Trong đợt tiến hành kiểm kê di tích ngày 2/4/1992 Hội đồng bảo vệ di tích gồm các đồng chí đại diện Chi Chính quyền xã Tân Lân, các đồng chí lãnh đạo Phòng Văn hóa Thông tin huyện Cần Đư[r]
Trang 1Di tích lịch sử văn hóa
Chùa Phước Lâm
12/11/2008 10:16 Chùa Phước Lâm tọa lạc tại ấp Xóm Chùa, Xã Tân Lân,huyện Cần Ðước, tỉnh Long An Vào năm 1880, một lương ykiêm điền chủ ở làng Tân Lân, ông Bùi Văn Minh , đã đứng
ra dựng chùa này vừa thờ Phật vừa làm từ đường cho dòng
họ Bùi Vì có công với làng nên ông Minh khi mất được dânchúng tôn làm hậu hiền và đưa vào phối tự trong đình TânLân Ngôi chùa do ông lập ra ngoài tên chữ hán là PhướcLâm Tự ra còn có tên là chùa ông Miêng (do lệ cử tên húyông Minh) Nhìn về tổng thể, ngôi chùa gồm 3 phần: Chánhđiện - hậu tổ, khu mộ tháp và nhà trù Chánh điện là mộtngôi nhà lớn được xây dựng theo kiểu ''bánh ít'', có móng đáxanh, tường gạch, lợp ngói vảy cá Toàn bộ cột chùa chùađều bằng danh mộc hình trụ tròn, được kê trên các chân tán
đá xanh, liên kết với nhau bởi hệ thống xiên, vì kèo, sườnmái tạo cho không gian bên trong sự rộng rãi thoáng mát.Nội thất chánh điện chùa Phước Lâm còn giữ được những nét
cổ kính dù trải qua nhiều lần trùng tu với hơn 40 tượng Phật,
Bồ Tát, Ngọc Hoàng, Thị Giả, Thập Điện Diêm Vương, Thiện,
Ác, Hộ Pháp, Kim Cương…và nhiều bộ bao lam, hoành phi,liễn đối được sơn son thếp vàng rực rỡ Đa số tượng Phật cóchất liệu gỗ, đồng được chế tác từ thế kỷ XIX với một phongcách nghệ thuật mang đậm nét văn hóa Phật giáo Nam Bộ
Có một pho tượng rất đặc biệt tạc một
vị Bồ Tát mình mặc cà sa, tay cầm phấttrần, ngồi trên long mã bằng gỗ Những
bộ bao lam, hoành phi, liễn đối đều đượcchạm trổ rất công phu và là sản phẩm củacánh nghệ nhân họ Đinh ở Tân Lân CầnĐước(1)
Chùa Phước Lâm
Đặc biệt nhất là bức hoành '' Pháp luân thường chuyển” chạmlộng nhiều lớp có dạng cuốn thư với chủ đề cúc trĩ Chữ thọ được
Trang 2chạm nổi tách làm đôi ở hai đầu cuốn thư và 4 chữ pháp luân thườngchuyển sơn đỏ trên nền vàng góp phần làm tăng đường nét tinh xảo,sinh động cho hoành phi.
Đây là một trong những bức hoành đẹp nhất ở Long An chứngminh cho trình độ nghệ thuật điêu luyện của nghề chạm khắc gỗ ởCần Đước đã phát triển mạnh vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX Cũngnhư những ngôi chùa làng khác ở Nam Bộ, phía sau chánh điệnchùa Phước Lâm là tổ đường theo đúng công thức ''Tiền Phật, HậuTổ'' Tổ đường có bàn thờ và di ảnh của các vị trụ trì đã quá vãng, diảnh và bàn thờ Bùi Công- người lập chùa , và bàn thờ của họ Bùi.Phía Ðơng chánh điện là 4 ngôi mộ tháp khá cổ kính trong đó có thápbảo đồng của tổ khai sơn Hồng Hiếu và chư vị trụ trì đã quá vãng.Chùa Phước Lâm là tổ đình của hệ phái Lục Hòa ở Cần Đước Vàonhững ngày rằm khá đông thiện nam, tín nữ đến chùa lễ Phật, cầukinh như để xua đi bao nổi ưu phiền của cuộc sống đời thường vàhòa đồng với nhau trong tình thương bao la của Phật Nhà nghiêncứu Trần Hồng Liên có viết: ''Chùa Phước Lâm tiêu biểu cho hìnhảnh của một ngôi chùa cổ ở Nam Bộ, nhưng tiếc rằng ngôi già lamthể hiện một mảng văn hóa Phật giáo Nam Bộ này lại đang bị hư hạitrầm trọng theo sự tàn phá nhanh chóng của thời gian'' Vào năm
2001, chùa Phước Lâm đã được Bộ Văn Hóa Thông Tin ra quyếtđịnh xếp hạng di tích cấp quốc gia.Với tấm lòng quý yêu một di sảnvăn hóa của cha ông,trong tuong lai ngôi cổ tự này sẽ được các cơquan chức năng và đồng bào phật tử hợp sức trùng tu, tôn tạo đểmãi mãi là một danh lam, một niềm tự hào của nhân dân địa phương (1) Cánh thợ họ Đinh ở Cần Đước làm nghề chạm gỗ đến nay đã
5 đời Tổ của họ này là nghệ nhân Đinh Văn Trì (sinh khoảng 1841)
đã truyền nghề cho các nghệ nhân nổi tiếng sau: Đinh Công Tùng,Đinh Công Cai (thế hệ thứ 2); Đinh Văn Tất, Đinh Công Tồn (thế hệthứ 3); Đinh Văn Năm (thế hệ thứ tư) Cánh thợ họ Đinh đã để lạinhiều tác phẩm nổi tiếng ở chùa Giác Lâm (TPHCM), Hội quán NghĩaNhuận, Xóm Nhà Giàu (Xã Thanh Phú Long -Châu Thành), nhà ÔngCai Bằng (Tân Ân - Cần Đước), nhà Bà Phủ Phải (Chợ Quán -TPHCM)
Trang 3I Tên gọi của di tích:
Chùa Phước Lâm là một ngôi chùa cổ, được xây dựng từ thế kỷ 19, cótên chử Hán là Phước Lâm Tự Nhân dân trong vùng thường gọi là chùa ôngMiêng do lệ cử tên của ông Bùi Văn Minh, người đã sáng lập ra ngôi chùa
II Địa điểm phân bố - đường đi đến di tích:
1 Địa điểm phân bố:
Chùa Phước Lâm tọa lạc ở ấp Xóm Chùa, xã Tân Lân, huyện Cần Đước,tỉnh Long An, nằm phía bên phải của tỉnh lộ 826, cách Thị trấn Cần Đước1,5km về phía Nam và Thị xã Tân An khoảng 30km về phía Tây Chùa PhướcLâm cũng nằm gần những tuyến giao thông quan trọng như quốc lộ I (cách15km), quốc lộ 50 (cách 1km)
Từ khi ở Nam bộ có sự phân định về hành chánh vào năm 1698, phầnđất di tích lúc bấy giờ thuộc Tổng Phước Lộc – huyện Tân Bình – Phủ GiaĐịnh Đến năm 1808 Tổng Phước Lộc được nâng lên thành huyện gồm 2Tổng Lộc Thành và Phước Điền, lúc này di tích thuộc làng Tân Lân, mộttrong 28 làng của Tổng Lộc Thành Năm 1832, hai huyện Thuận An vàPhước Lộc được tách ra khỏi Phủ Tân Bình để thành lập Phủ Tân An Năm
1862, sau khi chiếm xong 3 tỉnh Miền Đông Nam kỳ thực dân Pháp chiathành nhiều hạt tham biện trong đó hạt Cần Giuộc được thành lập từ huyệnPhước Lộc trước đây Di tích lúc bấy giờ thuộc xóm Mương ông Bường làngTân Lân, Tổng Lộc Thành Trung Từ năm 1876, phần đất di tích thuộc tiểukhu Chợ Lớn, khu vực Mỹ Tho một trong 4 khu vực hành chánh lớn mà đôđốc Duperre ra Nghị định phân chia ở Nam kỳ
Ngày 20/12/1899 toàn quyền Đông Dương ra Nghị định đổi các tiểukhu thành tỉnh, áp dụng chính thức vào ngày 1/1/1900, di tích lúc bấy giờ lạithuộc địa giới tỉnh Chợ Lớn Năm 1923, Sở Đại lý Rạch Kiến được thànhlập gồm các làng trong 3 tổng Lộc Thành, từ đó đến năm 1955, di tích lạithuộc về sở Đại lý Rạch Kiến (sau là quận Rạch Kiến) Từ năm 1956, sở đại
lý quận Rạch Kiến được đổi tên là quận Cần Đước, thuộc tỉnh Long An gồm
2 tỉnh Chợ Lớn và Tân An nhập lại Năm 1967 chính quyền địch chia CầnĐước thành hai quận Cần Đước và Rạch Kiến, ranh giới này được giữ
Trang 4nguyên đến năm 1975 Sau ngày Miền Nam giải phóng hai quận Cần Đước
và Rạch Kiến được nhập lại vào năm 1977 gồm 16 xã và 1 thị trấn được giữnguyên cho đến nay
2 Đường đi đến:
Từ Thị xã Tân An, du khách theo quốc lộ I đến thị tứ Gò Đen, rẽtheo đường tỉnh lộ 835 đến ngã tư Xoài Đôi Từ đây tiếp tục đi theođường tỉnh lộ 826 về phía thị trấn Cần Đước, đến cây số 14 rẽ phải vàođường làng khoảng 100m thì đến di tích
III Sự kiện và nhân vật lịch sử:
Cách đây trên dưới 300 năm cùng với công cuộc khẩn hoang đất Nam
Bộ những lưu dân người Việt đầu tiên đã đặt chân đếng vùng đất Cần Đướchiện nay Cùng với lưu dân có những nhà sư người Việt và Thuyền sư Trunghoa đến truyền đạo tại vùng đất xa xôi này Khai phá vùng đất mới tuy rấtphì nhiêu nhưng còn hoang du rậm rạp, những người đi mở đất này đã phảiđương đầu với những khó khăn, trắc trở, bệnh tật, thú dữ và một môi trườnghoàn toàn xa lạ, những điều ấy vẫn còn để lại qua những câu cao dao như:
“ Muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lội tợ bánh cánh
Đến đây xứ sở lạ lùng
Con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh”
Đối mặt với thực tế đó, muốn tồn tại lưu dân không những phải cómột tinh thần quyết tâm, sự cần cù chịu khó mà họ cần một chỗ dựa về mặttinh thần Phật giáo đã đáp ứng được nhu cầu của họ Với gốc gác là nhữngnông dân Miền Trung, Miền Bắc, lưu dân ngoài việc thờ cúng tổ tiên còn coiviệc đi chùa lễ phật là một cứu cánh tinh thần để có thêm nghị lực đươngđầu với những khó khăn trong cuộc sống Chính vì thế những ngôi am, tựđầu tiên bằng tre , lá do các nhà sư dựng lên đã nhanh chống trở thành nơi đểcác tín đồ lui tới Khi người dân định cư tương đối đông, đời sống đã được
ổn định, những ngôi chùa lớn, nguy nga bắt đầu xuất hiện thay cho các ngôithảo am buổi ban sơ
Dưới thời các chúa Nguyễn, những vị vua sùng kính đạo Phật nhiềungôi chùa đã xuất hiện ở vùng đất Nam Bộ Chịu ảnh hưởng bởi tinh thầnsùng đạo ấy nhiều người dân đã hiến đất, bỏ tiền xây chùa hoặc biến nhà ởcủa mình thành chùa Loại chùa “cải gia vi tự” này khá phổ biến ở Long Anđiển hình là Chùa Phước Lâm ở Tân Lân, Cần Đước
Chùa Phước Lâm có nguồn gốc ban đầu là tư gia của ông Bùi VănMinh, được xây dựng vào năm Tân Tỵ (1880) Ông Bùi Văn Minh là mộtđiền chủ khá giả trong vùng Sinh thời ông đã góp nhiều công của và làmnhiều việc công ích trong làng nên khi mất đi ông được tôn làm hậu hiền vàđược thờ trong đình Tân Lân Sẵn từ tâm sùng đạo Phật lại không có con nênông đã “cải gia vi tự”, lập nên Chùa Phước Lâm, một dạng chùa làng vừa
Trang 5làm nơi thờ Phật vừa là từ đường của dòng họ Bùi Do tôn kính ông Bùi VănMinh, dân làng kiêng húy gọi tên ông là ông Miêng và ngôi chùa do ông lập
ra, ngoài tên chữ Hán là Phước Lâm Tự còn được gọi là chùa ông Miêng Từkhi ngôi Chùa Phước Lâm được dựng các tín đồ tới lui tới ngày càng đông,lòng sùng kính Phật giáo trong quần chúng ở đây được củng cố, phát triển.Chính vì thế mà lần lượt trong khu vực gần Chùa Phước Lâm, 3 ngôi chùakhác cũng được xây dựng Từ thuở khẩn hoang, cư dân đã đặt tên cho khuvực này là xóm Mương Ông Bường Đến khi Chùa Phước Lâm và 3 ngôichùa mới được xây dựng, địa danh Xóm Chùa đã thay thế địa danh xómMương Ông Bường trở thành chính thức trên bản đồ hành chính Do sự pháttriển của đạo Phật và vị trí địa lý thuận lợi, Phật giáo ở Cần Đước đã có mốiquan hệ thường xuyên và chặt chẽ với vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Tiền Giang.Một minh chứng cho điều này là việc ông Bùi Văn Minh sau khi lập chùaxong đã thỉnh thầy Hồng Hiếu người đã tu học ở chùa Giác Hải (Thành phốHCM ngày nay) về trụ trì đầu tiên ở Chùa Phước Lâm Chùa Giác Lâm một
cổ tự ở Thành phố Hồ Chí Minh (xây dựng năm 1744) cũng là tổ đình củacác chùa thuộc phái Lục Hòa ở Cần Đước, trong đó có Chùa Phước Lâm.Khoảng năm 1890, thầy Hồng Hiếu đã cho xây dựng thêm một điện thờ tiếpnối với Chùa Phước Lâm mà ông Bùi Văn Minh đã dựng vào năm 1880 Đóchính là Chánh điện của Chùa Phước Lâm ngày nay, Chánh điện cũ đượcdùng làm tổ đường của chùa và từ đường của họ Bùi Ngoài ra hai bên ngôiChánh điện cũ còn có hai dãy nhà đông lang và tây lang vốn là lẩm lúa của
họ Bùi được sử dụng làm nhà kho và nhà trù
Trong khoảng 10 năm với nổ lực của ông Bùi Văn Minh và thầy HồngHiếu, Chùa Phước Lâm đã được xây dựng hoàn chỉnh: trước đó ông Minhcòn hiến cho chùa vài chục mẫu ruộng để phát canh thu tô lấy nguồn tàichính phục vụ cho Phật sự Nhờ vậy, công với tấm lòng sùng đạo của phật
tử, Chùa Phước Lâm đã trở thành một ngôi chùa lớn, khang trang, hệ thốngkèo, cột toàn bằng danh mộc Công cuộc xây dựng chùa được đảm trách bởinhững cánh thợ lừng danh thời bấy giờ Riêng phần trang trí nội thất, nhữngbao lam, hoành phi, câu đối và các hoa tiết điêu khắc đều được thực hiện bởinhững nghệ nhân chạm gỗ nổi tiếng ở Cần Đước - cánh thợ họ Đinh
Ngay từ buổi đầu thành lập nhờ có những vị cao tăng đạo Cao ĐứcTrọng trụ trì và Hoằng Dương Đạo pháp cùng với uy tín và đạo đức của vịsáng lập là ông Bùi Văn Minh, Chùa Phước Lâm đã sớm trở thành một trungtâm Phật giáo của huyện Cần Đước Hiện tại trong số 15 vị chủ trì của cácchùa trong huyện Cần Đước đã có 9 vị từng thọ giới và tu học ở Chùa PhướcLâm Chùa Phước Lâm, tính từ vị sáng lập là Bùi Văn Minh đến nay đã cótruyền thừa được 7 đời, vị trụ trì hiện nay là thiền sư Thích Huệ Thông
Trang 6Kế thừa truyền thống yêu nước của Phật giáo Việt Nam, chư vị trụ trìChùa Phước Lâm đã phát huy tinh thần “nhập thế” với chủ trương “đạo pháp
và dân tộc” Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ, các vị trụ trì đã chở che, đùm bọc lực lượng cách mạng ở Cần Đước.Trong thời kỳ chống Mỹ, Chùa Phước Lâm là cơ sở cách mạng, là nơi lui tớihoạt động của một số cán bộ lãnh đạo địa phương Chính vì thế mà địchthường bắn phá khu vực chùa mà dấu tích của nó hiện tại chúng ta vẫn cònthấy rõ: nóc Chánh điện bay mất, hai bên đông lang, tây lang bị nổ nát
Nhìn chung, trên dưới 300 năm vùng đất Cần Đước được người Việtkhai phá thì trong ngần ấy năm đạo Phật đại thừa được xây dựng và khôngngừng phát triển Trong buổi đầu, đạo Phật là niềm an ủi tinh thần giúp cholưu dân vượt qua những khó khăn trở ngại khi nơi đây còn hoang vu, bệnhtật, thú dữ hoành hành Đạo Phật là một trong những nhân tố liên kết mọingười lại với nhau, với một đức tín, một niềm đồng cảm sâu sắc Tính cởi
mở, không ràng buộc khắc khe của Phật giáo đã thích hợp và tác động đếntinh thần phóng khoáng của người dân Cần Đước Mối liên hệ giữa Phậtgiáo và lịch sử khai phá Cần Đước là hết sức gắn bó Sự phát triển của đạoPhật qua các tín đồ và hệ thống chùa chiền, đặc biệt là Chùa Phước Lâm ítnhiều là chứng tích của công cuộc khai phá, xây dựng đời sống vật chất, tinhthần của người dân Cần Đước trong buổi đấu khẩn hoang lập ấp
từ xưa, mọi người vẫn ra vào Chùa Phước Lâm theo cổng phía Nam đằngsau tổ đường của chùa
Nhìn trên tổng thể, nếu còn nguyên như thuở ban đầu, Chùa Phước Lâm
có hình chữ xuyên, gồm Chánh điện – tổ đường và Đông lang, Tây lang Do sựtàn phá của chiến tranh, Tây lang đã bị sụp đổ hoàn toàn, một phần của Đônglang còn lại được dùng làm nhà trù của chùa Vì thế, kiến trúc chính của ChùaPhước Lâm hiện chỉ còn 2 lớp nhà là Chánh điện và tổ đường Chùa được xâydựng bằng gỗ, tường gạch, mái lợp ngói đại tiểu và ngói móc Nền chùa cao0,5m rất vững chắc vì được xây dựng bằng đá xanh, bên trong lát gạch tàu hìnhlục giác kết dính bằng vữa tam hợp
Trang 7Chùa Phước Lâm có 8 cửa chính, 6 cửa sổ, trong đó có 6 cửa chínhđược dùng làm lối ra vào.
Chùa Phước Lâm vốn là tư gia của ông Bùi Văn Minh được “cải gia
vi tự”, Chánh điện hiện nay tuy được xây dựng sau đó 10 năm nhưng vẫntuân theo lối kiến trúc nhà ở cổ truyền Việt Nam, nên nhìn chung ChùaPhước Lâm là một tổng thể khá hài hòa Cả Chánh điện lẫn tổ đường củaChùa Phước Lâm đều kết cấu theo kiểu “xuyên trính, cột kê” có hai mái vàhai chái hai bên Theo kiểu này, khung sườn chùa không sử dụng hàng cái ởgiữa, không gian giữa chùa được nới rộng hơn nhờ hai bên hàng cột cáiđược dời qua hai bên (còn được gọi là cột hàng nhất – tiền - hậu) Hai hàngcột cái này gồm 4 cốt tạo dáng vuông trên nóc nên còn được gọi là kiểu tứtượng Kết cấu này rất quen thuộc đối với những đình chùa cổ ở Nam Bộ Ởtừng cặp cột cái của chùa được nối liền với nhau từng đôi theo chiều ngangbởi một thanh gỗ xuyên ngang được gọi là cây trính Cũng như những ngôichùa cổ khác ở đồng bằng sông Cửu Long, cây trính của Chùa Phước Lâm
có dạng thẳng, không uốn cong và chạy chỉ như kiểu nhà trính ở Trung bộ.Mỗi cây trính đều đỡ một cây trụ ngắn ở giữa được gọi là cây trổng Đầu câytrổng này có gắn một bộ phận gỗ hình tam giác gọi là cánh dơi có nhiệm vụchống đỡ cho bộ vì kèo và đòn dông ở nóc nhà
Chùa Phước Lâm có 40 cột tròn bằng gỗ và 32 cột gạch đỡ lấy bộ vìkèo và mái tạo thành bộ khung sườn cứng cáp, lòng nhà rộng rãi Đây cũngchính là ưu điểm của kiểu nhà xuyên trính Tường chùa được xây dựng bằnggạch và vữa tam hợp dày 0,2m, ở mỗi đầu cột gạch và phía trên các cửa sổ,cửa cái đều có đắp nổi hoa văn trang trí theo kiểu Pháp Riêng phần tườnggạch phía Nam tổ nhìn ra cổng sau (vốn là mặt tiền nhà ông Bùi Văn Minh)được đắp nổi hoa văn dây nho, sóng nước, chữ thọ và những đường chỉ songsong có sự kết hợp giữa mỹ thuật Tây phương và cổ truyền
Cổng tam quan Chùa Phước Lâm có lối kiến trúc trang nhã, đơn sơnhưng đẹp và cổ kính, cổng được xây dựng bằng gạch và vữa tam hợp, trênlợp ngói âm dương, cao 3,8m Hai bên cổng có đặt hai con sư tử bằng ximăng trông rất uy nghi Lối ra vào cổng được xây cuốn phía trên có đắp nổihoa văn Phía trên cổng có đắp nổi 3 chữ hán “Phước Lâm Tự” và 3 cặp câuđối , trong đó có 2 câu:
“Phước hải hỷ phùng chư phật giáng
Lâm sơ hạnh ngộ chúng tăng lâm”
Tạm dịch:
“Biển phước vui mừng chư phật đến
Núi rừng may gặp chúng tăng lâm”
Bước vào cổng, theo con đường xi măng dọc theo chùa lên Chánhđiện, khách thập phương sẽ thấy một hồ sen nho nhỏ, nở đầy hoa đỏ thắm,
Trang 8mùi hương sen dìu dịu thoang thoảng xa đưa Bên cạnh hồ sen, ngay phíatrước Chánh điện là pho tượng Quan âm bồ tát tay cầm ngọc tịnh bình vàthùy dương liễu đang trong tư thế rưới nước cam lồ cứu độ chúng sanh.
Ngay sau tượng Quan âm là Chánh điện Chùa Phước Lâm Nơi đâycòn giữ được nét cổ xưa qua hệ thống hoành phi, câu đối và tượng thờ Bànthờ phật giữa Chánh điện được tôn trí thành 4 lớp từ trên xuống gồm: tượngThích ca, Phật đản sinh, Anan, Ca diếp, Thế chí, Quan âm, Ngọc hoàng,Nam tào, Bắc đẩu và dưới là bộ xám bài gồm tượng Thích ca và 4 vị bồ tátdạng thượng kỳ thú Đây là bộ tượng thể hiện sự sáng tạo, kết hợp hai bộtượng Di đà Tam tôn và hoa nghiêm tam thánh Ở đây tinh thần nhập thế củaPhật giáo thể hiện rất rõ qua hình tượng Phật và Bồ tát đang hoằng hóathuyết pháp độ sinh Phía trên bàn thờ chính có treo hoành phi “Đại hùngbửu điện, hai bên bàn thờ có 2 cặp câu đối như sau:
“ Đại hùng điện thượng diễn tam thừa, chúc quốc vương NghiêuThiên Thuấn nhựt
Vạn pháp đường trung tuyên chư phẩm, nguyện thí chủ thọ hải phướcsơn”
Giữa hai cột cái phía ngoài ở điện đại hùng (Chánh điện) có trang trí 1
bộ bao lam gỗ, chạm lộng đề tài ẩn vân Đây chính là tác phẩm của cánhnghệ nhân họ Đinh ở Cần Đước
Khánh thờ trên bàn phật cũng được trang trí bởi bộ bao lam chạm 18
vị La hán cỡi mây và những ô hộc có chạm hoa văn đề tài tứ linh
Hai bên Chánh điện có bàn thờ Phật có cùng một kiểu bài trí tượngphật bao gồm Di lặc, Di đà, Long vương, Bồ đề Đạt ma, Già lam và các vị
La hán
Ngoài ba bàn thờ chính trên, ở Chánh điện có bàn thờ hộ pháp và bànthờ Địa tạng bồ tát Chánh điện có đặt chuông và trồng, quả chuông cao 1m,trên thân trạm trỗ hoa văn rồng, mây, mặt trời, được đúc năm nhâm ngọ(1881)
Chánh điện Chùa Phước Lâm được ngăn cách với nhà tổ bằng mộtbình phong bằng gạch trên có đắp nổi hoa văn trang trí Trên bình phong cóchừa 2 cửa để thông xuống phía sau Tổ đường ở phía sau Chánh điện có bốtrí 3 bàn thờ Bàn giữa thờ tổ khai sơn và các vị trụ trì đã quá vãng, hai bànthờ hai bên thờ Đạt ma và giám trai Tiếp đến là gian thờ họ Bùi Bàn giữa
có thờ di ảnh ông Bùi Văn Minh, hai bàn bên thờ các bậc trưởng lão của họ
Trang 9Bùi, kế đó là một bàn dài lớn với hai băng ghế bằng gỗ hai bên dùng cho các
vị hòa Thượng tụng niệm, ngồi giàn khi có lễ lớn Hai bên bàn này có bố trí
Về đề tài, tượng ở Chùa Phước Lâm cũng giống như những tượng thờtrong các chùa khác ở Nam Bộ với loại hình: Tam thế, Thích ca, Bồ tát, Lahán, Ngọc hoàng, Thập điện, Thị giả, Di lặc, Địa tạng, Hộ pháp, Tiêu điện…nhưng nét đặc trưng của hệ thống tượng này là sự tròn trịa, viên mãn mộtđặc điểm của tượng thờ cuối thế kỷ 19 Nếu như những tượng thời kỳ trước
đó có vẻ khắc khổ, thô sơ mang đậm dấu ấn của thời kỳ khẩn hoang thìnhững tượng này đã phần nào cho thấy sự ổn định và phát triển của xã hội cótích lũy Một đặc trưng nữa của hệ thống tượng Chùa Phước Lâm là đa số nóđều do cánh nghệ nhân chạm gỗ ở Cần Đước làm ra Một loại sản phẩmthuần túy địa phương Ở một số tượng nghệ nhân đã đạt trình độ nghệ thuậtcao trong việc tả thực, biểu lộ tâm lý nhân vật Tiêu biểu là những tượng: Dilặc và Lục tặc, bộ tượng Sám bài, tượng Tiêu diện đại sĩ, tượng Địa tạng…đặc biệt nhất là tượng “Lo đời” và tượng Bồ tát Di lặc ở bàn thờ tại nhà tổ.Hai tượng này tiêu biểu cho nghệ thuật chạm lộng 2 mặt của nghệ nhân CầnĐước Riêng tượng Bồ tát mình mặt cà sa, tay cầm phất trần, ngồi trên mìnhlong mã bằng gỗ và tượng có phong cách lạ và độc đáo nhất Chùa PhướcLâm
Những bàn thờ bao lam, long vị ở chùa đều những tác phẩm nghệthuật độc đáo Bàn thờ tổ có dạng tủ thờ bằng gỗ quí, mặt chính của tủ thờđược chia làm nhiều ô hộc có cẩn ốc xà cừ với đề tài tử hữu, đào, phật thủ,cuốn thư và dơi Các mô típ trang trí này thể hiện mong ước của con người
có cuộc sống thảnh thơi, nhàn hạ (tứ hữu), hạnh phúc (dơi), tài lộc (phậtthủ), trường thọ (đào) Ba bàn thờ ở nhà tổ đều có chạm lọng ở ban mặt đềtài mai điểu, song tiền, cuốn thư, đào dơi, nho sóc Qua đó thấy rằng nghệthuật Tây phương đã được du nhập vào ta với sự hiện diện của đề tài “nhosóc” bên cạnh đề tài truyền thống
Một điểm đáng chú ý ở Chùa Phước Lâm là sự phong phú của hệthống hoành phi và câu đối chữ Hán Hai mươi cặp liễn đối này đều đượcchạm thẳng vào hàng cột với hoa văn trang trí xung quanh và sơn son hoặcsơn đen thếp vàng Câu đối của Chùa Phước Lâm thường theo lối quán thủ(hai chữ đầu ghép lại thành tên chùa) với nội dung chứa đựng triết lý Phậtgiáo sâu sắc
Trang 10Ví dụ:
“ Phước hữu bạch liên di đà Phật
Lâm trung tử trúc quán thế âm”
Tạm dịch:
“ May mắn có Phật Di đà trên sen trắng
Trong rừng trúc biếc có Quan âm”
“ Bát nhã hoa khai vạn pháp tức tâm tức phật
Bồ đề quả tái nhất chân phi sắc phi không”
Tạm dịch:
“ Bát nhã nở hoa muôn pháp tức tâm tức phật
Bồ đề tựu quả nhất chân không sắc không không”
Nội dung của các câu đối ở Chùa Phước Lâm đa số gần với câu đối ởChùa Giác Lâm (TP HCM) Một số bao lam, hoành phi, liễn đối ở ChùaGiác Lâm cũng do Phật tử và nghệ nhân Cần Đước cúng dường Qua đóchứng tỏ giữa hai chùa trên ngoài mối quan hệ về hệ phái còn có nhiều mốitương quan mật thiết khác Hoành phi ở Chùa Phước Lâm cũng có nội dung
ca ngợi Phật pháp như “ Tổ ấn trùng quang”, “ Đại hùng bửu điện”, “ Bùi thị
từ đường”, “ chánh pháp nhãn tạng”, “ Tông phong vũ chấn”, “ Huệ nhựt ưthiên”, “ Pháp luân thường chuyển” Trên các hoành phi cũng đều trạm trổsơn và sơn son thếp vàng rất tinh vi Đặc biệt nhất là hoành phi cũng đềuchạm trổ sơn và sơn son thếp vàng rất tinh vi Đặc biệt nhất là hoành phipháp luân thường chuyển ở nhà tổ Các nghệ nhân chạm gỗ đã phô diễn tàinăng qua nghệ thuật chạm lộng tinh tế, sắc nét Toàn bộ bức hoành phi códạng cuốn thư, chủ đề cúc trĩ, dơi và hồi văn Hai đầu cuốn thư là ½ chữ thọ,
4 chữ pháp luân thường chuyển được bố trí trên cuốn thư tạo cho bức hoành
có đường nét hết sức mềm mại, tinh tế
Bên trái Chùa Phước Lâm hiện còn 4 ngôi mộ tháp trong đó có thápcủa tổ khai sơn Hồng Hiếu và một số mộ của các vị trong họ Bùi Nhữngngôi tháp này đều được dựng theo lối xưa góp phần làm tăng thêm vẻ cổkính cho chùa
Trang 11Nằm giữa đồng lúa phì nhiêu, Chùa Phước Lâm là danh lam và là mộtnơi đào tạo tăng tài cho Cần Đước Đa số các vị trụ trì ở các chùa tronghuyện đều đã qua tu học ở chùa này Ngoài ra Chùa Phước Lâm còn biểuhiện cho một tinh thần sùng đạo của người dân địa phương Trong quyển “Những ngôi chùa ở Nam bộ”, giáo sư Huỳnh Lứa (Viện KHXH tạiTP.HCM) có nhận xét về Chùa Phước Lâm tiêu biểu cho hình ảnh của ngôichùa cổ ở Nam bộ, nhưng tiếc rằng ngôi chùa già lam thể hiện một mảngvăn hóa Phật giáo Nam bộ này đang bị hư hại theo sự tàn phá nhanh chóngcủa thời gian Thật vậy, tuy không thể so với những ngôi chùa đồ sộ nguynga ở trong Nam, ngoài Bắc nhưng những giá trị về văn hóa của ChùaPhước Lâm thật xứng đáng để cho chúng ta trân trọng, gìn giữ.
VI Các hiện vật trong di tích:
VII Giá trị của di tích:
Là một kiến trúc có niên đại thế kỷ 19, qui mô tương đối lớn, di tíchChùa Phước Lâm có giá trị cao về kiến trúc và nghệ thuật chạm khắc gỗ
Về kiến trúc đây là kiểu thức xuyên trính, tạo dáng tứ tượng ở giữa,một điển hình cho kiểu kiến trúc nhà ở và đình chùa ở Nam bộ vào thế kỷ
19 và đầu thế kỷ 20
Về nghệ thuật điêu khắc trong kiến trúc, những tác phẩm chạm gỗ,tượng thờ ở Chùa Phước Lâm đã thể hiện trình độ bậc cao của các nghệnhân từ bố cục, đề tài và đặc biệt hơn hết, đây chính là tác phẩm của nghệnhân họ Đinh – những người con của quê hương Cần Đước Về kỹ thuậtchạm khắc, những tác phẩm ở Chùa Phước Lâm là sự tập hợp phong phú củacác kỹ thuật chạm lộng, chạm nổi và với thủ pháp hết sức điêu luyện Tiêubiểu cho những tác phẩm này là bức hoành “ Pháp luân thường chuyển” bộSám bài, tượng bồ tát thượng kỵ thú, tượng Địa tạng
Trang 12Chùa Phước Lâm còn là nơi được những người chiến sĩ cách mạngchọn làm điểm hoạt động trong hai thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ Các nhà sư ở chùa đã hết sức ủng hộ, che chở và giúp đỡcho cách mạng Điều này thể hiện tinh thần nhập thế của Phật giáo ViệtNam, ở đây đạo pháp và dân tộc không thể tách rời
Chùa Phước Lâm còn là nơi lưu giữ những tư liệu chữ Hán hết sứcphong phú, đa dạng qua các cặp liễn đối và hoành phi Nội dung của những
tư liệu này thể hiện sự giác ngộ và uyên thâm về Phật pháp của những nhà
sư lúc bấy giờ Những tư liệu này xứng đáng là đối tượng nghiên cứu củanhững nhà nghiên cứu về văn hóa Phật giáo Nam Bộ
Chùa Phước Lâm còn tiêu biểu cho một dạng chùa đặc biệt ở Nam
Bộ, đó là dạng “ Cải gia vi tự” của những người hiếm muộn và giàu có vì sựsùng đạo mà hiến tài sản của mình cho cửa Phật
Cuối cùng, như nhận xét của Giáo sư Huỳnh Lứa, Chùa Phước Lâm làtiêu biểu cho hình ảnh của một ngôi chùa cổ Nam Bộ, thể hiện một mảngvăn hóa Phật giáo Nam Bộ xứng đáng được chúng ta trân trọng và gìn giữ
VIII Tình trạng bảo quản di tích:
Chùa Phước Lâm được xây dựng với chất liệu kiên cố như gạch, đá và
gỗ quí nên trãi qua hơn một trăm năm vẫn còn khá nguyên vẹn Tuy nhiên,qua sự tàn phá của 30 năm chiến tranh, Đông lang và Tây lang của chùa đã
bị sụp đổ hoàn toàn Một phần của Đông lang được thu nhỏ làm nhà trù củachùa hiện nay Trước đây một quả bom đã rơi nhằm chánh điện làm sụp đổmột phần mái ngói và đến nay mái ngói vẫn chưa được trùng tu và phải thaybằng Fibro xi măng Một số cột và kèo của chùa cũng đã bị mục nát và được
sư trụ trì thay thế bằng gỗ sao và xi măng Nói chung nhà chùa có ý thức gìngiữ chống xuống cấp di tích nhưng chưa đảm bảo được tính nguyên gốc của
di tích trong việc trùng tu
IX Các phương án bảo vệ và sử dụng di tích:
Để góp phần tôn tạo và nâng cao giá trị của di tích Chùa Phước Lâm,phục vụ nghiên cứu và tham quan du lịch chúng tôi đề nghị các phương ánsau:
- Xử lý kịp thời những yếu tố đe dọa đến sự nguyên vẹn của di tíchnhư: mối mọt, những chỗ thấm dột trên mái
- Phục nguyên các yếu tố gốc của di tích như lợp lại ngói ở Chánhđiện, thay thế các vì kèo đã mục bằng gỗ giống như xưa, nếu có điều kiệnnên xây dựng lại Đông lang và Tây lang để đảm bảo cho sự hoàn chỉnh củakiến trúc chùa
- Quy hoạch lại hệ thống cây cảnh trong khu vườn chùa để tạo cảnhquan cho di tích
Trang 13- Tuyên truyền, giới thiệu di tích trên các phương tiện truyền thôngđại chúng như báo, đài phát thanh truyền hình, phối hợp với ngành dui lịch
tổ chức tour du lịch Chùa Phước Lâm – Nhà Trăm Cột – Đồn Rạch Cát
Trang 14LÝ LỊCH DI TÍCH Đồn Rạch Cát
²
²
I Tên gọi của di tích:
Đồn Rạch Cát là một căn cứ quân sự của thực dân Pháp, gọi là ĐồnRạch Cát vì nó được xây dựng bên cạnh con sông Rạch Cát Ngoài ra nhândân vẫn thường gọi là Đồn Rạch Cát
II Địa điểm phân bố - đường đi đến di tích:
Di tích Đồn Rạch cát trước kia thuộc ấp Long Ninh, xã Long HựuĐông, quận Cần Đước, tỉnh Chợ Lớn Hiện nay là xã Long Hựu Đông,huyện Cần Đước, tỉnh Long An, Đồn nằm cạnh con sông Rạch Cát cách thịtrấn Cần Đước 14km về phía Đông Du khách có thể đi đến di tích bằngnhững con đường như sau:
Đường bộ: từ thị xã Tân An đi theo quốc lộ I ngược lên hướng Bắc20km đến ngã ba Gò Đen, rẽ phải đi theo hương lộ 16 khoảng 8km đến ngã
tư Xoài Đôi rẽ phải theo hương lộ 18 khoảng 6km đến ngã ba Tân Lân đitiếp 3km về phía bên phải theo liên tỉnh lộ 50 đến thị trấn Cần Đước Từ đây
đi theo hương lộ 23 khoảng 7km đến kinh nước mặn qua đò đi thêm 7kmnữa là đến Đồn Rạch Cát
Đường thủy: du khách có thể đi đến di tích theo con sông Rạch Cát,Vàm cỏ, Nhà bè
III Sự kiện nhân vật lịch sử liên và thuộc tính di tích:
Đồn Rạch Cát là một pháo đài quân sự do thực dân Pháp xây dựng vớitầm cở lớn nhất nhì trên đất nước Việt Nam Sức đề kháng của Đồn có thểchống lại tất cả các loại đạn pháo hạng nặng và được trang bị vũ khí trongpháo lớn với mục đích phục vụ cho ý đồ xâm lược của chúng, là xâm lượclâu dài đất nước ta, chống lại các đế quốc khác muốn tranh giành Việt Nam,bảo vệ thuộc địa, bảo vệ cơ quan đầu não của chúng ở Sài Gòn
Tại đây chúng có thể kiểm soát được tuyến đường sông từ Miền tâylên Sài Gòn, kiểm soát của 3 con sông lớn: Rạch Cát Vàm cò, Nhà bè khốngchế khu vực Cần Giờ - Vũng Tàu và khống chế con đường thông thươnggiữa biển với đất liền (Vàm Tuần Soài rạp)
Trang 15Cho đến thế kỷ 20 vùng đất này còn là một khu vực hoang vu cây cốirậm rạp Năm 1902 thực dân Pháp đến đây nghiên cứu và nhận thấy đây làmột vị trí chiến lược quan trọng nên đã quyết định xây dựng một pháo đàivới ý đồ là lập tại đây một căn cứ quân sự trước mắt là phòng thủ Chúng bắtđầu khởi công xây dựng từ năm 1903 cho đến năm 1910 mới hoàn thành.Đầu tiên chúng cho tàu chở cát đá đến đổ thành từng đống nhưng trận bảonăm thìn (1904) đã cuốn đi rất nhiều, cho đến năm sau công việc xây dựngmới tiến hành được.
Về nhân công thì bọn thầu tư bản lớn ở Sài Gòn lãnh làm với sự chỉđạo trực tiếp của bọn chuyên viên người Pháp Bên cạnh đó những công việcđào móng, đóng cừ nặng nhọc thì bắt dân địa phương và dân các vùng lâncận đến làm Tất cả các bộ phận quan trọng của hai khu vực bên trong vàbên ngoài đồn đều được xây dựng từ thời kỳ đầu tiên này
Năm 1930 trước nguy cơ Phát xít Nhật xâm lược Đông Dương, thựcdân Pháp cho quân về sửa sang lại Đồn Rạch Cát trang bị thêm súng pháoxây dựng thêm nhà ở, hồ chứa nước
Tháng 11 năm 1945 thực dân Pháp trở lại chiếm Đồn Rạch Cát chúngcho sửa sang lại nhà sàn bên ngoài đồn, cất thêm doanh trại để ở Từ đó vềsau Đồn Rạch cát không được xây dựng thêm bộ phận quan trọng nào nữa
kể cả thời kỳ chiến tranh chống đế quốc Mỹ Khi Mỹ ngụy về chiếm đóng,Đồn Rạch Cát cũng chỉ được trang bị thêm vũ khí mà thôi
Năm 1910 Đồn Rạch Cát được xây dựng hoàn thành, thực dân Phápcho quân về đóng ở đây, cầu tàu là nơi bọn Pháp dùng làm bến đổ của cáctàu quân sự cung cấp vũ khí đạn dược cũng như đến đây mang vũ khí đi tiếp
tế cho các nơi khác Ý đồ của chúng là lập ở đây một căn cứ quân sự vì đây
là một vị trí thuận tiện cho việc kiểm soát giao thông đường sông Đồng thờicũng là một hệ thống liên quan đến Vũng Tàu, tạo thế vững chắc trong chiếntranh
Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất kết thúc, thực tế ở đây không có gìxãy ra như suy đoán của bọn Pháp Song một nơi khác cần sự tiếp tế nênchúng đã chở đi 4 khẩu trọng pháo, chỉ để lại đồn những khẩu súng nhỏ.Lính Pháp phải rút đi chi viện cho chiến trường Chúng chỉ để lại đây mộtđội quân ô hợp gồm lính người Việt và lính Miên (Campuchia) dưới sự chỉhuy của tên đội người Pháp Ngoài ra còn có một số người chuyên phục vụlao chùi súng và máy móc, trong các lô cốt Đội quân này có nhiệm vụ giữđồn đồng thời liên lạc thường xuyên với Vũng Tàu hàng ngày vào lúc 17 giờbằng hệ thống điện đài
Chiến tranh Thế giới lần thứ hai bùng nổ, trước nguy cơ phát xít Nhậtxâm lược Đông Dương Thực dân pháp cho quân về sửa sang lại Đồn RạchCát, chúng xây thêm hai mâm pháo ở phía hai bên đồn để đặt hai khẩu pháo
Trang 16M 138, đặt thêm 7 khẩu pháo súng 75 ly, xây thêm một dãy hồ nước gắn vớimặt tường bên trong chúng còn cất thêm nhà ở bên ngoài đồn.
Để củng cố hệ thống giao thông và thông tin liên lạc Pháp cho 400lính công binh chia làm hai toán đóng tại Đình Long Hựu và đóng tại đồnđắp lại hương lộ 23 từ Chợ Kinh về đồn (trước khi xây dựng đồn Pháp đắpcon đường này nhưng chưa rải đá khi chúng bỏ đi thì nhân dân ta phá hỏngrất nhiều) Lúc này chúng rải đá đỏ lên mặt đường, trồng nhiều trụ điện, bắtđường dây điện thoại để liên lạc với cấp trên ở Sài Gòn
Năm 1940 thực dân Pháp cho tàu chở cây về làm cứ ở bải đất canhđồn bên mé sông Rạch Cát với ý đồ ngăn sông để kiểm soát tàu bè qua lại.Ban đêm thì kéo dây cáp ngăn lại công việc đang tiến hành thì ở nước Pháp
bị bọn phát xít Đức xâm lược Ở Đông Dương thì nhật đánh chiếm ViệtNam Trước tình hình đó bọn giặc ở Đồn Rạch Cát gấp rút củng cố lại chobinh lính túc trực sẵn sàng chiến đấu 100% Chúng còn cho lính đi đốn câyngăn lộ để cản trở bước tiến của đối phương
Ngày 9/3/1945 Nhật làm đảo chính, thực dân Pháp đầu hàng ở SàiGòn nhưng ở Đồn Rạch Cát bọn lính vẫn không hay biết gì, chúng bị mấtliên lạc với Sài Gòn, mãi đến 3 ngày sau một tên Đại úy Nhật mang danhTrưởng xưởng đóng tàu (sau khi chiếm Long Hựu thực dân Pháp có mở mộtxưởng đóng thuyền ở Chợ kinh), cho mời chỉ huy Đồn Rạch Cát đến bàncông việc Hai tên chỉ huy Pháp đến gặp thì tên chỉ huy Nhật cho biết tin vềcuộc đải chính và buộc bọn Pháp phải đầu hàng và phải giao đồn cho chúng.Sau đó Nhật cho lính đến chiếm đồn, hạ cờ Pháp xuống dương cờ Nhật lên,bọn Pháp bị đưa xuống tàu chở đi Khoảng một tuần sau bọn Nhật lại chotàu đến chở đi 7 khẩu súng Pháp 75 ly của đồn, một số đạn dược, súng ống
và cho 5 tên ở lại giữ đồn
Tháng 8 năm 1945 Phát xít Nhật đầu hàng đồng minh bọn Nhật ở đây
bí mật rút đi bỏ đồn lại Nhân dân xã Long Hựu đáp lời kêu gọi của Mặt trậnViệt minh lập đội Thanh niên Tiền phong dùng gậy gộc, giáo mác nổi lêngiành chính quyền kéo đến chiếm Đồn Rạch Cát, dở doanh trại của lính vàmột dãy nhà sàn trước đem về lợp Hội quán Đồng thời cắt lực lượng canhgiữ đồn, canh gát tàu thuyền qua lại, sửa chữa pháo M 138 và chở đi một sốsúng đạn đem chi viện cho các nơi khác Trong thời gian này ra cử hai tungđội chính qui đến trấn giữ đồn (về sau lực lượng này bị quân Anh – Phápđàn áp mạnh nên phải rút đi)
Tháng 11 năm 1945 quân Anh hỗ trợ cho thực dân Pháp tái chiếm lạiđồn Chúng cất thêm doanh trại cho vợ con bọn lính sửa lại khu nhà sàn để
ở Năm 1947 Pháp cho tàu chở đi toàn bộ máy móc trong hai ụ súng, pháluôn đường ray xe gòong từ cầu tàu Thực dân Pháp sử dụng bọn mật thámtay sai chỉ điểm cho lính truy lùng bắt những người tham gia cách mạng của
Trang 17Long Hựu những xã lân cận như Tân Tập, Đông Thạnh (Cần Giuộc) vànhững nơi khác đem về trong nhà máy phát điện (toàn bộ máy móc bêntrong của nhà máy chúng đã chở đi) và tra tấn đánh đập rất dã man Cònnhững người khác thì chúng bắt làm lao dịch xung quanh đồn.
Sang năm 1948 phong trào diệt ác ôn, cảnh cáo, giải tán tề xã pháttriển mạnh nên bọn Pháp càng củng cố gắt gao Ban ngày chúng đi càn quétbắn phá bắt những người tình nghi, bắt luôn cả những dân thường về đồngiam lại Ban đêm thị cho bắn pháo xung quanh để uy hiếp những người bịbắt về đồn phải chịu những cực hình tra tấn rất dã man của thằng chỉ huyngười Pháp tên là Sale (nhân dân còn gọi là Ách cò ngéo vì nó thường sửdụng cây gậy có ngéo để tra tấn tù nhân) mỗi lần tra tấn hắn dùng móc củađầu gậy ngoắc cổ tù nhân làm cho người ta té xuống đất rồi giậm giày lênngực, lên bụng cho hộc máu ra Hắn cho lính đứng 4 góc để đánh người (lốiđánh tứ trụ) hoặc treo tù nhân lên cây trắc mộc quanh đồn (chúng gọi là tàubay Việt Nam) tra điện hoặc phơi nắng tù nhân ngoài cầu tàu Khi tra tấnkhông có kết quả hoặc đã khai thác hết tư liệu chúng đem tù nhân ra bắn tạicầu tàu rồi vứt xác xuống sông cho trôi ra biển nhiều người mà đa số là nôngdân ở vùng lân cận, xà lim trong đồn không đủ chỗ để nhốt chúng đưa lênnhốt ở tầng trên cùng của đài quan sát có lính gát ở bên dưới Nhiều ngườimuốn trốn về bằng cách nhảy xuống đất liền bị chúng đem ra cầu tàu bắn bỏ.Nhiều hôm chúng bắn hàng loạt từ 5 – 7 người cùng một lúc Tính bình quânmỗi tuần chúng giết hại nhân dân cán bộ ta khoảng 5 người Nơi này đượccoi là điểm giết người tập trung của thực dân Pháp Cũng tại Đồn Rạch Cátnày củng cố những gương anh hùng bất khuất của các chiến sĩ cách mạngsẵn sàng hy sinh để bảo vệ đồng chí, bảo vệ cơ sở cách mạng Nhiều đồngchí đã lấy máu mình viết lên những khẩu hiệu ở nhà lao, khắc lên tường vôinhững dòng chữ kỷ niệm bằng móng tay, mảnh sành, mảnh chai, những dấuvết đó vẫn còn tồn tại cho đến nay Ngoài việc bắt bớ giam cầm cán bộ cáchmạng bọn giặc còn bắt dân đến đây làm lao dịch, làm xâu cho chúng, mỗimột tháng từ 15 – 20 người mới được cấp giấy gọi là giấy trình diện Nhữngtên ác ôn trong thời kỳ này là: Ách cò ngéo, Bảy Thạch, Tư Niên, Ba Nôi,Cao Bội
Sau thất bại của trận Điện Biên Phủ (1954) quân Pháp rút khỏi ViệtNam Đế quốc Mỹ thay chân Pháp nhảy vào Việt Nam can thiệp và dựng lênchính quyền tay sai Ngô Đình Diệm năm 1956 Tiểu đoàn 62 của ngụy vềđóng tại đồn với trang bị 12 khẩu pháo 75mm bắn ra xung quanh tới cả vùngRừng Sát Từ nơi này địch tỏa ra càn quét quân đội Bình Xuyên, bắt về trên
200 người nhốt trong xà lim đồn nay còn gọi là khám Bình Xuyên Năm
1956 tiểu đoàn 62 rút đi giao đồn lại cho một tiểu đội lính quân Cần Đướctrấn giữ do tên Tư Khuê chỉ huy Năm 1958 tiểu đội này chuyển đi nơi khác
Trang 18chính quyền ngụy quận Cần Đước đưa về 4 người lính và tên Hai Lái làmtrưởng đồn Ngay khi đội Lái về, ta đã giác ngô vận động ông ta khai thácsắt, chì trong đồn giao cho cách mạng chế tạo vũ khí Ngoài ra đội Lái còncho đi bán ở Sài Gòn.
Từ năm 1958 – 1960 đội Lái đã nhiều lần móc nối bán gang, sắt trongđồn Sau đó đội Lái bị phát hiện và bị sa thải Mặt trận Dân tộc Giải phóngMiền Nam ra đời đã vận động anh em binh lính theo cách mạng và đem sốgang, sắt còn lại đem nộp cách mạng để cung cấp cho các công trường chếtạo vũ khí của tỉnh đóng ở vùng Rừng Sát và Bình Hòa Tân Lân Cần Đước,còn số gang, sắt, chì khai thác được (chủ yếu là chì) ước tính khỏang 2.000tấn
Sau khi số lính nghĩa quân ở đây bỏ đi đồn bị bỏ hoang, nhân dân ởđây và cán bộ địa phương đã dùng các phương tiện nguyên liệu sẵn có đểchế tạo vũ khí ngay trong đồn và dùng nơi này làm đim hội họp cho đến năm
1962 Trong thời gian này vì biết Mỹ Diệm sẽ chiếm lại đồn ta đã giật sậphai đài quan sát phía ngoài đồn, phá luôn các khu nhà sàn còn lại nhằm gâycản trở cho giặc Năm 1962 bọn ngụy ở Long Hựu kết hợp với quân lựclượng của quận Cần Đước đánh chiếm đồn giết chết 9 cán bộ của ta và pháhoại cơ sở chế tạo vũ khí Sau đó chúng rút đi đồn lại bị bỏ hoang cho đếnnăm 1966 Trong thời gian đó ta dùng nơi này làm địa điểm hội họp và đưanhân dân vào đây lấy số sắt, gang trong đồn tiếp tế cho công trường chế tạo
vũ khí
Năm 1967 lực lượng Mỹ sư đoàn 9 kết hợp với sư 25 ngụy đánhchiếm xã Long Hựu và biến Đồn Rạch Cát thành căn cứ quân sự của chúng.Bọn địch cho trang bị thêm vũ khí đặt pháo 105 ly, đài rada, rào kẽm giaquanh đồn Cho xe ủi đất san bằng phẳng xung quanh, đặt nơi đây một sânbay dã chiến, ban ngày chở quân đi càn quét bố ráp ở những vùng lân cận,đêm về đóng tại đồn, chúng còn dùng bao chứa cát phòng thủ xung quanhđồn Khoảng 6 tháng sau phong trào đấu tranh của nhân dân tạm thời lắngxuống bọn Mỹ rút đi chỉ còn lại sư đoàn 25 ngụy đóng ở đây
Năm 1968, khi sư đoàn 25 tiến công bình định các xã của huyện CầnGiuộc như Tân Tập, Đông Thạnh, Phước Vĩnh Đông, Phước Vĩnh Tây…
Mỹ cho lực lượng tàu chiến đậu dọc sông cạnh đồn, bắn pháo từ trên tàu đểyểm trợ cho bọn ngụy, cũng trong thời gian này vì cầu tàu đã hỏng địch chocẩu một đoàn cầu sang bên kia bờ sông
Sư đoàn 25 ngụy bỏ đi giao đồn lại cho bọn nghĩa quân gần đồn trongkhoảng thời gian từ 1968 – 1975 bọn lính đập phá các hồ nước bên ngoài đểlàm nơi nhốt bò đào một hào bên trái đồn để nuôi cá Đến ngày 30/4/1975thì lực lượng này tan rã hoàn toàn Sau khi giải phóng lực lượng bộ đội tỉnhLong An về đóng tại đồn cho đến năm 1976 mới chuyển đi Năm 1978 lực
Trang 19lượng của Công an huyện dùng nơi đây để tổ chức học tập cho số ngụyquân, ngụy quyền Trong thời gian này có xây thêm hai bức tường ngăn lốivào hai ụ pháo không cho từ binh vượt ra ngoài Năm 1979 lực lượng Công
an huyện bàn giao đồn lại cho tiểu đoàn 503 của tỉnh tới năm 1980 đại độipháo 105mm của tỉnh Long An về đóng giữ tại đây và năm 1983 có thêmmột đơn vị bộ đội biên phòng đến ở Năm 1989 bội đội biên phòng rút đi chỉcòn đơn vị pháo 105mm đóng giữ cho đến nay Trong thời gian này hai bứctường xây ngăn lối vài hai ụ pháo bị đâp bỏ
Đồn Rạch Cát là một pháo đài quân sự được thực dân Pháp xây dựnglên để phục vụ cho mục địch chiến tranh xâm lược của chúng Với cấu trúcnày cho thấy Đồn Rạch Cát có sức đề kháng và phòng thủ rất tốt cũng nhưtấn công vào đối phương rất lợi hại
IV Loại di tích:
Đồn Rạch Cát là một di tích lịch sử
Đồn Rạch Cát còn là một di tích kiến trúc quân sự Nó không phải làmột chiến hào hay hầm cố thủ bình thường mà là một pháo đài kiên cố đượcxây dựng với một kỷ thuật rất cao để đảm bảo sự bền vững và để phát huytính năng tác động của đồn
V Khảo tả di tích:
Đồn Rạch cát nằm trên một doi đất cạnh con sông Rạch Cát phíaĐông giáp sông Soài Rạp, phía Tây giáp ấp Long Ninh, phía Nam giáp sôngVàm Cỏ và phía Bắc giáp sông Rạch Cát Trước đây đồn có diện tích là30.000m2 (bề ngang 100m, bề dọc 300m) Đồng đất xung quanh do phápquản lý la 22ha có cắm cột mốc dân còn gọi là đất Tây, theo qui định hiệnnay là Đồn Rạch Cát có diện tích là 100.893 m2 luôn cả đất xung quanh,riêng khu vực xung quanh tường bao bọc có diện tích là 11.889m2 ĐồnRạch Cát được xây dựng bao gồm hai khu vực
Khu vực xung quanh bên ngoài tường là khu vực bên trong từ tườngkhu vực bên ngoài chủ yếu là phía trước đồn, thực dân Pháp cho xây dựnglên một số bộ phận mà bây giờ hầu hết đã đỗ nát hư hỏng chỉ còn lại vết tích
Cách đồn hơn 200m về phía bắc là một cầu tàu xây bằng xi măng dài50m rộng 2,4m hai bên lan can Trên mặt cầu tàu từ bờ sông Rạch cát vàochúng xây một hồ nước tròn giống như cái giếng, có đường kính là 2,7m cao1m Bên cạnh là lò bánh mì (bây giờ chỉ còn lại nền gạch) Tiếp đến là một
hồ nước hình vuông có chiều cao 2,5m, các cạnh là 4,32m và 5,50m rồi đếnnhà máy phát điện có chiều cao là 4,5m , các cạnh là 7m và 7,8m Phía trongcùng của cụm kiến trúc này là một đài quan sát cao 20m có gắn đèn tín hiệucòn phía trước cổng đồn là một đài quan sát khác cao 25m có trang bị hệthống ống nhòm (viễn kính) quan sát với bán kính trên 10km Ở phía tâycách đồn hơn 100m là một hồ chứa nước hình vuông giống như hồ nước, ở
Trang 20phía bắc có chiều cao là 3m các cạnh là 4,55m và 4,65m Xung quanh đồnPháp cho nhân công đào hào lấy đất đắp cao lên rồi xây một miệng cống ởphía bắc để chắn nước từ bên ngoài vào khi cần vì nước ở trong hào dùng đểchạy máy Ngoài ra bọn Pháp còn cất hai dãy nhà sàn một ở phía bắc ngoài
bờ sông Rạch Cát, một ở gần hồ nước phía tây (bây giờ chỉ còn lại vết tích)vách tường mái lợp thiếc, sàn bằng gỗ để cho bọn chúng ở và làm việc
Bộ phận chính của đồn: cho đến nay chúng tôi chưa có đủ tài liệutrong tay nói về quá trình xây dựng của công trình này và mặc khác thựctrạng của Đồn Rạch cát không cho phép chúng tôi khảo sát được hết toàn bộ(các tầng hầm đã bị ngập nước) để miêu tả tỉ mĩ hơn về từng bộ phận củađồn Tuy vậy qua lời kể của nhân dân cũng như được chứng kiến những bộphận còn lại trên mặt đất thì đây quả là một công trình đồ sộ hết sức kiên cốhơn bất cứ một thành lũy nào ở thời kỳ này đã được Pháp xây dựng trên đấtnước Việt Nam
Ngoài cùng là một bức tường bê tông dài 70cm, cao 5m dài 84m, chạydọc bờ tường là hai hàng lỗ châu mai một hàng trên và một hàng dưới (hàngdưới sau này bị bịt kín để xây một dãy hồ nước), phía bên ngoài chân tường làmột hào giao thông Cổng chính (duy nhất) của đồn nằm ở phần trung tâm bờtường, cổng rộng 2,4m, hai cánh cổng bằng sắt dày 0,12cm, nóc cổng hìnhvòm bên trên có chữ “pháo đài Rạch cát 1910” bằng tiến pháp Phía bên ngoàicổng là một cái cầu bằng xi măng dài 17m, rộng 2,5m bắt qua các hào bênngoài tường Bên trong bờ tường về sau thực dân Pháp cho xây một dãy hồnước cao 2m gắn liền với tường vì thế hàng lỗ châu mai bên dưới bị bịt kín.Bên trong bờ tường bao gồm 2 cụm đối xứng nhau (qua cái cổng) ở phía bắc
và phía nam với hệ thống xây dựng và trang bị máy móc khác nhau
Đồn được cấu thành hai hệ thống một hệ thống chìm nằm dưới lòngđất và một hệ thống nổi bên trên, chúng cho xây dựng bằng bê tông từ dướilên và chia ra nhiều tầng Tính từ dưới đáy lên có 5 tầng, 3 tầng chìm và 2tầng nổi Trên nóc tầng cao nhất có đặt hai mâm pháo để chứa 4 khẩu trọngpháo (loại 605mm) đường kính của mâm pháo là 6m, phía trước của thànhbao bọc có hai lỗ để nòng pháo đưa ra ngoài hình bầu dục có cạnh cao 80cm,rộng 50cm Toàn bộ hệ thống ụ pháo này đều bằng sắt, riêng thành sắt dàykhoảng 10cm bên trên nóc có một mô sắt dày 10cm (hình dạng hình mô rùa)dùng để quan sát và chỉnh pháo Từ ụ sắt trên cùng này thông thương đượcvới tầng dưới bằng các cầu thang sắt ở tầng dưới của ụ pháo được chia rathành nhiều phòng hình cánh cung, ở tầng thứ tư ngay mặt đất có đường rayvào ụ pháo để xe gòong chở đạn và các thiết bị cho pháo, cũng ở tầng thứ tưbên cạnh mỗi ụ pháp là một nhà máy phát điện nhằm cho việc bắn pháo(pháo bắn bằng điện) và cung cấp điện cho các tầng hầm ở phía dưới Hai ụpháo này có cấu tạo xoay tròn được để có thể bắn về bất cứ hướng nào
Trang 21Khoảng giữa hai ụ pháo ở tầng mặt đất chúng xây dựng một vài phòng ở kếtcấu các phòng giống nhau, hai đầu cùng ở bên có hình tam giác Các phòng
ở giữa cao 2,5m có diện tích là… , bên trên tầng nhà có hai ống sắt thôngbên trên nóc đồn Hai đầu của dãy phòng ở này là các phòng dùng làm khochứa vũ khí, các phòng này được xây dựng theo độ cong cấu trúc của đồnnên chúng có khi là một tứ giác khi là một tam giác Ở phần kiến trúc nàybên trên có lát gạch tráng men màu nâu để chống thấm và để làm sàn chơigiải trí của bọn Pháp
Ngoài hai ụ pháo bằng sắt ra xung quanh đồn còn được trang bị nhiều
lô cốt để đặt súng máy Ở trên nóc phần giữa đối diện với cồng đồn địch choxây dựng một lô cốt bằng bê tông cao 130cm có nhiều lối đi gấp khúc đểtránh đạn và súng máy được bố trí ở nơi này Ở hai bên phía ngoài cùngPháp xây hai mâm pháo bằng bê tông đường kính 6m xung quanh có thànhbao bọc để đặt hai khẩu pháo M 138 nặng 5.500kg; khẩu bên phải có ký hiệu
M 138, R 1927, 5.500kg và khẩu bên trái M 138, 1924, R 1927N4, 5.500kg.Bên dưới hai mâm pháo này là các phòng làm nơi trú ẩn Các bộ phận kiếntrúc từ mặt đất lên được gắn liền với nhau tạo thành một bức tường vữngchắc để chống đở bảo vệ lấy các phần bên ngoài của đồn
Nhìn chung Đồn Rạch cát thực dân Pháp đã cho thiết kế xây dựngcách nơi đặt pháo, ụ chiến đồn rất kiên cố và theo đúng kỹ thuật quân sự làm
cơ sở chống lại và ẩn nấp rất tốt khi bị tấn công Tất cả các nóc đồn, bứctường đều được đổ bê tông cốt sắt dày từ 60 – 100cm có loại sắt dày 2 – 3cmđường kính với kỷ thuật xây dựng này đã tạo cho Đồn Rạch Cát chịu đượcđạn pháo lớn mà không bị hủy hoại
VI Các hiện vật trong di tích:
Hiện nay Đồn Rạch Cát còn hai khẩu pháo M 138
VII Giá trị lịch sử, khoa học nghệ thuật, văn hóa của di tích:
Đồn Rạch cát là một khu di tích vừa có giá trị lịch sử vừa có giá trị vềkiến trúc Nói về giá trị lịch sử nơi đây đã có biết bao nhiêu sự kiện diễn rasuốt từ đầu thế kỷ 20 đến nay Đó là những hành động tội ác của thực dânPháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đó là những gương hy sinh anh dũng của cácchiến sĩ cách mạng, là những nổi đau nhọc nhằn của những người dân phải
đổ sức lực xương máu của mình để phục vụ cho mưu đồ xâm lược của thựcdân, đế quốc Đồn Rạch Cát còn nói lên sức mạnh của sự xâm lược của một
đế quốc hùng mạnh với một dân tộc nhỏ bé vì vậy sự thất bại của chúngcàng thảm bại chua cai
Về giá trị nghệ thuật thì pháo đài Rạch Cát là một điển hình về kiếntrúc đồn lũy, đồn được xây dựng như một hệ thống liên hào cho phép sức chidiện hỗ trợ tối đa cho các khu vực trong đồn Phía trước đồn là bức tườngthành án ngữ cho phép địch có tầm quan sát xa rộng, đối phương khó tiếp
Trang 22cận thành ở cự ly 500m Đối với tầng trên của đồn là một trận địa chiến đấuliên hoàn được trang bị pháo và công sự thép triệt để cho việc sử dụng bởinhững kết cấu hoàn thiện Chính những lớp bê tông cốt thép dày và đượcxây dựng theo hình trượt đã làm cho các loại súng pháo bắn thẳng từ mặtsông vào đều vô hiệu hóa Dãy phòng ở trong Đồn Rạch Cát được xây dựngnhư những cái hầm nhiều ngõ ngách để đảm bảo an toàn cho sinh hoạt củacon người.
Toàn bộ cấu trúc của pháo đài Rạch Cát đã tạo được thế chủ độngtrong việc tấn công và rút lui khi xãy ra chiến sự Đây là một công trìnhđược xây dựng với một qui mô đồ sộ và hoàn hảo Với chất liệu và thiết kếxây dựng Đồn rạch cát đủ độ dùng thời gian đáng khâm phục, nhiều bộ phậntrong đồn đến nay vẫn còn bền vững thách thức trước sự tác động hủy hoạicủa thiên nhiên
VIII Tình trạng bảo quản di tích:
Tính từ năm xây dựng hoàn thành cho tới nay Đồn Rạch cát có niênđại gần một thế kỷ (82 năm) Trải qua một thời gian dài như thế lại ở ngaytrên đất nước chiến tranh xãy ra liên miên Đồn Rạch Cát cũng phải chịu sựthay đổi liên tục của con người và những tác động của họ vào nó Các đơn
vị, các tổ nhóm đến trấn giữ đồn lúc thì là ta, lúc thì là địch tùy theo quanđiểm của mỗi bên về căn cứ này phục vụ cho mục đích gì mà họ phá pháchhay là bảo vệ sửa sang cho nó: đối với bên ta thời kỳ chiến tranh cho đây là
cơ sở của kẻ địch xây dựng lên phục vụ cho mục đích chiến tranh cho việctiêu diệt đối phương (cách mạng) của chúng Vì vậy mỗi lần làm chủ căn cứnày ta đã tìm cách khai thác nguyên vật liệu (gang, sắt, chì, đồng) để chế tạo
vũ khí với phương châm lấy của địch để đánh lại địch cho nên nhiều bộ phậntrong đồn bị mất mát hư hỏng Nói chung đồn chưa được bảo quản về mặtkhoa học, tình trạng bỏ hoang đã đến việc thiên nhiên và con người đã “gậmnhấm” dần di tích Thực tế ở đồn bây giờ không còn nguyên vẹn như đãkhảo tả ở phần trên nữa mà có những khu vực chỉ còn là khu phế tích màthôi Cầu tàu trong thời gian Mỹ chiếm đóng đã bị hư, địch cho máy bay cẩumột nữa sang bên kia bờ sông để khỏi cản trở khúc sông này, đoạn còn lạihiện nay dài 32m các hố nước bị bọn ngụy đập một cửa lớn làm nơi nhốt bò.Hai đài quan sát chỉ còn lại chân móng và phần trên sập xuống nằm bêncạnh, các dãy nhà sàn, lò bánh mì chỉ còn lại chân cốt sàn Chỗ có nhà máyphát điện bọn chúng dùng làm nơi giam giữ cán bộ cách mạng.Sau này làtương đối bị phá hoại song các máy móc bên trong thì không còn nữa.Miệng cống xi măng thì còn nguyên không bị hủy hoại
Ở phía bên trong khu vực đồn các mô súng, các khẩu pháo và nhữngthiết bị bằng sắt đã rỉ sét Lớp vôi bên ngoài các phòng đã bị tróc, một sốphòng bị rỉ nước Những bộ phận cấu tạo bằng gang, chì, sắt bị lấy đi rất
Trang 23nhiều, đường ray xe gòong bị phá hỏng, các tầng hầm dưới mặt đất bị ngậpnước không thể xuống được Vùng đất phía sau đồn trước đây rộng rakhoảng 10ha nhưng sau do xâm thực của dòng sông Rạch Cát nó đã bị lỡ sátchân đồn Năm 1990, bộ đội và nhân dân tỉnh Long An đã đắp một con đêbằng xi măng và đá hộc bọc quanh phía sau chân đồn để chống sự xâm thựccủa dòng nước, diện tích hiện tại của đồn do pháo 105mm quản lý là 3,2ha.
IX Các phương án bảo vệ di tích:
Một điều không thể chối cải rằng việc bảo vệ và giữ di tích Đồn RạchCát là một vấn đề rất cần thiết vì nó là một tư liệu rất thực tế cho các nhàkiến trúc trong nước củng như trên thế giới nghiên cứu về công trình nghệthuật này
Để nghiên cứu các tầng hầm ngầm bên dưới xem độ nông sâu thế nàobao gồm những bộ phận gì và con đường thông thương giữa hai cụm kiếntrúc bắt và nằm ra sao thì cần phải có biện pháp làm khô cạn lượng nướchiện có ở phần này thì mới xuống được
Phải có phương án xây dựng để điều chống dòng nước xâm thực vànhững phương án gia cố chống đỡ các phần bị sụp lỡ hay tróc
Về phần tôn tạo nên xây dựng khu vực đón tiếp khách tham quan xâybia căm thù ở gần cầu tàu nơi ghi dấu tội ác của bọn thực dân Pháp đối vớicán bộ và nhân dân ta Có thể xây dựng một phòng trưng bày ngay tại di tíchgiới thiệu về lịch sử của đồn nhằm giáo dục cho khách tham quan hiểu rõhơn về nội dung của di tích
X Cơ sở pháp lý để bảo vệ di tích:
Ngày 15 tháng 8 năm 1990 Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Long An đã làmđơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đơn vị pháo 105mm trựctiếp quản lý với diện tích 32.000m2
Ngày 7 tháng 3 năm 1992 Hội đồng qui định khu vực bảo vệ di tíchlịch sử văn hóa gồm các đồng chí đại diện chính quyền địa phương xã LongHựu Đông, các đồng chí cán bộ nghiên cứu di tích và đơn vị chủ quản di tích
đã thống nhất qui định khu vực này bảo vệ di tích với diện tích 100.893 m2
UBND tỉnh Long An đã quyết định công nhận Di tích Đồn Rạch Cát
là di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh./
Trang 24LÝ LỊCH DI TÍCH
“ Khu vực ngã ba Tân Lân”
Nơi diễn ra cuộc biểu tình năm 1961 (Ấp Nhà Thờ, xã Tân Lân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An)
²
²
I Tên gọi của di tích:
Khu vực di tích có tên gọi là ngã ba Tân Lân, huyện Cần Đước, tỉnhLong An Sở dĩ có tên gọi thế vì đây là nơi tiếp giáp giữa Hương lộ 18 vàliên tỉnh lộ 50 tạo thành một ngã ba thuộc xã Tân Lân
Riêng về tên gọi “ Nhà thờ” xuất phát từ chỗ nơi ấy có một nhà thờĐạo thiên chúa do thực dân Pháp xây dựng trong quá trình xâm lược nước tavào cuối thế kỷ 19 Nhân dân quanh vùng quen gọi xóm Nhà Thờ để phânbiệt với các xóm khác như: Xóm Chùa, Xóm Mới Tên gọi ấy lưu truyền chođến ngày nay và trở thành tên gọi của một ấp
II Địa điểm phân bố - đường đi đến di tích:
1 Địa điểm phân bố:
Cách đây khoảng 150 năm, Tân Lân là một Làng thuộc Tổng LộcThành Trung, Tham biện Cần Giuộc (nay đổi là tiểu khu Chợ Lớn) Đếnngày 20/12/1899, khi toàn quyền Đông Dương ra Nghị định đổi các khuhành chánh thành Tỉnh thì Tân Lân là một trong bốn Làng của Tổng LộcThành Trung, tỉnh Chợ Lớn Đến năm 1923 do sự tăng tiến dân số, vùngCần Đước bao gồm địa phận của 3 Tổng Lộc Thành (Thượng, Trung, Hạ)được phân cấp hành chánh tương đương với huyện gọi là Sở Đại lý RạchKiến và đến năm 1927 thì Sở Đại lý Rạch Kiến đổi tên thành Sở Đại lý CầnĐước thuộc tỉnh Chợ Lớn Hệ thống hành chánh này tồn tại cho đến năm
1955 Như vậy, trong khoảng thời gian này, Tân Lân là một Làng thuộcTổng Lộc Thành Trung, Sở Đại lý Cần Đước, tỉnh Chợ Lớn
Trong khoảng thời gian từ năm 1955 đến năm 1979, do sự sát nhập 2tỉnh Tân An và Chợ Lớn thành tỉnh Long An, huyện Cần Đước thuộc tỉnhLong An Đến năm 1967, huyện Cần Đước được chia thành 2 huyện là CầnĐước và Rạch Kiến thì Tân Lân vẫn thuộc huyện Cần Đước, tỉnh Long Ancho đến ngày nay
Sau ngày Miền nam hoàn toàn giải phóng, hai huyện Cần Đước vàRạch Kiến sáp nhập lại Do đó, Tân Lân thuộc huyện Cần Đước tỉnh LongAn
Trang 252 Đường đi đến:
Từ Thị xã Tân An, theo quốc lộ I ngược về hướng Đông (hướngThành phố HCM) đến cây số 5 rẽ phải theo hương lộ 16 (lộ đất đỏ) đi đếncây số 11 là ngã Tư Xoài Đôi, rẽ phải 10km hương lộ 18 là đến di tích
III Sự kiện và nhân vật lịch sử liên quan đến di tích này:
Từ sau đợt Đồng Khởi 1960 – 1961 thắng lợi của nhân dân MiềnNam, để tránh sự sụp đỗ của chế độ Mỹ Diệm để giữ vững căn cứ quân sựquan trọng Miền Nam Việt Nam Đế quốc Mỹ tiến hành can thiệp MiềnNam Việt Nam đến mức độ cao hơn với chiến lược “ Chiến tranh đặc biệt”hòng bình định Miền Nam trong vòng 18 tháng, bằng kế hoạch : “Xta-Lây-Tay-Lo” chúng tăng mạnh số quân từ thanh niên cộng hòa lên dân vệ, từ dân
vệ lên bảo an Tăng cường quân chủ lực với trang bị hiện đại Kế hoạch dồndân vào ấp chiến lược cố tách rời quần chúng với cách mạng để tiêu diệt lựclượng vũ trang của ta
Trước âm mưu mới của địch, trên hết Đảng bộ Long An học tập quántriệt đường lối cách mạng Miền Nam được quyết định ở đại hội Đảng toànquốc lần III Quán triệt đường lối chấp hành của Chỉ thị Trung ương Cục MiềnNam, của Khu ủy khu 8 Tỉnh ủy Long An tiến hành hàng loạt các cuộc hộinghị nhằm triển khai công tác
Tinh thần Chính phủ chủ trương của Tỉnh Đảng bộ là động viên mọilực lượng yêu nước tiến hành chiến tranh cách mạng toàn dân, toàn diện,đánh bại mọi thủ đoạn, chiến tranh đặc biệt của chúng, phát động phong tràocách mạng quần chúng xây dựng lực lượng vũ trang kết hợp với đấu tranhchính trị, binh vận tiêu diệt làm tan rã ngụy quân, ngụy quyền
Chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng bộ Long An, từ năm 1961phong trào đấu tranh chính trị quần chúng được tổ chức lan rộng khắp tỉnhnhiều phong trào diễn ra với qui mô lớn như: huyện Đức Hòa, Bến Lức…
Tại Cần Đước, Bí thư lúc bấy giờ là đồng chí Nguyễn Văn Hòa (ChínHòa) đã cùng đồng chí Bảy Nguyễn, đồng chí Nguyễn Văn Tuấn (Tư TrấnTuyên huấn Tỉnh ủy) bàn bạc và thống nhất chọn Tân Lân làm xã điểm để phátđộng phong trào quần chúng
Nguyên nhân chọn Tân Lân làm xã điểm của các đồng chí trên cơ sở
rà soát lại thế là lực lượng của Chi bộ và cơ sở cách mạng ở xã Lúc bấy giờ,Chi bộ xã do Bảy Công Minh phụ trách, có khả năng huy động quần chúngtốt, quần chúng có khí thế hăng hái đấu tranh với địch, Tân Lân lại nằm trênliên tỉnh lộ 50, gần giáp ranh với Cần Giuộc và là ven thị trấn Cần Đước nơitập trung bộ phận đầu não của chính quyền địch Do đó nếu phát động cuộcđấu tranh thắng lợi sẽ gây tiếng vang rất lớn, tác động mạnh đối với địch vàphong trào cách mạng trong vùng
Trang 26Sau khi thống nhất phương án, mục tiêu đấu tranh, các đồng chí trongHuyện ủy đã tổ chức một cuộc mít tinh với hơn 100 quần chúng tham gia tạikhu vực nhà ông Hai Cân thuộc ấp Bình Hòa, xã Tân Lân nhằm đưa ra yêucầu, mục tiêu của cuộc đấu tranh hướng dẫn phương pháp đấu tranh và chọnlựa một số quần chúng có giác ngộ cao sắp xếp dẫn đầu cuộc biểu tình có thểxem đây là cuộc tập dợt lực lượng trước khi biểu tình chính thức.
Ba ngày sau tức ngày 4/7/1961 (13/6 âm lịch) dưới sự lãnh đạo củaChi bộ xã, nhân dân các ấp đã tập hợp được trên 100 người tập trung ở ĐậpHàn – Tân Lân, sau đó hướng về huyện để đấu tranh khẩu hiệu đấu tranh là:
“ Chống càn quét bắn phá, chống khủng bố”
“ Trả chồng, con, em về nhà làm ăn”
Đoàn biểu tình vừa đi vừa hô vang khẩu hiệu trên Lúc bấy giờ trụ sởngụy quyền xã Tân Lân khoảng 500m về hướng đông (hướng Thành phốHCM) cặp liên tỉnh lộ 50 Sài Gòn – Gò Công kề bên đó là bót dân vệ, đốidiện trụ sở là Cục cảnh sát Do vậy, đoàn biểu tình muốn về đến huyện phảivượt qua bọn ngụy quyền địa phương tại đây
Khi đoàn biểu tình kéo đến gần trụ sở xã, hoảng hốt trước khí thếmạnh mẽ của quần chúng, địch đã tập trung lực lượng vừa cảnh sát vừa dân
vệ dàn hàng ngang, chóng súng và kéo kẽm gai rào ngăn trên lộ để chặnđoàn biểu tình
Quần chúng vẫn tiến lên, địch ngăn kẽm gia trên lộ, bà con liền tạtxuống ruộng để đi tiếp Một số quần chúng hăng hái tiếp tục dẫn đầu Tiêubiểu là ông Ba Sa tự là Bộ Phước ở ấp Bình Hòa, xã Tân Lân Ông độngviên bà con nhanh chống vượt lên phía trước, vừa tự mình đi tới, vừa la lớn “xông tới bà con ơi”
Khi số quần chúng vượt rào tiến đến cột mốc cây số thứ 55 trên liêntỉnh lộ 50, địch phải lùi lại đến nhà ông Ba Ơn (cách ngã ba khoảng 50m)hốt hoảng địch dùng bá súng, batoong, gậy… xông vào quật vào tới tấp lênnhững người dẫn đầu đoàn biểu tình Ông Ba Sa vừa gạt đỡ và chống lại, têncảnh sát Nên tức tối dùng súng gắn lưỡi lê đăm vào bụng ông, liền sau đóbắn nổ súng Trúng thương ông Ba Sa ngã quỵ tại chỗ, trước khi chết ôngvẫn la lớn: “ Đồng bào hãy tiến lên”, “ Mẹ và các em hãy tiến lên”
Căm thù trước sự tàn ác, dã man của giặc, sau khi đem xác ông Ba Sa
về, Chi bộ xã tiếp tục huy động lực lượng đấu tranh với địch đến cùng Sángngày hôm sau 25/7/1961, đoàn biểu tình với hơn 500 người cùng gia đìnhông Ba Sa là Lê Phước Ngọc ăn mặc áo tang, đội bàn thờ tang tiến về huyện,kiên quyết vạch trần tội ác, khủng bố của giặc và bắt chúng phải bồi thườngbọn địch vẫn tiếp ngoan cố Chúng ra lệnh bắt toàn bộ gia đình ông Ba Sagồm 5 người là mẹ, vợ, con và em của ông cùng một số người khác về giamtại Long Hòa Rạch Kiến
Trang 27Không lui bước với kẻ địch, Huyện ủy Cần Đước lập tức phát độngphong trào đấu tranh chính trị trên địa bàn toàn huyện Khắp nơi trong huyệnnhân dân đã lập bàn thờ, để tang ông Ba Sa Bàn thờ có hình ông ở giữa, haibên là câu: “ sống bất khuất, chết vinh quang” hơn 4.000 người dân tronghuyện rầm rộ hưởng ứng cuộc đấu tranh, lôi kéo cả một số binh sỹ địch giácngộ.
Lần đầu tiên trên toàn huyện, một cuộc đấu tranh, kéo dài đến 7 ngàyđêm sôi sục đòi địch phải chấm dứt lối khủng bố man rợ làm bọn địch từ xãđến huyện phải hoang mang, rung động trước sức mạnh của quần chúng vàchấp nhận yêu sách của nhân dân
IV Khảo tả di tích:
Khu di tích trước đây là đồng trống dọc theo hương lộ 18 một bên làruộng xen lẫn với vài nhà dân Tại ngã ba hiện nay là nghĩa trang liệt sỹhuyện Cần Đước trước kia là ao sâu gọi là ao miết được đắp bằng vào năm1987
Về hướng nam liên tỉnh lộ 50 lúc đó là đồng trống gần nơi địch giếtông Ba Sa chúng có đặt ụ pháo lớn Khu vực UBND hiện nay trước kia làcục cảnh sát và trường học cấp I, II Tân Lân hiện nay là khu vực bót dân vệcũ
Khu di tích ngày nay là tụ điểm căn cứ đông đúc, quang cảnh đều thayđổi hẳn so với trước kia
V Loại di tích:
Khu vực ngã ba Tân Lân là địa điểm lưu niệm sự kiện lịch sử cáchmạng và cũng là nơi ghi dấu tội ác khủng bố dã man của Mỹ Diệm đối vớinhân dân ta
VI Các hiện vật trong di tích:
Hiện nay vì là điểm dân cư nên không còn hiện vật gì trong di tích
VII Giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học nghệ thuật của di tích:
Cuộc biểu tình ngày 24/7/1961 ở ngã ba Tân Lân là cuộc biểu tình lớntong huyện nơi đây lần đầu tiên đã nổ ra một cuộc đấu tranh chính trị rộnglớn và kéo dài trên toàn huyện làm cho bọn địch từ huyện đến xã phải hoangmang dao động trước sức mạnh đấu tranh của nhân dân Đây cũng là nơi anh
Lê Phước Sa người con ưu tú của nhân dân đã lấy máu mình tô thắm thêmngọn cờ vinh quang của Đảng và làm vẻ vang thêm truyền thống bất khuấtcủa địa phương
Cuộc biểu tình này đã chứng tỏ đường lối sáng tạo tài tình của ĐảngCộng sản Việt Nam mà tiêu biểu là Đảng bộ huyện Cần Đước tong việc tậphợp mọi lực lượng chính trị kết hợp linh hoạt giữa đấu tranh chính trị vớiđấu tranh vũ trang đã phá vỡ âm mưu “ dồn dân lập ấp” của bọn Mỹ Diệm.Đồng thời cũng nói lên sự giác ngộ cách mạng cùng với ý chí căm thù sâu
Trang 28sắc tinh thần dũng cảm của nhân dân Tân Lân nói riêng và Cần Đước nóichung.
Di tích lịch sử còn là nơi ghi dấu tội ác của Mỹ Diệm qua hành độngkhủng bố đoàn biểu tình nhân dân xã Tân Lân
VIII Tình trạng bảo quản di tích:
Khu vực di tích hiện nay là tụ điểm dân cư
IX Các phương án bảo vệ di tích:
Xây dựng nơi đây là bia truyền thống để ghi lại sự kiện lịch sử nóitrên nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh bất khuấtgương hy sinh anh dũng cho các thế hệ mai sau
Trang 29I Tên gọi của di tích:
Khu vực diễn ra trận đánh được gọi nôm na là Nhà Dài Đó là tên gọicủa một ấp thuộc xã Tân Lân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An Tên gọi
“Nhà Dài” xuất phát từ nguồn gốc do trước kia ở Làng Tân Lân có một cănnhà rất dài của ông Hương Cả Nam xây dựng dùng để chứa lúa Vì hìnhdáng đặc biệt của ngôi nhà “kho” này mà người dân quanh vùng quen gọilưu truyền đến ngày nay
Hiện nay, gò đất trước kia là nền nhà vẫn còn dấu tích
II Địa điểm phân bố - đường đi đến di tích:
1 Địa điểm phân bố:
Cách đây khoảng 150 năm, Tân Lân là một Làng thuộc Tổng LộcThành Trung, Tham biện Cần Giuộc (sau đó là tiểu khu Chợ Lớn) đến ngày20/12/1899, khi toàn quyền Đông Dương ra Nghị định đổi các khu hànhchánh thành các Tỉnh thì Tân Lân là một trong bốn Làng của Tổng LộcThành Trung, tỉnh Chợ Lớn Đến năm 1923 do sự tăng tiến dân số, vùngCần Đước ngày nay bao gồm địa phận của 3 Tổng Lộc Thành (Thượng,Trung, Hạ) được phân cấp hành chánh tương đương với huyện gọi là Sở Đại
lý Rạch Kiến và đến năm 1928 thì Sở Đại lý Rạch Kiến đổi tên thành Sở Đại
lý Cần Đước thuộc tỉnh Chợ Lớn Hệ thống hành chánh này tồn tại cho đếnnăm 1955 Như vậy, trong khoảng thời gian này, Tân Lân là một Làng thuộcTổng Lộc Thành Trung, Sở Đại lý Cần Đước, tỉnh Chợ Lớn
Trong khoảng thời gian từ năm 1955 đến năm 1975, do sự sát nhập 2tỉnh Tân An và Chợ Lớn thành tỉnh Long An, huyện Cần Đước thuộc tỉnhLong An Tuy nhiên có sự thay đổi là khi năm 1967, huyện Cần Đước đượcchia thành 2 huyện là Cần Đước và Rạch Kiến thì Tân Lân vẫn thuộc huyệnCần Đước, tỉnh Long An cho đến ngày nay
2 Đường đi đến:
Từ Thị xã Tân An, theo quốc lộ I ngược về hướng Đông (hướngThành phố HCM) đến cây số 25 là ngã ba Gò Đen, rẽ theo hương lộ 16 (lộ
Trang 30đất đỏ) đi khoảng 20km là đến ngã ba Tân Lân nơi tiếp giáp giữa hương lộ
18 và tỉnh lộ 50 Sau đó rẽ hướng về Thành phố HCM 3km là đến di tích
Di tích là khu vực hiện nay đã được UBND huyện Cần Đước xâydựng bia để kỷ niệm chiến thắng này
III Sự kiện và nhân vật lịch sử liên quan đến di tích này:
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọctuyên ngôn độc lập, tuyên bố khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.Vừa mới ra đời, chính quyền cách mạng còn non trẻ đã phải đối phó vớimuôn vàn khó khăn, thử thách Ở Miền nam ngày 23/9/1945, thực dân Phápdựa vào sự che chở của quân Anh, đã nổ súng xâm lược nước ta lần thứ 2.Chúng tấn công, đánh chiếm các công sở của chính quyền cách mạng ở SàiGòn
Ngày 26/9/1945, ba ngày sau cuộc kháng chiến bùng nổ, Bác Hồ gửithư vào Miền Nam cho đồng bào Nam Bộ kêu gọi đồng bào đoàn kết thựchiện kháng chiến bảo vệ nền độc lập vừa giành được
Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch và Ủy ban kháng chiến Nam
Bộ, quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đã chiến đấu vô cùng anhdũng, giam chân dịch trong nội thành suốt cả tháng trời Đến ngày 23 và24/10/1945, giặc Pháp từ Sài Gòn tấn công ra các tỉnh
Do vị trí địa lý đặc biệt nằm sát cạnh Thành phố Sài Gòn nên khichiến tranh nổ ra, hai tỉnh Chợ Lớn và Tân An nói chung và hai huyện CầnĐước, Cần Giuộc nói riêng cũng là nơi trực tiếp bị uy hiếp trước tiên so vớicác nơi khác
Trong tình thế khẩn trương ấy, đầu năm 1946, theo quyết định của Bộ
Tư lệnh quân khu 7, các đơn vị Giải phóng quân các quận Đức Hòa, CầnGiuộc, Cần Đước, Trung quận hợp nhất thành Chi đội 15, gồm 3 tiểu đoàn
và một trung đội nữ binh Đây là lực lượng vũ trang thống nhất đầu tiên củatỉnh Chợ Lớn, tiền thân của trung đoàn 308 sau này
Sau khi chiếm Cần Giuộc, giặc Pháp thường xuyên cho quân theo tỉnh
lộ 50 liên lạc với Cần Đước với ý đồ khai thông trục lộ giao thông quantrọng nối liền Sài Gòn với Gò Công, trên đoạn đường từ Cần Giuộc – CầnĐước địch nghênh ngang chạy xe xuyên suốt
Lúc này, lực lượng võ trang của ta còn rất yếu Tại Cần Đước, CầnGiuộc, ta chỉ có 2 trung đội võ trang chiến đấu, vũ khí chủ yếu là tầm vôngvạt nhọn, giáo mác, một ít súng lục và lựu đạn Vì vậy lực lượng võ trangcủa ta chỉ có thể tiến hành lối đánh du kích mà không thể tiến hành nhữngtrận lớn bằng cách đánh vận động chiến lược
Biết vậy địch rất ngạo mạn, hàng ngày xe Geep, nhà binh của chúngngang nhiên chạy trên tỉnh lộ 50 Địch trên xe rất lơ là cảnh giác, súng ống
Trang 31bỏ lăn lóc và ca hát nghêu ngao Thậm chí chúng còn huênh hoang trông gặp
du kích của ta
Nắm được tinh thần địch rất chủ quan Bộ phận lãnh đạo lực lượng vũtrang 2 huyện quyết tâm tìm mọi cách để đánh địch vừa để cảnh cáo chúng,động viên tinh thần chiến đấu của quân ta vừa để thử nghiệm trình độ tácchiến của cán bộ chiến sĩ và thu vũ khí của địch trang bị cho ta
Sau nhiều lần theo dõi, quan sát nắm được qui luật đi lại của địch, tiếpthu kinh nghiệm trận đánh cơ giới địch ở ngã tư Xoài Đôi trước đó, các đồngchí lãnh đạo đơn vị quyết định chọn khu vực Nhà Dài làm địa điểm phụckích để tiến hành trận đánh Địa điểm này nằm cách Chợ Trạm (Mỹ Lệ1km), cách thị trấn Cần Đước 4km, hai bên là đồng ruộng trống trải, kếhoạch được tổ chức như sau:
Đêm ngày mùng 3/12/1946 âm lịch tức ngày 6/1/1946, ta tổ chức cuộchọp tại nhà ông Tám Son ở ấp Bình Hòa, xã Tân Lân nhằm thống nhất quyếttâm, đề ra kế hoạch và lực lượng tham gia trận đánh, cuộc họp đã thông quacách đánh đào hầm ở trên lộ Đồng thời lực lượng phục kích ven lộ, khi xeđịch đi vào trận địa, lực lượng võ trang sẽ nổ súng gây bối rối và khi chúng
bị sụp hầm sẽ xung phong diệt địch Mặc khác, vận động nhân dân trải đệmphơi lúa dựng rơm thật nhiều ven đường để che mắt địch Lực lượng thamgia đánh có trung đội gồm: 1 đội cảm tử quân Cần Đước, 1 đội cộng hòa vệbinh Cần Đước và 1 đội cộng hòa vệ binh Cần Giuộc, chỉ huy trận đánh gồmcác đồng chí:
- Đồng chí Châu (Cần Giuộc)
- Đồng chí Nguyễn Thành Tiên (Cần Đước)
- Đồng chí Tổng Văn Hên (Trưởng Ban quân sự Cần Đước)
Ngay trong đêm, ta huy động nhân dân cùng lực lượng vũ trang đàohầm trên lộ, tại điểm đánh đào hai hầm: hầm thứ nhất dài 2,5m, rộng 1,5m,sâu 2m nằm về phía bên phải đường tỉnh từ Cần Giuộc xuống Cách đó 2m
về bên trái đường ta lại đào hầm khác dài 4m, rộng 1,5m, sâu 2m Bên trênhầm gác cây, trải đệm phơi lúa để ngụy trang Cách trận địa 200m về phíabên trái đường từ Cần Giuộc xuống và vị trí ém quân tại đây có hai cây mâmxôi cao nên ta bố trí 1 tổ 3 người dùng đây làm đài quan sát
Lực lượng ta được chia thành 5 tổ được bố trí như sau:
- Tổ cảm tử quân, nằm cách trận địa 50m về phía phải
- 2 tổ cộng hòa vệ binh nằm dọc theo hai bên trận địa (dọc hai bên lộ)
- 2 tổ cộng hòa vệ binh nằm cách trận địa 400m về phía Cần ĐướcTất cả chuẩn bị chờ địch
8 giờ sáng ngày 4/12/1945 âm lịch tức ngày 7/1/1946, tổ quan sát báohồi còi thứ nhất báo xe địch đến Chợ Trạm, khi hồi còi thứ hai báo xe địchcách trận địa 600m, Ban chỉ huy ra lệnh chuẩn bị chiến đấu Xe địch thấy bỏ
Trang 32dần, lực lượng chúng gồm: 1 chiếc xe Geep lùn đi đầu và 1 chiếc “Đốt-cát”chở lính đi sau, tất cả khoảng 1 trung đội.
Địch bắt đầu tiến vào trận địa Lệnh chiến đấu được ban hành bằnghồi còi thứ 3 vang lên dõng dạc, liền sau đó, tổ cảm tử quân nổ súng Chiếc
xe Geep lách được hố thứ nhất, chúng lách qua và địch chạy nhanh hơn thìđụng hố thứ hai Tuy nhiên vì gọn nhẹ nên xe địch chỉ hơi chao nghiêngkhông sụp hố Hoảng hốt chúng bỏ chạy luôn về Cần Đước, hai tổ chặn địchphía dưới liên nổ súng Thế nhưng do hợp đồng không chặt, hai tổ chặn địchvừa lao ra thì gặp ngay làn đạn của các tổ trên bắn đuổi theo xe Do đó,chiếc Geep chạy thoát
Hầu như cùng một lúc, chiếc “Đốt-cát” lọt vào trận địa, ta cùng nổsúng vô mặt xe địch vẫn lách được hố thứ nhất, nhưng không thoát khỏi hốthứ hai, địch lóp ngóp có tên còn chưa ra khỏi xe, tên văng ra trước thì bị xe
đè, địch không phản ứng gì được Bấy giờ ta xung phong tiếp cận tiêu diệtnhanh, gọn, thu toàn bộ vũ khí
Kết quả trận đánh, ta diệt một trung đội địch, thu 20 khẩu súng và đạndược, ta hy sinh 1 đồng chí do lạc đạn
Trận đánh Nhà Dài diễn ra trong tình hình tương quan lực lượngchung trên chiến trường có nhiều chênh lệch, bất lợi cho ta nhưng đây là mộtđòn phủ đầu vào uy thế địch, buộc chúng không còn dám hung hăng, ngạomạn như trước Đồng thời nó chứng tỏ sự thông minh, sáng tạo của cán bộ,chiến sĩ ta bằng mọi cách vẫn quyết tâm đánh địch
IV Khảo tả di tích:
Di tích là một đoạn lộ của tỉnh lộ 50, hai bên là đồng ruộng, địa hìnhtrống trải Về phía phải (từ Cần Giuộc xuống hướng đông – tây) là một gòđất đắp mô, phía trái là bãi tha ma nhỏ, hiện nay đã bị che khuất bởi nhà củanhân dân xây dựng
Hiện nay toàn bộ địa hình đều thay đổi, trải qua thời gian không còndấu tích gì của trận đánh
V Loại di tích:
Là di tích chiến thắng Nơi ghi dấu chiến công của lực lượng võ trangCần Đước, Cần Giuộc trong những ngày đầu kháng chiến
VI Các hiện vật trong di tích:
Hiện nay vì là điểm dân cư và ruộng đất canh tác nên không còn hiệnvật gì liên quan đến di tích
VII Giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật:
Di tích mang giá trị lịch sử là địa điểm ghi dấu chiến công của lựclượng võ trang Cần Đước, Cần Giuộc trong những năm ngày đầu kháng chiếnchống Pháp Nó tiêu biểu cho tinh thần thông minh, sáng tạo trong việc ứngdụng địa hình để đánh địch thắng lợi của cán bộ, chiến sĩ Cần Đước Đây
Trang 33cũng là trận đầu tiên diệt gọn trung đội địch bằng cách đánh phục kích trênchiến trường Long An thời bấy giờ.
VIII Tình trạng bảo quản di tích:
IX Các phương án bảo vệ di tích:
Ủy ban nhân dân huyện Cần Đước đã xây dựng bia kỷ niệm chiếnthắng năm 1985 để giáo dục truyền thống cho đồng bào ở địa phương
Trang 34DI TÍCH LỊCH SỬ Nền nhà Hội Phước Vân Địa điểm ghi dấu cuộc đấu tranh Dưới sự lãnh đạo của Chi bộ Đảng đầu tiên của huyện Cần Đước năm 1930
(xã Phước Vân – huyện Cần Đước – tỉnh Long An)
²
²
I Tên gọi của di tích:
Nhà Hội Phước Vân được thực dân Pháp xây dựng vào đầu thế kỷ
XX Đây là công sở của Làng phước Vân, nơi làm việc của các hương chứctrong Ban hội tề vì vậy nhân dân địa phương thường gọi là nhà Hội PhướcVân Nơi đây, ngày 4/6/1930 đồng bào các xã: Phước Vân, Long Sơn, LongCang, Long Khê dưới sự lãnh đạo của Chi bộ Phước Vân – Chi bộ Đảng đầutiên của huyện Cần Đước đã tiến hành cuộc biểu tình trấn áp bọn tề làng,đập phá nhà Hội, thiêu hủy tất các các sổ bộ của chúng
II Địa điểm phân bố - đường đi đến di tích:
1 Đường đi đến di tích:
Từ thị xã Tân An, du khách theo quốc lộ I về phía Đông đến thị trấnBến Lức, theo tỉnh lộ 16 đi khoảng 10km đến ngã tư An Thuận Từ đây dukhách theo hương lộ 17 (về phía tay trái) đi khoảng 1,5km rồi theo đường lộđình (lộ liên ấp) khoảng 600m là đến di tích
2 Địa điểm phân bố:
Kể từ khi có sự phân định hành chính ở Nam bộ (1698), cả vùng đấtCần Đước ngày nay lúc ấy là một bộ phận của Tổng Phước Lộc huyệnPhước Long – Đinh Trấn Biên – Phủ Gia Định
Năm 1779 Phước Lộc được cắt về huyện Tân Bình thuộc đinh PhiênTrấn Năm 1808 Gia Định đổi thành Gia Định Thành sau khi đã đổi thànhtrấn (1802), thành Gia Định có 5 trấn: Phiên An, Biên Hòa, Định Tường,Vĩnh Thanh, Hà Tiên Tổng Phước Lộc được nâng lên thành phủ ThônPhước Vân bấy giờ thuộc Tổng Lộc Thành, huyện Phước Lộc, phủ Tân Bình– trấn Phiên An – Gia Định Thành
Năm 1832 Minh Mạng giải thể Gia Định Thành, chia làm 6 tỉnh gọichung là Nam Kỳ Lục tỉnh Trấn Phiên An đổi tên thành tỉnh Gia Định,huyện Phước Lộc được cắt ra cùng với huyện Thuận An và Tân Hòa (ĐịnhTường) đặt làm phủ Tân An, thôn Phước Vân lúc bấy giờ thuộc Tổng Lộc