội dung cơ bản của định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở nước ta Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường vừa được dẫn dắt bởi các định hướng xã hội chủ nghĩa theo 4 tiêu chí sau:
Một là, định hướng về mục đích phát triển: Mục tiêu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta nhằm thực hiện “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng bước khá giả hơn
Nền kinh tế thị trường, nếu cứ để mặc nó thì nó sẽ bảo đảm tối đa cho tầng lớp giàu phát triển còn bỏ mặc tầng lớp nghèo Nhưng kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa thì Đảng và nhà nước sẽ tác động để bảo đảm không phải chỉ tầng lớp giàu mà cả tầng lớp trung lưu, tầng lớp nghèo cũng đều được hưởng thành quả phát triển
Hai là, định hướng về phương hướng phát triển:
Trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), phát triển nền kinh tế với nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhằm giải phóng mọi tiềm năng trong mọi thành phần kinh tế, trong mỗi cá nhân và mọi vùng miền… phát huy tối đa nội lực để phát triển nhanh nền kinh tế
Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh
Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển
Để giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước phải nắm được các vị trí
Trang 8then chốt của nền kinh tế bằng trình độ khoa học, công nghệ tiên tiến, hiệu quả sản xuất kinh doanh cao chứ không phải dựa vào bao cấp, cơ chế xin – cho hay độc quyền kinh doanh Mặc khác, tiến lên chủ nghĩa xã hội đặt ra yêu cầu nền kinh tế phải được dựa trên nền tảng của sở hữu toàn dân về các tư liệu sản xuất chủ yếu
Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế
Ba là, định hướng về xã hội và phân phối: Tăng trưởng kinh tế gắn kết chặt chẽ và đồng bộ với phát triển xã hội, văn hóa, giáo dục và đào tạo, giải quyết tốt các vấn
đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người Hạn chế tác động tiêu cực của kinh tế thị trường Trong lĩnh vực phân phối, định hướng xã hội chủ nghĩa được thể hiện qua chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội Đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác
Bốn là, định hướng về quản lý: Phát huy vai trò làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng
Chương 3 Thực tiễn nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
3.1 Một số thành tựu trong những năm gần đây
Trong những năm qua, chúng ta đã giải quyết tốt mối quan hệ nhà nước, xã hội và thị trường trong các hoạt động quản lý nhà nước Bình quân cả giai đoạn 2006 -
2017, GDP tăng trưởng 6,19%, cao hơn tốc độ tăng GDP của thế giới
Năm 2019, tăng trưởng kinh tế đạt khá, năng suất lao động và chất lượng tăng trưởng tiếp tục được cải thiện, kinh tế vĩ mô ổn định vững chắc Tốc độ tăng GDP
cả năm đạt 7,02%, vượt mục tiêu của Quốc hội đề ra, thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao hàng đầu khu vực và thế giới Việt Nam đã chuyển từ nhóm thu nhập thấp sang thu nhập trung bình
Đến hết năm 2018, Việt Nam hiện có khoảng 3.000 doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, tăng gần gấp đôi so với số liệu năm 2015 Với sự phát triển mạnh
mẽ của hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, đến năm 2020, Việt Nam sẽ có khoảng một triệu doanh nghiệp, trong đó có 5.000 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo Báo cáo về xếp hạng Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2018 cho thấy, Việt Nam tiếp tục cải thiện vị trí, đứng thứ 45/126 quốc gia và nền kinh tế được xếp hạng, tăng 2 bậc so với năm 2017, 14 bậc so với năm 2016
Trang 9 Môi trường kinh doanh tiếp tục được cải thiện Tập trung đơn giản hóa, cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, cải cách hoạt động kiểm tra chuyên ngành, tiết giảm chi phí, hỗ trợ tiếp cận thị trường và các nguồn lực Xếp hạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam năm 2019 được Diễn đàn Kinh tế thế giới đánh giá tăng 10 bậc và 3,5 điểm so với năm 2018 - mức tăng mạnh nhất thế giới
Các ngành nông nghiệp, công nghiệp, khoa học kỹ thuật cũng đều phát triển nhanh chóng
3.2 Những hạn chế còn tồn tại
Các yếu tố XHCN hoặc xuất hiện nhưng không có hiệu quả, hoặc chưa rõ nét Cụ thể là, thành phần kinh tế nhà nước tuy chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế nhưng hiệu quả thấp Thậm chí một số tập đoàn kinh tế nhà nước lớn lâm vào tình trạng mất vốn, phá sản, nợ nần (nợ của doanh nghiệp nhà nước đến năm 2013 đạt con số hơn 1 triệu tỷ đồng và đến năm 2019 là hơn 3 triệu tỷ đồng)
Hợp tác xã còn yếu kém hơn, đặc biệt là không hấp dẫn nông dân Nhà nước quản
lý nền kinh tế chủ yếu theo chính sách ngắn hạn, hiệu lực và hiệu quả thấp, các vấn đề về lũng đoạn thị trường, gian lận, hàng giả… diễn ra phổ biến
Nhà nước làm mất dần niềm tin ở nhân dân do quản lý nền kinh tế chưa thực sự hiệu quả và công bằng, do “lợi ích nhóm” chi phối nên nhiều chính sách kinh tế chưa thực sự xuất phát từ lợi ích chung của nhân dân lao động Tệ quan liêu, lãng phí và tham nhũng chưa được ngăn ngừa hiệu quả Số đông người dân làm nông nghiệp có thu nhập thấp, hầu như rất khó thoát nghèo
Sự phân hóa giàu - nghèo ngày càng gia tăng, chênh lệch thu nhập giữa nhóm 20% dân số giàu nhất và nhóm 20% dân số nghèo nhất vào năm 2014 là 9,7 lần, đến năm 2018 là 10 lần
Nhiều vấn đề mới phát sinh mà hoạt động quản lý nhà nước chưa dự liệu, chưa tạo
ra hành lang pháp lý cần thiết để quản lý Các vấn đề phát sinh trong quản lý doanh nghiệp FDI, những yếu kém của các tập đoàn kinh tế nhà nước… cho thấy khung thể chế về kinh tế thị trường chưa thực sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn
Nhịp độ tăng trưởng của Việt Nam tương đối cao nhưng chưa thực sự tương xứng với tiềm năng, thực lực hiện có Hoạt động quản lý nhà nước chưa tạo ra thể chế
đủ sức hấp dẫn để thu hút nguồn lực đầu tư cho phát triển Thu ngân sách nhà nước vẫn chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố bên ngoài, các khoản thu từ tài
nguyên, các khoản thu đặc thù và các khoản thu phát sinh do yếu tố khách quan dẫn đến một số năm không đạt dự toán
Việc huy động nguồn lực từ đất đai, tài nguyên thiên nhiên, tài sản nhà nước hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng được nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội;
Trang 10vẫn còn tình trạng thất thu ngân sách nhà nước do gian lận, chuyển giá; nợ đọng thuế còn lớn làm ảnh hưởng tới tỷ lệ huy động thu ngân sách nhà nước
Nền kinh tế nước ta vẫn còn nhiều “điểm nghẽn” ở tiến trình cổ phần hoá, thoái vốn tại doanh nghiệp nhà nước, chậm triển khai các dự án, công trình trọng điểm quốc gia, doanh nghiệp có vốn mỏng, “tín dụng đen” vẫn hoành hành, cải thiện môi trường kinh doanh chưa theo kịp với thực tiễn của đời sống kinh tế và vẫn còn rủi ro trong ứng phó với những thách thức từ bên ngoài
Đi cùng với sự phát triển kinh tế đó là vấn đề về ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu ở nước ta đang ngày một nghiêm trọng
Nguyên nhân của những tình trạng này đã được Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 5, khóa XII của Đảng chỉ rõ: Nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa đủ rõ Tư duy bao cấp còn ảnh hưởng nặng nề Năng lực xây dựng
và thực thi thể chế còn nhiều bất cập, chưa theo kịp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Việc quán triệt, tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở các cấp, các ngành, nhất là người đứng đầu thiếu quyết liệt, hiệu quả thấp và chưa nghiêm Vai trò, chức năng, phương thức hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị chậm đổi mới phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường trong điều kiện hội nhập quốc tế Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thói quan liêu, tham nhũng ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên làm giảm hiệu lực, hiệu quả trong thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
3.3 Giải pháp để nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường hiện nay
Các cơ quan quản lý nhà nước cần tích cực tìm ra điểm nghẽn trong tiến trình phát triển thông qua việc lắng nghe các ý kiến từ xã hội, từ cộng đồng doanh nghiệp, các diễn đàn trao đổi, các ý kiến tư vấn, gợi ý chính sách Thể chế quản lý nhà nước cần đảm bảo huy động và quản lý có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển, đặc biệt là nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn đầu tư tài chính, nguồn ngân sách nhà nước… Cần hoàn thiện thể chế phân bổ nguồn lực đầu tư cho phát triển thực
sự hiệu quả, khắc phục sự đầu tư dàn trải, đầu tư mà cơ sở xác định hiệu quả chưa thực sự rõ rang
Cần không ngừng tạo ra các quy chế đảm bảo tính tổ chức và văn minh của các giao dịch trên thị trường, nhất là về phương diện giảm thiểu chi phí và rủi ro cho các chủ thể kinh tế, trong đó chú ý tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, cung cấp thông tin về sản phẩm, kỷ luật hợp đồng và thanh toán không dùng tiền mặt…