Như vậy, quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa là quá trình tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước của các cơ quan QLNN về văn hóa từ Trung ương đến địa phương đ
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA 7
1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài 7
1.1.1 Văn hóa, di sản văn hóa 7
1.1.2 Khái niệm di tích lịch sử văn hóa 10
1.1.3 Khái niệm quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa 13
1.2 Vai trò và sự cần thiết về di tích lịch sử văn hóa 16
1.2.1 Vai trò của quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa 16
1.2.2 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa 18
1.3 Yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa 21
1.3.1 Quan điểm chính trị 21
1.3.2 Chính sách, pháp luật của nhà nước 22
1.3.3 Trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức 23
1.3.4 Nguồn lực tài chính 24
1.3.5 Ý thức, trách nhiệm và sự tham gia của cộng đồng 25
1.4 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa 25
1.4.1 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di tích lịch sử văn hóa 25
1.4.2 Ban hành và chỉ đạo thực hiện các chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa 28
1.4.3 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa: 29
1.4.4 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa 31
1.4.5 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di tích lịch sử văn hóa 33
1.5 Kinh nghiệm quốc tế trong quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa 34
1.5.1 Kinh nghiệm một số nước: 34
1.5.2 Kinh nghiệm một số địa phương Việt Nam 37
Tiểu kết chương 1 42
Trang 2CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ
VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 43
2.1 Khái quát về tình hình phát triển kinh tế-xã hội- văn hóa của Thành phố Hà Nội 43
2.1.1 Vị trí địa lý 43
2.2 Thực trạng các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn Thành phố Hà Nội 46
2.2.1 Số lượng và loại hình các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn thành phố 46 2.2.2 Về phân bố và thực trạng bảo quản 47
2.3 Phân tích thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về di tích lịch sử trên địa bàn thành phố Hà Nội 48
2.3.1 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di tích lịch sử văn hóa 48
2.3.2 Tổ chức, chỉ đạo triển khai các chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa 52
2.3.3 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa 60
2.3.4 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa: 63
2.3.5 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di tích lịch sử văn hóa: 65
2.4 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn TP Hà Nội hiện nay 70
2.4.1 Ưu điểm: 70
2.4.2 Hạn chế: 71
Tiểu kết chương 2 75
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI.76 3.1 Quan điểm, định hướng phát triển văn hóa, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa của Đảng và Nhà nước 76
3.1.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng 76
3.1.2 Định hướng và mục tiêu của Nhà nước 77
3.2 Định hướng, mục tiêu bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa của TP Hà Nội 78
Trang 33.2.1 Định hướng tu bổ, tôn tạo, bảo tồn và phát huy giá trị di sản đến năm 2020 của Bộ Văn hóa và thể thao 78 3.2.2 Định hướng bảo tồn và phát huy giá trị của DSVH đến năm 2020 của
Tiểu kết chương 3 95 KẾT LUẬN 96
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Di tích lịch sử văn hóa (DTLSVH) Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta DTLSVH được coi là nguồn sử liệu được
sử dụng để nghiên cứu lịch sử dân tộc, trong đó di tích lịch sử - văn hóa là đối tượng được con người quan tâm nhất, bởi các di tích chính là những bằng chứng xác thực, cụ thể về đặc điểm lịch sử, văn hóa của một dân tộc Ở đó chứa đựng tất cả những gì thuộc
về truyền thống tốt đẹp, kỹ năng, kỹ xảo và trí tuệ của con người Các di tích lịch sử - văn hóa chính là những thông điệp của quá khứ được các thế hệ trước trao truyền cho thế
hệ sau, nhờ đó người ta đã cảm nhận được quá khứ, và từ những thông tin của quá khứ tìm đến với truyền thống lịch sử, những giá trị đạo đức, thẩm mỹ, tín ngưỡng, tâm linh
Trên cơ sở truyền thống lịch sử, các thế hệ đi sau đã tiếp nối và sáng tạo ra những giá trị văn hoá mới Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong những năm qua, nền văn hóa Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc Tuy nhiên, cùng với thời gian, do hoàn cảnh và hạn chế nhất định, những di sản văn hóa được các thế hệ cha ông để lại đang có nguy cơ mai một Giá trị của di sản văn hóa nói chung và của di tích lịch sử văn hóa nói riêng là vô cùng to lớn, song điều quan trọng hơn là việc quản lý, bảo tồn và phát huy những giá trị của nó như thế nào đang là vấn đề cần được quan tâm đúng mức của các cấp, các ngành, nhất là những người làm công tác quản lý văn hóa hiện nay
Với quá trình lịch sử lâu dài là lỵ sở rồi trở thành Thủ đô của cả nước, Hà Nội luôn đóng vai trò của một miền đất hội tụ, kết tinh và tỏa sáng về mặt chính trị, quân
sự, kinh tế và văn hóa Là thủ đô - trung tâm quyền lực chính trị, kinh tế và văn hóa, Thăng Long xưa - Hà Nội hôm nay luôn tạo ra lực hấp dẫn thu hút nhân lực, vật lực của nhiều địa phương, tạo nên sự đa sắc về văn hóa và di sản văn hóa
Hà Nội cũng là vùng đất duy nhất ở Việt Nam ghi dấu ấn của hơn 50 vị Vua, hàng chục vị Chúa và hàng trăm danh nhân văn hóa và lịch sử của đất nước, những người có thể được sinh ra ở nhiều địa phương khác nhau, nhưng để thành danh, dứt khoát phải hội tụ về thủ đô, trải qua quá trình rèn luyện không ngừng rồi mới trở nên những nhân tài tỏa sáng Tài năng sáng tạo và hoạt động của những nhân cách văn hóa như vậy nhất thiết phải để lại dấu ấn qua các di sản văn hóa phi vật thể và vật thể
Trang 5Có thể nói, Hà Nội xứng đáng được tôn vinh là nơi đào luyện nhân tài cho đất nước
mà Văn Miếu – Quốc Tử Giám và các trường đại học ở thủ đô là ví dụ điển hình
Hà Nội cũng là vùng đất chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của quốc gia: Lý Thái Tổ định đô Thăng Long, Hội nghị Diên Hồng lịch sử, Hội thề Đông Quan, Rồng lửa Thăng Long của Quang Trung - Nguyễn Huệ, Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Điện Biên Phủ trên không năm 1972 v.v
Hà Nội còn là "thủ đô tâm linh" của cả nước, bởi trong lòng nó hàm chứa các thiết chế tôn giáo tín ngưỡng như: Tứ trấn (đền Bạch Mã, đền Quán Thánh, đền Linh Lang Voi Phục, đình Kim Liên), Tứ Bất Tử (Tản Viên Sơn Thánh, Thánh Gióng, Thánh Chử Đồng Tử và Mẫu Liễu Hạnh) Những lễ hội tôn giáo, tín ngưỡng và lễ hội lịch sử lớn hàng năm vẫn được tổ chức trên địa bàn Hà Nội, đặc biệt là trong không gian văn hóa thiêng liêng của các di tích tiêu biểu như: lễ hội Chùa Hương, Hội Gióng ở Đền Phù Đổng và Đền Sóc Sơn v.v
Hà Nội là thành phố duy nhất trong cả nước có sự hiện diện của 13 di tích quốc gia đặc biệt, 01 di sản văn hóa thế giới Ngoài ra, còn có hàng ngàn di tích lịch
sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh được xếp hạng di tích quốc gia Với số lượng và đặc điểm đa dạng của các di tích lịch sử văn hóa, hàng năm Hà Nội đã thu hút hàng triệu lượt khách du lịch trong và ngoài nước Tuy nhiên, hiện nay việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa một số nơi chưa đảm bảo giá trị nguyên gốc, một số di tích bị xâm hại làm cho giá trị của di tích lịch sử bị mai một Có nhiều nguyên nhân, nhưng về cơ bản do công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa còn chưa hiệu quả, số lượng di tích lớn và đa dạng chủng loại cũng đòi hỏi tính linh hoạt, sáng
tạo trong hoạt động quản lý nhà nước Vì thế nên em chọn đề tài: “Quản lý nhà nước
về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn Thành phố Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp
nhằm bảo tồn giá trị nguyên gốc và phát huy những giá trị của di tích lịch sử văn hóa trong tình hình hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan tới nội dung của đề tài nghiên cứu, cụ thể như:
- Đề tài “Quản lý nhà nước về di sản văn hóa trên địa bàn Huyện Sóc Sơn- Thành phố Hà Nội” – Tác giả Hà Thị Thu – Luận văn Thạc sỹ Quản lý công, 2016 Tác giả đã nêu ra được tầm quan trọng của việc bảo tồn những giá trị văn hóa, đưa ra được những thực trạng, những danh mục văn hóa cần được tôn tạo, bảo vệ, gìn giữ trên địa
Trang 6bàn huyện Sóc Sơn Từ đó đưa ra những giải pháp trong việc quản lý nhà nước đối với
di sản văn hóa ở Huyện Sóc Sơn
- Đề tài: “Quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội truyền thống trên địa bàn Thành phố Hà Nội” – Tác giả Nguyễn Thị Hà Phương – Luận văn Thạc sỹ Hành chính công, 2011 Tác giả đã phân tích làm sáng rõ một số lễ hội truyền thống trên địa bàn Thành phố Hà Nội ở cả những biểu hiện tích cực và hạn chế, từ đó xây dựng một số giải pháp quản lý nhà nước nhằm hạn chế những yếu tố tiêu cực và phát huy điểm tích cực trong các hoạt động lễ hội
- Sách “Tìm trong truyền thống và di sản” tập 5, 2010, NXB Lao động Cuốn sách đã giới thiệu về giá trị lịch sử, văn hóa và di sản văn hóa của Hà Nội
- Sách “Hà Nội di tích lịch sử văn hóa và danh thắng, năm 2000, NXB Trung tâm UNESCO bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc Việt Nam, Doãn Đoan Trinh (chủ biên)” Đây là cuốn sách tổng hợp, công bố gần 500 di tích trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Sách “Di tích lịch sử văn hóa Hà Nội, năm 2000, NXB Chính trị Quốc gia, Nguyễn Doãn Tuân (chủ biên) Trong cuốn sách này có đề cập tới một số vấn đề cơ bản, có liên quan như: một số bài viết được đăng trong sách về quản lý di tích, như: Công tác quản lý di tích ở Thủ đô Hà Nội trong thời gian qua (Ngô Thị Hồng Hạnh); Công tác nghiên cứu khoa học bước đầu của việc quản lý nhà nước đối với di tích (Nguyễn Quốc Hùng); Quản lý nhà nước về di tích lịch sử- văn hóa và danh thắng trên địa bàn Thành phố Hà Nội (Nguyễn Quốc Hùng và Nguyễn Thế Hùng)”
- Sách “Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế” của tác giả Phan Hồng Giang- Bùi Hoài Sơn Cuốn sách được biên soạn dựa trên kết quả đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước, mã số KX.03/06-10, do TSKH Phan Hồng Giang và TS Bùi Hoài Sơn là những tác giả chính, được nghiệm thu năm 2012
Nội dung cuốn sách giới thiệu những quan điểm chung về quản lý văn hóa trong bối cảnh công cuộc đổi mới đang được đẩy mạnh toàn diện ở nước ta và hội nhập quốc tế, giới thiệu kinh nghiệm quản lý văn hóa của một số quốc gia trên thế giới; đánh giá thực trạng quản lý văn hóa ở Việt Nam từ khi bắt đầu tiến trình đổi mới (1986) đến nay; đề xuất những định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản lý văn hóa trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế
Trang 7- Đề tài “Quản lý nhà nước đối với khu di tích Nguyễn Du trên địa bàn huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh”- khóa luận tốt nghiệp của Phạm Thị Bích, KH11-Xã hội, Học viện Hành chính Quốc gia
Khu di tích Nguyễn Du được xây dựng để các nho sỹ, văn sỹ và du khách trong và ngoài nước yêu thích Truyện Kiều, ngưỡng mộ cụ Nguyễn Du- một Đại thi hào dân tộc, một Danh nhân văn hóa Thế giới, đến thắp hương tưởng niệm Đây là khu di tích văn hóa nằm trong quần thể di tích dòng họ Nguyễn Tiên Điền
Khóa luận này đã nêu khái quát lý luận chung QLNN về di sản văn hóa vật thể; nêu rõ thực trạng QLNN đối với khu di tích Nguyễn Du trên địa bàn huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị của khu
di tích Nguyễn Du trên địa bàn huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh Kết quả của khóa luận đã đóng góp một phần không nhỏ về lý luận và thực tiễn cho công tác QLNN đối với khu di tích Nguyễn Du nói riêng và quản lý di tích trên các địa bàn trong cả nước nói chung
Các công trình trên đã nghiên cứu về di sản văn hóa, về di tích lịch sử văn hóa được tiếp cận ở các khía cạnh khác nhau trong công tác quản lý nhà nước và trên địa bàn khác nhau Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về QLNN về di tích lịch
sử văn hóa trên địa bàn Hà Nội, đặc biệt là các di tích lịch sử Quốc gia điển hình tại
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới
Trang 84 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu di tích lịch sử văn hóa và hoạt động quản lý nhà nước về
di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn TP Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Thời gian: Từ 2010 đến nay và định hướng đến năm 2025
Không gian: Trên địa bàn TP Hà Nội
Nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu các nội dung QLNN về di tích lịch
sử văn hóa trên địa bàn TP Hà Nội
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận:
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lê-nin, các quan điểm, tư tưởng, định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển văn hóa và bảo vệ phát huy các di sản văn hóa Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng để xem xét, nghiên cứu tính hệ thống và mối liên hệ phổ biến giữa các yếu
tố liên quan đến quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thống kê: Là phương pháp thu thập, xử lý và phân tích các con
số (mặt lượng) của hiện tượng nghiên cứu để tìm hiểu bản chất và tính quy luật vốn
có của chúng (mặt chất) trong điều kiện thời gian và không gian cụ thể
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Trên cơ sở các số liệu, thông tin thu thập được từ các nguồn tài liệu khác nhau, tác giả tiến hành phân tích và tổng hợp đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Phương pháp quan sát: Tác giả đã đến quan sát trực tiếp các di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu, đến tận nơi để khai thác nhiều nguồn tài liệu văn bản lịch sử, khảo cổ học, văn hóa dân gian của từng khu di tích để hiểu rõ hơn về lịch sử, về các kết quả nghiên cứu cũng như lý giải của các khoa học về khu di tích lịch sử quan trọng này
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến di tích lịch sử văn hóa và quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa; đã làm rõ khái niệm, vai trò, sự cần thiết phải QLNN về di tích lịch sử văn hóa, phân tích những yếu tố ảnh hưởng tới quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa, nội dung quản lý nhà nước về
Trang 9di tích lịch sử văn hóa, nghiên cứu các kinh nghiệm và rút ra bài học cho công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa Kết quả nghiên cứu đó đã bổ sung để làm phong phú thêm về mặt lý luận QLNN về văn hóa nói chung và di tích lịch sử văn hóa nói riêng và trong nghiên cứu các quan điểm, xu hướng bảo tồn và phát huy các giá trị di tích lịch sử văn hóa
Luận văn đã nghiên cứu thực trạng, phân tích, đánh giá những ưu điểm, hạn chế trong quá trình thực hiện quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội Kết quả nghiên cứu về lý luận
và thực tiễn đó có thể làm tài liệu tham khảo cho các sinh viên, học viên; các nhà nghiên cứu, giảng dạy; các nhà quản lý nhà nước về văn hóa nói chung và di tích lịch
sử văn hóa nói riêng
7 Kết cấu của luận văn:
Kết cấu của luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Luận văn được chia làm 03 chương Cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về di tích lịch
sử văn hóa
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn
thành phố Hà Nội
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa
trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 10CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH
LỊCH SỬ VĂN HÓA
1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1 Văn hóa, di sản văn hóa
1.1.1.1 Văn hóa
Trong những năm gần đây, thuật ngữ “văn hóa” được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội Là một từ có nhiều cách hiểu khác nhau, đôi khi chúng được đồng nhất hóa với trình độ học vấn, cách ứng xử, lối sống Theo thống kê hiện nay có khoảng hơn 200 định nghĩa khác nhau về văn hóa Tùy theo cách tiếp cận khác nhau
mà các nhà nghiên cứu về văn hóa nhấn mạnh vào một khía cạnh nào đó, ở những góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà nghiên cứu đưa ra những định nghĩa , những quan niệm khác nhau về “văn hóa”
Giáo sư Hà Văn Tấn nhà nghiên cứu về văn hóa Việt Nam định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa là hệ thống ứng xử của con người với thiên nhiên và xã hội trong hoạt động sinh tồn và phát triển của mình Nói khác đi văn hóa là sản phẩm hoạt động của con người trong mối quan hệ tương tác với tự nhiên và xã hội diễn ra trong không gian, thời gian và hoàn cảnh nhất định” [24,tr12]
Với cách tiếp cận đơn giản về “văn hóa” Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm về văn hóa như sau: Theo nghĩa rộng, văn hoá thường được xem là bao gồm tất cả những gì do con người sáng tạo ra Năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng, toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [14, tr431]
Theo Giáo trình Quản lý nhà nước về Văn hóa, Giáo dục - Y tế của Học viện Hành chính quốc gia định nghĩa: “Văn hóa là tất cả những gì do con người sản xuất ra: công cụ, biểu trưng, thiết chế, hoạt động, các quan niệm, tín ngưỡng Đó là những sản phẩm nhân tạo, được truyền đạt từ thế hệ này qua thế hệ khác.[13, tr11]
Trang 11Có thể thấy, mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về “văn hóa” Nhưng nhìn chung trong các định nghĩa, các quan niệm của các nhà nghiên cứu đưa ra đều hàm chưa những đặc trưng cơ bản đó là:
- Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị về văn hóa vật chất, văn hóa xã hội, văn hóa tinh thần của một cộng đồng người sáng tạo ra qua quá trình lao động thực tiễn, trong môi trường sống nhất định
- Văn hóa bao gồm các giá trị, trong đó có các giá trị về vật chất, giá trị về tinh thần, giá trị thuộc về đời sống xã hội của một cộng đồng nguwòi thông qau các hoạt động thực tiễn của con người đã tạo ra các giá trị ấy
- Văn hóa được hình thành qua một quá trình và được tích lũy qua thời gian dài, qua các thế hệ Là thành tựu của một cộng đồng người qua quá trình tương tác giữa con người với con người , con người với môi trường xã hội, tự nhiên được sáng tạo ra và ngày một hoàn thiện hơn
- Văn hóa là hiện tượng thuộc về xã hội loài người, nó gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người, do cộng đồng con người sáng tạo ra, thuộc về con người và phục vụ cho con người
Như vậy, qua quá trình lao động thực tiễn, con người đã tạo ra những sản phẩm
có giá trị vật chất (văn hóa vật thể), những sản phẩm mang những giá trị về tinh thần (văn hóa phi vật thể) được con người sáng tạo nên, được tích lũy qua thời gian nhằm phục vụ cho đời sống về vật chất, đời sống tinh thần của con người trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên, và giữa con người với môi trường xã hội
Trang 12người ta đã cảm nhận được quá khứ, và từ những thông tin của quá khứ tìm đến với truyền thống lịch sử, những giá trị đạo đức, thẩm mỹ, tín ngưỡng, tâm linh
Cho đến nay, có rất nhiều cách hiểu, cách tiếp cận khác nhau đối với thuật ngữ
“di sản văn hóa”
Theo điều 1, Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới (Đã được thông qua tại kỳ họp thứ 17 của Đại hội đồng UNESCO tại Paris ngày 16/11/1972),
di sản văn hóa là:
Các di tích: Các công trình kiến trúc, điêu khắc hoặc hội họa hoành tráng, các yếu
tố hay kết cấu có tính chất khảo cổ, các văn bản, các hang động và các nhóm yếu tố có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học
Các quần thể: Các nhóm công trình xây dựng đứng một mình hoặc quần tụ có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học, do kiến trúc,
sự thống nhất của chúng hoặc sự nhất thể hóa của chúng vào cảnh quan
Các thắng cảnh: Các công trình của con người hoặc những công trình của con người kết hợp với các công trình của tự nhiên, cũng như các khu vực, kể cả các di chỉ khảo cổ học, có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học
Ở Việt Nam, có rất nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về văn hóa và di sản văn hóa, họ đã đưa ra các cách hiểu khác nhau về di sản văn hóa trên nhiều khía cạnh, tuy nhiên đều thống nhất định hướng chung theo quy định của pháp luật Luật Di sản văn hóa 2001 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: “Di sản văn hóa
là tài sản quý giá của cộng đồng”
Theo tổ chức UNESCO tại phiên họp thứ 23 (10/2003) đã thống nhất quan niệm: DSVH bao gồm DSVH phi vật thể và DSVH vật thể
DSVH phi vật thể bao gồm: Tiếng nói, chữ viết của các dân tộc Việt Nam; Ngữ văn dân gian (bao gồm sử thi, ca dao, dân ca, tục ngữ, hò, về, câu đối, truyện cổ tích, truyện trạng, truyện cười, truyện ngụ ngôn, hát ru và các biểu đạt khác được chuyển tải bằng lời nói hoặc ghi chép bằng chữ viết; Nghệ thuật trình diễn dân gian (bao gồm âm nhạc, múa, hát, sân khấu và các hình thức trình diễn dân gian khác); Tập quán xã hội và tín ngưỡng (bao gồm luật tục, hương ước, chuẩn mực đạo đức nghi lễ và các phong tục khác); Lễ hội truyền thống: Nghề thủ công truyền thống; Tri thức dân gian (bao gồm tri thức về thiên nhiên, đời sống con người, lao động sản xuất, y, dược học cổ truyền, ẩm thực, trang phục và các tri thức dân gian khác
Trang 13DSVH phi vật thể rất dễ bị biến dạng hoặc mất đi vĩnh viễn bởi sự vô ý thức của con người, thời gian Trên thực tế, người ta thường có xu hướng thêm hoặc bớt, hay lãng quên trong quá trìnnh lưu giữ DSVH phi vật thể Do đó, văn hóa phi vật thể vừa có tính bền vững trong ý thức cộng đồng, vừa có tính mong manh, dễ bị mai một, biến dạng tùy thuộc vào cuộc sống của một cá nhân, nghệ nhân với những may rủi bất ngờ trong cuộc sống Mặt khác, DSVH phi vật thể có nguy cơ biến dạng rất cao bởi tính dị bản của nó do sự can thiệp của các nhóm, tầng lớp xã hội qua các thời đại
Di sản văn hóa vật thể: Là những sản phẩm văn hóa có hình tượng, có thể “sờ thấy được” Văn hóa vật thể là một dạng thức tồn tại của văn hóa chủ yếu dưới dạng vật thể có chiều cao, chiều rộng, trọng lượng, đường nét, hình khối, màu sắc, kiểu dáng, nó được tồn tại trong không gian, thời gian xác định DSVH vật thể đượcc tạo nên từ đôi bàn tay khéo léo của con người, nó mang dấu ấn lịch sử thời đại rõ nét Văn hóa vật thể được khách thể hóa và tồn tại như một khách thể bên ngoài con người DSVH vật thể luôn đứng trước những nguy cơ biến mất hoặc biến dạng, thay đổi nhiều
Theo Hán việt tự điển của Thiều Chửu di tích được hiểu như sau:
- Di: sót lại, rớt lại, để lại;
- Tích: tàn tích, dấu vết;
- Di tích: tàn tích, dấu vết còn để lại của quá khứ
Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý
nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử
Theo giáo trình “Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa” của trường Đại học văn hóa
đã đưa ra một khái niệm khoa học về di tích như sau: “Là những không gian vật chất
cụ thể, khách quan trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử; do tập thể hoặc
cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại”
Trang 14Như vậy, Di tích là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học Trong đó di vật được hiểu là “hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học và có từ 100 năm tuổi trở lên”; bảo vật quốc gia được hiểu là “hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm về các mặt lịch sử, văn hóa, khoa học”
Theo Luật di sản văn hóa, các di tích được phân thành 3 loại sau:
- Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương;
- Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia;
- Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; quyết định việc đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc xem xét đưa
di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới
+ Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu
+ Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật
Như vậy, di tích lịch sử văn hóa là những địa điểm, công trình xây dựng với quy mô và tính chất khác nhau, ở đó lưu giữ và ghi lại những dấu ấn về các sự kiện, nhân vật lịch sử tiêu biểu có tác động, ảnh hưởng sâu sắc, trực tiếp hoặc gián tiếp đến tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của địa phương, dân tộc và đất nước
Trang 151.1.2.3 Đặc điểm của di tích lịch sử văn hóa
- Di sản, di tích lịch sử văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta (Luật di sản văn hóa)
- Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng là nguồn tài nguyên du lịch
vô cùng quan trọng, sự độc đáo, phong phú, đa dạng của hệ thống này tạo nên sức hấp dẫn kỳ lạ đối với du khách Giá trị của hệ thống di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh mang lại cho du khách những hiểu biết về lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương, những tri thức về đặc điểm tự nhiên, những giá trị thẩm mỹ, những khoảnh khắc thư giãn, nghỉ ngơi
- Di tích lịch sử - văn hóa là những bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng, minh chứng về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Di tích giúp cho con người biết được cội nguồn của dân tộc mình, hiểu về truyền thống lịch sử, đặc trưng văn hóa của đất nước và do đó có tác động ngược trở lại tới việc hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại
- Di tích lịch sử - văn hóa chứa đựng những giá trị vật chất và tinh thần to lớn, nếu bị mất đi không đơn thuần là mất tài sản vật chất, mà là mất đi những giá trị tinh thần lớn lao không gì bù đắp nổi Đồng thời, di tích còn mang ý nghĩa là nguồn lực cho phát triển kinh tế xã hội, một nguồn lực rất lớn, sẵn có nếu được khai thác, sử dụng tốt sẽ góp phần không nhỏ cho việc phát triển kinh tế đất nước và nó càng có ý nghĩa to lớn khi đất nước đang rất cần phát huy tối đa nguồn nội lực để phát triển
Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh có giá trị to lớn và là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô giá của đất nước, mang theo những đặc điểm sau: + Đặc điểm tự thân
- Hệ thống di tích danh thắng có quy mô vừa và nhỏ, phân bố tương đối tập trung
và thường gắn với các khu dân cư
- Chủ yếu vươn theo chiều rộng, chiều ngang, trang trí điêu khắc dày đặc, thiên nhiên được phản ánh đa dạng sinh động
- Chủ yếu tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ
- Hệ thống di tích lịch sử mang trên mình nhiều dấu ấn lịch sử
+ Đặc điểm xã hội
- Xã hội Việt Nam phong kiến với nền kinh tế tiểu nông, gắn bó mật thiết với
nông thôn, nông dân Người dân chủ yếu sống theo hương ước, phong tục tập quán
Trang 16hình thành nên đặc sắc của văn hóa nông nghiệp
- Trong quá trình xây dựng nền văn hóa thì có quá trình giao thoa và tiếp biến
văn hóa với nhiều quốc gia
Văn hóa Việt Nam, thời phong kiến nói chung cũng như di tích lịch sử văn hóa nói riêng, là kết quả của một quá trình phát triển lâu dài, có những cái cải biến, cóp nhặt về văn hóa từ bên ngoài để tạo nên những giá trị văn hóa nội sinh
+ Đặc điểm khác
- Dấu ấn cội nguồn,
- Dấu ấn lịch sử dựng và giữ nước,
- Dấu ấn lối sống,
- Dấu ấn gắn với tôn giáo tín ngưỡng,
- Bản sắc Việt Nam,
- Phong cách phương Đông,
- Tâm hồn và lối sống Việt Nam
1.1.3 Khái niệm quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa
1.1.3.1 Quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là một dạng của quản lý xã hội, là sự tác động có
tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật của nhà nước đối với các quá trình xã hội, các hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội cũng như trật tự pháp luật nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước
Hiểu theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước từ hoạt động lập pháp, hành pháp đến tư pháp Hoạt động quản lý nhà nước được thực hiện bởi các cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức chính trị kinh tế xã hội
và đoàn thể quần chúng, các đơn vị địa phương, công dân chấp hành pháp luật theo quy định của Nhà nước Hiểu theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động của quyền hành pháp, tức là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan quản lý nhà nước Hoạt động quản lý của Nhà nước chủ yếu được thực hiện bởi các cơ quan hành chính nhà nước bao gồm: Chính phủ, Bộ, các cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân
Bản chất của quản lý nhà nước là thực thi quyền lực nhà nước Quyền lực nhà nước được ghi nhận và củng cố bằng pháp luật và được thực hiện bởi bộ máy nhà nước với cơ sở vật chất – tài chính to lớn, bằng phương pháp
Trang 17thuyết phục và cưỡng chế Hoạt động quản lý nhà nước bao gồm quyền ban hành tất
cả các văn bản pháp luật, quản lý hành chính, tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, kiểm soát nhắm phối hợp để đưa pháp luật vào cuộc sống nhằm đạt được mục tiêu quản lý của nhà nước
Với cách hiểu chung về quản lý nhà nước trên sẽ là cơ sở cho việc đi vào việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở một lĩnh vực cụ thể - di tích lịch sử
Quản lý nhà nước hoạt động được bảo đảm về phương diện tổ chức bộ máy, mang tính chính trị, tính dân chủ, khoa học và là hoạt động có cơ sở vật chất to lớn
Trong luận văn này, tác giả tiếp cận khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp, đó là quá trình tác động có tổ chức và được điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước của các cơ quan trong hệ thống hành pháp từ Trung ương đến địa phương tiến hành tác động đến các mối quan hệ, các hành vi của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nhằm duy trì trật tự, kỷ cương pháp luật theo mục tiêu, định hướng của nhà nước
1.1.3.2 Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa
Theo PGS.TS Đặng Văn Bài: “Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa là thiết lập cơ sở pháp lý và khoa học- công cụ quản lý để tác động đến đối tượng bị
quản lý nhằm đạt được những mục tiêu cơ bản đã đặt ra
Về bản chất, quản lý di tích lịch sử văn hóa là quản lý các hoạt động của con người/cộng đồng xã hội (nghiên cứu, kiểm kê, xếp hạng, tu bổ, tôn tạo, phát huy giá trị, ) có thể tác động ở cả hai chiều thuận và nghịch tới di tích lịch sử văn hóa Như vậy, cũng có thể hiểu, quản lý di tích lịch sử văn hóa là thiết lập mối quan hệ gắn bó giữa cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa với các tổ chức, các đơn vị sự nghiệp và cộng đồng dân cư địa phương nơi có những di tích lịch sử cần được bảo vệ, phát huy Trong hoạt động quản lý di sản văn hóa nói chung và di tích lịch sử văn hóa nói riêng thì việc ban hành các văn bản pháp luật sẽ tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý là việc làm tối cần thiết Vì vậy, trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước do nhận thức rõ tầm quan trọng của văn hóa trong đó có di sản văn hóa đối với sự phát triển bền vững của đất nước, Đảng và Chính phủ đã có nhiều quyết sách, ban hành các văn bản pháp luật về quản lý di sản văn hóa nói chung, di tích lịch sử nói riêng phù 19 hợp với điều kiện lịch sử cụ thể trong từng giai đoạn phát triển của đất nước
Trang 18Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa là hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền trong việc sử dụng quyền lực nhà nước để xây dựng, ban hành và tổ chức thực thi pháp luật về văn hóa và di sản văn hóa Đồng thời sử dụng các công cụ chính sách, pháp luật để quản lý, tuyên truyền giáo dục, kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật; xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành
vi vi phạm pháp luật về di tích lịch sử văn hóa nói riêng, di sản văn hóa nói chung nhằm bảo vệ và phát huy một cách tối đa giá trị thực sự của nó góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Như vậy, quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa là quá trình tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước của các cơ quan QLNN về văn hóa từ Trung ương đến địa phương đối với các di tích lịch sử văn hóa thông qua các công cụ
vĩ mô như pháp luật, chính sách, tài chính…nhằm bảo vệ và phát huy những giá trị của di tích lịch sử văn hóa góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Trên cơ sở tiếp cận khái niệm QLNN về di sản lịch sử văn hóa như trên, có thể thấy các yếu tố cấu thành hoạt động QLNN về DTLSVH bao gồm:
Một là, chủ thể quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa là Nhà nước Nhà nước Việt Nam được tổ chức thống nhất từ Trung ương đến các địa phương, quyền quản lý được phân cấp: Cấp trung ương, cấp tỉnh (tỉnh và các thành phố trực thuộc Trung ương), cấp huyện (huyện thuộc tỉnh, quận thuộc thành phố), cấp xã (xã thuộc huyện, phường thuộc quận) Quản lý nhà nước về văn hóa ở cấp nào thì cơ quan nhà nước cấp ấy là chủ thể quản lý Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa ở cấp xã thì ủy ban nhân dân xã là chủ thể quản lý nhà nước Công chức làm công tác văn hóa
- xã hội ở cấp xã có trách nhiệm giúp ủy ban nhân dân cấp xã quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn cấp xã
Hai là, khách thể quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa là các di tích hiện hữu, các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực di sản văn hóa hoặc có liên quan đến lĩnh vực đó
Ba là, mục đích quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa là bảo tồn, tôn tạo, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa truyền thống của Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Tuy nhiên, trong hoạt động quản lý nhà nước di tích lịch sử văn hóa ở từng cấp, từng địa phương, từng hoạt động
Trang 19thì mục đích quản lý nhà nước về văn hóa phải được xác định cụ thể sát với yêu cầu nhiệm vụ và hoàn cảnh của địa phương
Bốn là, cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa là Hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm pháp luật Như vậy, quản lý nhà nước về văn hóa nói chung và quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa nói riêng có công cụ là hệ thống luật và các văn bản có tính pháp quy Quản lý bằng pháp luật chứ không phải bằng ý chí của nhà quản lý
Năm là, cách thức quản lý là “sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích” thông qua các công cụ vĩ mô chứ không phải là việc làm có tính thời vụ, cũng không phải là sự thụ động của nhà quản lý, càng không phải là hoạt động đơn lẻ, tùy tiện của nhà quản lý
1.2 Vai trò và sự cần thiết về di tích lịch sử văn hóa
1.2.1 Vai trò của quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa
1.2.1.1 Vai trò định hướng, điều tiết việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch
sử văn hóa
- Vai trò định hướng của Nhà nước thể hiện rõ trong chức năng của Nhà nước là xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa Tùy theo từng cấp quản lý để xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát huy giá trị của DTLSVH Theo định kỳ 10 năm Chính phủ ban hành mới chiến lược phát triển văn hóa từng giai đoạn, ở địa phương xây dựng kế hoạch ngắn hạn hoặc kế hoạch 5 năm để vạch ra hướng đi và các phương án nhằm bảo vệ, phát huy giá trị di
tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quản lý
- Vai trò điều tiết hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa:
Do nhiều yếu tố tác động làm cho các giá trị di tích bị mai một; Tác động của
cơ chế thị trường, thương mại hóa văn hóa, nhận thức, ý thức của người dân về bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa còn chưa cao Nhà nước bằng quyền lực của mình điều chỉnh các mối quan hệ đó, điều tiết nguồn lực để bảo vệ và phát huy
giá trị di tích lịch sử văn hóa
Chỉ có nhà nước với chức năng quản lý toàn diện, bằng hệ thống chính sách, pháp luật, bộ máy tổ chức và các công cụ hữu hiệu mới định hướng và điều tiết các biện pháp bảo vệ và phát huy giá trị DTLSVH
Trang 201.2.1.2 Vai trò hỗ trợ và tạo môi trường, điều kiện cần thiết để bảo vệ di tích lịch sử văn hóa
Trong bối cảnh các di tích lịch sử văn hóa mang giá trị văn hóa truyền thống, đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ và thách thức, sự tham gia quản lý của nhà nước
sẽ đóng vai trò “bà đỡ” cho các hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị của các di tích lịch sử văn hóa truyền thống, giá trị văn hóa các dân tộc và các giá trị văn hóa
đặc thù Sự hỗ trợ của nhà nước được biểu hiện bằng nhiều hình thức khác nhau:
- Hỗ trợ trực tiếp: Thông qua việc trực tiếp đầu tư và huy động các nguồn lực xã hội đầutư chodi tích lịch sử, xây dựng các chương trình, dự án, các kế hoạch tổ chức
triển khai và thực thi chính sách, pháp luật về quản lý di tích lịch sử
- Hỗ trợ gián tiếp: Thông qua hệ thống chính sách, pháp luật, chiến lược phát triển văn hóa, việc tuyên truyền, vận động, khích lệ cộng đồng về tư tưởng, ý thức và
sự tự giác trong hưởng thụ, sáng tạo, giữ gìn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa Hỗ trợ thông qua việc xây dựng cơ chế hoạt động dựa trên những đặc thù của đối
tượng quản lý di tích lịch sử
1.2.1.3 Vai trò kiểm soát các hoạt động bảo vệ và phát huy di tích lịch sử văn hóa
Nhà nước, với những biện pháp vừa cấp bách, vừa lâu dài, cương quyết mới đưa các DTLSVH được bảo tồn vá phát triển đúng hướng, ngăn chặn mọi âm mưu thủ đoạn lợi dụng giá trị DTLSVH vì những mục đích đi ngược lại với đường hướng
phát triển của đất nước
- Sự quản lý chặt chẽ của nhà nước đối với các di tích lịch sử văn hóa nhằm hạn chế đến mức tối đa những tác động tiêu cực đến sự hình thành nhân cách, lối sống của người dân Việt Nam Đồng thời ngăn chặn những nguy cơ lợi dụng, gây hại đến các
DTLS truyền thống của dân tộc
- QLNN về các DTLSVH sẽ giúp cho hệ thống các di tích lịch sử văn hóa phát triển đồng bộ, cân đối, giữ nguyên giá trị đích thực của di tích để lưu truyền cho thế
hệ sau
- Nhà nước bằng các nội dung và phương thức quản lý phù hợp, hữu hiệu sẽ đảm bảo thực hiện tốt những mục tiêu trước mắt và lâu dài cho sự phát huy giá trị các DTLSVH Quá trình hội nhập sẽ tạo cơ hội cho sự phát triển nhưng cũng dẫn tới nguy cơ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc Điều chỉnh các hoạt động quản lý các
DTLSVH theo định hướng mục tiêu chính trị và vì lợi ích cộng đồng, xã hội
Trang 21Tóm lại, với chức năng quản lý, nhà nước đóng vai trò tiên quyết trong sự phát triển các DTLSVH theo hướng ổn định và bền vững
1.2.2 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa
1.2.2.1 Xuất phát từ vai trò di tích lịch sử văn hóa đối với sự phát triển
Di tích lịch sử văn hóa có vai trò là tài sản quý giá của cộng đồng trong xu thế hội nhập quốc tế, các quốc gia, dân tộc phải hướng tới việc tôn trọng sự đa dạng văn hóa và bảo vệ, tôn vinh bản sắc văn hóa dân tộc để tạo nên nền tảng tinh thần cho quá trình hội nhập và phát triển
Di tích lịch sử văn hóa được xác định là bộ phận quan trọng cấu thành môi trường sống của con người, là tài sản quý giá không thể tái sinh và không thể thay thế nhưng rất dễ bị biến dạng do tác động của các yếu tố ngoại cảnh (khí hậu, thời tiết, thiên tai, chiến tranh, sự phát triển kinh tế một cách ồ ạt, sự khai thác không kiểm soát chặt chẽ ”
Di tích lịch sử văn hóa đã góp phần tô điểm, làm sáng thêm truyền thống yêu nước, đồng thời thể hiện tinh thần yêu chuộng hòa bình tự do của người dân Việt Nam Ngày nay, việc phát huy các giá trị của DTLSVH có vai trò quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, truyền thống đấu
tranh cách mạng, những giá trị nhân văn sâu sắc
Di tích lịch sử văn hóa là nguồn lực để phát triển kinh tế và du lịch: Di tích chứa đựng những giá trị kinh tế to lớn nếu bị mất đi không đơn thuần là mất tài sản vật chất, mà là mất đi những giá trị tinh thần lớn lao không gì bù đắp nổi Hàng năm vào dịp lễ hội đầu xuân, các DTLSVH đã thu hút được hàng vạn lượt khách tham quan, du lịch Có thể nhận thấy rằng, các DTLSVH là nguồn tài nguyên du lịch vô cùng quan trọng, sự độc đáo, phong phú, đa dạng của hệ thống này tạo nên sức
hấp dẫn kỳ lạ đối với du khách, có tiềm năng to lớn
1.2.2.2 Xuất phát từ vai trò, chức năng của các cơ quan quản lý nhà nước
Nói đến quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa là nói đến các công việc
mà các cơ quan quản lý nhà nước phải thực hiện theo thẩm quyền phù hợp với chức năng, nhiệm vụ để quản lý các di sản, di tích lịch sử văn hóa Chỉ có nhà nước với chức năng quản lý toàn diện, bằng hệ thống chính sách, pháp luật, bộ máy tổ chức và các công cụ hữu hiệu mới định hướng và điều tiết các biện pháp bảo vệ
và phát huy giá trị DTLSVH
Trang 221.2.2.3 Xuất phát từ thực tiễn quản lý nhà nước về di tích lịch sử còn nhiều hạn chế
Bên cạnh các kết quả đạt được, công tác quản lý di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh vẫn còn nhiều hạn chế như: đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn về bảo tồn và phát huy giá trị di tích của các cấp chưa đáp ứng được yêu cầu; số lượng di tích xuống cấp lớn; việc khoanh vùng bảo vệ di tích khi lập hồ sơ xếp hạng trước luật Di sản văn hóa năm 2001 còn có những bất cập; hiện tượng tranh giành khách, chặn xe đón khách, đặt nhiều hòm công đức, bán lộc, đổi tiền lẻ; tự nâng giá hàng dịch vụ vẫn còn xảy ra ở một vài điểm di tích có đông khách tham quan, hành hương; một vài địa phương vẫn để xảy ra việc tự ý tu bổ, tôn tạo làm biến dạng các công trình kiến trúc gốc, sai lệch giá trị di tích
Mặt khác, tình trạng chồng chéo trong quản lý tài nguyên du lịch cũng diễn ra trong việc xậy dựng và thực hiện những quy hoạch phát triển của các ngành, các địa hương Nhìn chung, những quy hoạch này chưa tạo được sự kế thừa, tôn trọng lẫn nhau để tạo thành sự phối kết hợp một cách đồng bộ Chính vì vậy, đã và đang có không ít mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình quản lý bảo vệ và khai thác, sử dụng các
di sản văn hóa nói riêng và các tài nguyên du lịch nói chung
Xét về chất liệu, các di tích lịch sử được xây dựng trên nhiều loại chất liệu khác nhau: di tích xây dựng bằng đất, gạch, ngói và các cấu kiện gỗ ; Ngoài một số
di tích là thành và các di tích khảo cổ học, phần lớn những di tích lịch sử tồn tại đến ngày nay đều làm bằng gỗ (bộ khung, mái, cấu kết kiến trúc nghệ thuật, điêu khắc ) Đây là loại chất liệu dễ bị hư hỏng theo thời gian do khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều và bão lũ Thực tiễn cũng chỉ ra nhiều công trình đình, đền, chùa có niên đại sớm, mang giá trị lịch sử văn hóa của đất nước đang đứng trước nguy cơ xuống cấp nghiêm trọng Một số chủ đầu tư chưa chú trọng lựa chọn đơn vị tư vấn, thi công tu
bổ tôn tạo di tích có năng lực và kinh nghiệm, vì vậy cũng đang là cản trở, là nguyên nhân chủ yếu của việc chưa đảm bảo chất lượng công trình tu bổ di tích
Trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về bảo vệ và khai thác, phát huy các di sản, phát triển du lịch hiện nay, tại hầu hết các khu di sản văn hóa, thiên nhiên là tài nguyên du lịch và ngay trong các khu di tích đã được khoanh vùng bảo vệ, các khu du lịch đã có ranh giới, đã đang và vẫn diễn ra tình trạng lộn xộn, chồng chéo, tranh giành các quyền lợi- đặc biệt là các lợi ích vật chất nhưng lại né tránh, đùn đẩy trách nhiệm quản lý giữa các ngành, các cấp
Trang 23Rõ ràng là, tình trạng nói trên đã và đang làm ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động khai thác du lịch, dẫn đến hậu quả di tích bị xâm phạm, tài nguyên bị suy giảm, môi trường bị ô nhiễm, suy thoái, hiệu quả khai thác kinh doanh du lịch không cao Do đó rất cần thiết Nhà nước phải quản lý chặt chẽ
1.2.2.4 Quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về bảo vệ phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa
Có thể hiểu, văn hóa luôn gắn bó máu thịt với dân tộc và tư tưởng, chính trị, đồng thời còn được nhìn nhận là loại hàng hóa đặc biệt bởi vậy các quốc gia luôn hướng hoạt động văn hóa vào 3 mục tiêu lớn là: bảo vệ di sản và khuyến khích hoạt động sáng tạo; đảm bảo sự tiếp cận bình đẳng của tất cả mọi người đối với văn hóa; tạo
cơ hội cho tất cả mọi người tham gia vào sáng tạo, phổ biến và hưởng thụ văn hóa Các di tích lịch sử ngày nay không chỉ đáp ứng nhu cầu về đời sống văn hoá
và tinh thần của người dân mà còn thực sự góp phần vào việc thúc đẩy kinh tế du lịch phát triển Trùng tu, tôn tạo di tích luôn đặt ra mục tiêu là tăng thêm tính hữu ích và tính kinh tế của di tích
Từ Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đã xác định rõ các nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện, trong đó có nhiệm vụ bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc là nhiệm vụ then chốt của chiến lược phát triển văn hóa Tập trung điều tra toàn diện, nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn và phát huy giá trị
di tích lịch sử - văn hóa và văn hóa phi vật thể; các loại hình nghệ thuật cổ truyền đặc sắc, văn hóa dân gian của từng địa phương, từng vùng văn hóa, từng vùng dân tộc; nghề thủ công truyền thống, lễ hội tiêu biểu, kho tàng Hán Nôm Kết hợp phải hài hòa việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa với các hoạt động phát triển kinh
tế, du lịch bền vững
Đảng và Nhà nước đã đưa ra quan điểm định hướng phải bảo tồn các giá trị nguyên gốc và bảo đảm tính chân xác trong công tác trùng tu di tích, nhằm bảo tồn nguyên vẹn giá trị các di tích lịch sử văn hóa và giữ gìn, phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa dân tộc Phải khắc phục những hạn chế trong quản lý di tích lịch sử văn hóa thông qua các chính sách, pháp luật của Nhà nước bằng quyền lực, chính sách của mình
Các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện điều tra, sưu tầm, xây dựng ngân hàng
dữ liệu về văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể tiêu biểu.Đầu tư trang thiết bị kỹ thuật hiện đại để bảo quản, giữ gìn lâu dài tài liệu, hiện vật tại các bảo tàng, cơ quan
Trang 24lưu trữ tư liệu lịch sử, văn hóa, nghệ thuật ở trung ương và địa phương Thực hiện các hình thức tôn vinh các nghệ sĩ, nghệ nhân tiêu biểu và cơ chế chính sách để các nghệ nhân phổ biến, truyền dạy nghề cho các thế hệ
Phải bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam vì sự phát triển bền vững Đảng và Nhà nước ta đã xác định mỗi di tích lịch sử văn hóa đều có giá trị lịch sử và khoa học, cho nên việc bảo tồn, trùng tu nhằm gìn giữ tính nguyên gốc
và chân xác của di tích là một tiêu chuẩn cực kỳ quan trọng trong khoa học bảo tồn nói chung và trùng tu di tích nói riêng Do đó để hạn chế những bất cập trong quản lý di tích, để di tích không bị xâm phạm thì việc tăng cường QLNN về di tích lịch sử văn hóa trong giai đoạn hiện nay là vấn đề cấp thiết
1.3 Yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa
1.3.1 Quan điểm chính trị
Văn hóa nói chung, di sản văn hóa nói riêng được khẳng định là bộ phận hữu cơ trong quá trình phát triển kinh tế xã hội Kinh tế và văn hóa là những yếu tố có mối liên hệ mật thiết, phụ thuộc và tác động tương hỗ, bổ sung lẫn nhau Hơn nữa trong cấu trúc nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, việc bảo tồn di sản văn hóa phải đặt ra nhiệm vụ phục vụ nhu cầu phát triển bằng cách tác động tới việc giáo dục, bồi dưỡng nhân cách con người và đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho phát triển Do đó bảo tồn di sản văn hóa phải vì mục tiêu phát triển bền vững và luôn gắn với phát triển kinh tế - xã hội
Mỗi quốc gia có nền tảng quan điểm, tư tưởng để bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của riêng mình, nhưng đối với các di sản, các giá trị văn hóa không chỉ là giá trị của riêng quốc gia mà còn là giá trị chung của nhân loại Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập quốc tế, các quốc gia luôn tuân thủ định hướng lớn là: tôn trọng sự đa dạng văn hóa, bảo vệ và tôn vinh bản sắc văn hóa dân tộc làm nền tảng tinh thần và động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, trong đó có mục tiêu xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Với ý thức rằng “đa dạng văn hóa tạo nên một thế giới phong phú và đa dạng, gia tăng các lựa chọn và nuôi dưỡng khả năng và giá trị của con người, và vì vậy, đa dạng văn hóa là một động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững cho các cộng đồng, các dân tộc và các quốc gia”, UNESCO đã trịnh trọng tuyên bố trong lời nói đầu Công ước Bảo vệ và phát huy sự
đa dạng của các biểu đạt văn hóa được thông qua tại phiên họp lần thứ 33 tổ chức tại Paris từ ngày 3 đến 21-10-2005 Là một quốc gia đa tộc người như Việt Nam, quan
Trang 25điểm tôn trọng sự đa dạng văn hóa càng có ý nghĩa cấp thiết hơn bao giờ hết Đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và giao lưu văn hóa với thế giới, chúng ta cần phải quan tâm bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc để hội nhập
mà không bị hòa tan
Quan điểm chính trị chi phối mục tiêu cũng như đường hướng hoạt động quản lý Quan điểm, tư tưởng của các nhà lãnh đạo, quản lý có vai trò định hướng đối với hoạt động quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn; khuyến khích các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di tích mà vẫn giữ nguyên được giá trị nguyên gốc của các di tích lịch
sử văn hóa theo định hướng; phát huy những mặt tốt của các hoạt động quản lý nhà nước về di tích lịch sử, và hạn chế những tiêu cực của nó; tạo lập sự cân đối trong phát triển; kiểm soát và phân phối nguồn lực cho quá trình phát huy các giá trị lịch sử văn hóa dân tộc; tạo lập môi trường thích hợp cho các hoạt động quản lý các di tích, giúp cho các thực thể vận động phát triển theo đúng quy luật; phối hợp hoạt động giữa các cấp độ, các bộ phận để tạo nên tính hệ thống chặt chẽ trong quá trình quản lý Quan điểm chính trị về phát triển văn hóa, bảo tồn và phát huy các giá trị di tích lịch sử văn hóa có tác động, chi phối lớn đến hoạt động quản lý nhà nước, quan điểm đúng đắn sẽ tạo tiền đề thực hiện các hoạt động quản lý hiệu quả, phù hợp với định hướng và mục tiêu đặt ra
1.3.2 Chính sách, pháp luật của nhà nước
Chính sách, pháp luật là những công cụ cơ bản để thực hiện chức năng quản lý nhà nước, do đó nó có ảnh hưởng lớn đến hoạt động QLNN nói chung, hoạt động QLNN về DTLSVH nói riêng Các văn bản pháp luật tạo hành lang pháp lý cho việc
quản lý các DTLSVH, thực hiện bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa
Chính sách, pháp luật nhà nước có vai trò định hướng, điều chỉnh nhằm phát huy những mặt tốt và hạn chế những tiêu cực của các hoạt động quản lý nhà nước về
di tích lịch sử; kiểm soát và phân phối nguồn lực cho quá trình phát huy các giá trị lịch sử văn hóa dân tộc; tạo lập môi trường thích hợp cho các hoạt động quản lý các
di tích; phối hợp hoạt động giữa các cấp độ, các bộ phận để tạo nên tính hệ thống chặt
chẽ trong quá trình quản lý hiệu quả các DTLSVH
Nếu các văn bản, chính sách được ban hành và thực hiện một cách đầy đủ,
nhất quán thì hoạt động QLNN về di tích lịch sử văn hóa sẽ hiệu quả hơn rất nhiều
Ngược lại, các chính sách pháp luật cần phải có tính chính xác, kịp thời Nếu một vấn đề phát sinh liên quan đến di tích không được hướng dẫn giải quyết chính
Trang 26xác có thể sẽ gây ra tác hại to lớn và nếu vấn đề mang tính cấp bách mà không được giải quyết thì sẽ để lại hậu quả khó lường
1.3.3 Trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức
Thực tiễn cho thấy, việc bảo tồn di sản, tu bổ di tích có chất lượng cao được quyết định bởi sự phát triển tương xứng của nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực này, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực quản lý văn hóa Ở Việt Nam, hoạt động bảo tồn, tu bổ di tích diễn ra sôi động trong giai đoạn vừa qua đã bộc lộ những hạn chế, do nhiều nguyên nhân, nhưng một nguyên nhân quan trọng bắt nguồn
từ nguồn nhân lực (đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao) chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế và mức độ tăng trưởng của hoạt động bảo tồn, tu bổ di tích
Quyết định 581/QĐ-TTg ngày 6/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020 có nhận định “Đội ngũ những người làm công tác bảo tồn trong cả nước còn thiếu về số lượng, tính chuyên nghiệp chưa cao, lúng túng trong việc xử lý những vấn đề phức tạp do thực tiễn đặt ra, làm ảnh hưởng đến chất lượng bảo tồn và tôn tạo di tích, thậm chí làm sai lệch, biến dạng tính nguyên gốc của di tích”
Luật Di sản văn hóa được sửa đổi bổ sung năm 2009 và sau đó là Thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL Quy định chi tiết một số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích đã quy định cá nhân chủ trì lập quy hoạch, dự án hoặc chủ trì thi công, giám sát dự án bảo tồn, tu bổ di tích phải có chứng chỉ hành nghề Qua đó vai trò của KTS trong công tác bảo tồn di tích, di sản được nhìn nhận đầy đủ hơn Nhưng cũng vì thế mà năng lực của đội ngũ này sẽ có vai trò quan trọng trong chất lượng của các dự
án Tuy nhiên, hiện nay năng lực của các KTS hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn di sản còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế
Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực quản lý nhà nước và nguồn nhân lực ngành bảo tồn di tích: Xác định hình thức, phương thức đào tạo phù hợp với các điều kiện, hoàn cảnh ở Việt Nam hiện nay, hoàn thiện từ khâu đào tạo KTS chuyên ngành bảo tồn; xây dựng các chương trình đào tạo bổ sung cho KTS, kỹ sư, xây dựng chương trình, giáo trình đào tạo chuẩn; xây dựng, củng cố các cơ sở đào tạo và các cán bộ làm công tác đào tạo nghiệp vụ tu bổ di tích là nhiệm vụ quan trọng
Đào tạo nghiệp vụ bảo tồn di tích là một hoạt động thực hành, do vậy xây dựng chương trình đào tạo nhất thiết phải kết hợp lý thuyết với thực hành Cần phải
tổ chức những hoạt động học tập, nghiên cứu ngay tại di tích, nội dung đào tạo phải
Trang 27có các bài tập thực hành nhằm giải quyết, xử lý các vấn đề cơ bản trong bảo tồn tu bổ
di tích, áp dụng trên những di tích thực tế
Tiến hành đồng thời, song song việc xây dựng đội ngũ chuyên nghiệp trong bảo tồn tu bổ di tích và chuyên nghiệp hóa đội ngũ cán bộ, công chức đang làm hoạt động quản lý trong lĩnh vực này
Xác định nhu cầu về nguồn nhân lực ngành bảo tồn di tích ở Việt Nam giai đoạn hiện nay và các giai đoạn tiếp theo, trên phạm vi toàn quốc và ở các vùng miền, địa phương (khác nhau) Từ đó xây dựng chiến lược và kế hoạch đào tạo thích ứng từng giai đoạn
Mặt khác, phải thường xuyên nâng cao trình độ năng lực và phẩm chất của nhà hoạch định và tổ chức thực thi chính sách, pháp luật mới đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước về DTLSVH trong bối cảnh hiện nay
1.3.4 Nguồn lực tài chính
Ý nghĩa và tầm quan trọng của các di tích đối với đời sống văn hóa, xã hội đã rất rõ ràng, tuy nhiên, để khai thác, phát huy tối đa giá trị các di tích vẫn cần nhiều biện pháp căn cơ, mang tính lâu dài để giải quyết những khó khăn còn tồn tại trong công tác tu bổ, tôn tạo di tích Nguồn lực tài chính là yếu tố quan trọng, quyết định việc triển khai thực hiện bảo tổn, tôn tạo các DTLSVH, không có nguồn lực tài chính không thể thực hiện hoạt động QLNN hiệu quả
Theo quy định của Luật Di sản Văn hóa, nguồn tài chính cho việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa được xác định từ ba nguồn chính là ngân sách nhà nước, các khoản thu từ hoạt động sử dụng, phát huy giá trị di tích và nguồn tài trợ, đóng góp của các tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài Theo đó, tăng cường nguồn lực xã hội hóa là một trong những nguồn quan trọng để bảo tồn và phát huy giá trị các di tích
Để thực hiện tốt hoạt động quản lý nhà nước về DTLSVH rất cần sự chung tay của cộng đồng hay công tác xã hội hóa trong tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử văn hóa phải được quan tâm thực hiện thường xuyên.Việc xã hội hóa được thực hiện dưới nhiều hình thức như, đóng góp bằng tiền, hiện vật, vật tư và công sức Để giải quyết bài toán về nguồn lực, các địa phương cần đẩy mạnh xã hội hóa nhưng cần cẩn trọng trong quá trình thực hiện để tránh phá vỡ kiến trúc công trình
Trang 281.3.5 Ý thức, trách nhiệm và sự tham gia của cộng đồng
Hiện nay việc bảo vệ, giữ gìn các di tích lịch sử văn hóa đã và đang được cả xã hội quan tâm, trong đó ghi nhận những đóng góp rất lớn của cộng đồng Với sự tham gia của cộng đồng, nhiều di tích đã được trùng tu, tu bổ tránh được sự hủy hoại của thiên nhiên, môi trường, đồng thời đưa vào sử dụng, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm thì cũng xuất hiện những hạn chế như: một bộ phận khác cũng vì không nhận thức được ý nghĩa và vai trò của các
di tích văn hóa mà đã vô tình hay cố ý xâm phạm, làm hư hỏng hoặc thất truyền những di tích cha ông để lại xây dựng, tu bổ sai nguyên tắc, làm sai lệch giá trị của di tích Điều này đã đặt ra cho các cơ quan quản lý nhiệm vụ định hướng, giám sát khi huy động các nguồn lực từ cộng đồng trong bảo vệ di tích lịch sử văn hóa
Ý thức, trách nhiệm và sự tham gia tích cực của cộng đồng có vai trò quan trọng,
hỗ trợ cho hoạt động QLNN về DTLSVH hiệu quả
1.4 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa
1.4.1 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di tích lịch sử văn hóa
Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật là chức năng rất quan trọng của các cơ quan quản lý nhà nước Ban hành các văn bản pháp luật để tạo hành lang pháp lý cho các cơ quan chức năng tiến hành các hoạt động quản lý DTLSVH, nhằm thực hiện hóa các yêu cầu, nhiệm vụ và mục tiêu đề ra trước đó, đưa các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển di tích lịch sử văn hóa vào đời sống
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao các giá trị di sản văn hóa dân tộc Ngày 23 tháng 11 năm 1945, sau khi đất nước giành được độc lập, Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 65/SL “Ấn định nhiệm vụ của Đông Phương Bác cổ Học viện” – Sắc lệnh đầu tiên của Nhà nước ta về việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc và cũng là tiền đề của ngày Di sản Văn hóa Việt Nam được tổ chức hàng năm
Các văn kiện Đại hội Đảng III, IV, V xác định cách mạng tư tưởng văn hóa là một trong ba cuộc cách mạng phải tiến hành đồng thời (cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng tư tưởng văn hóa) Hội nghị trung ương 5 khóa VIII cũng thông qua nghị quyết về “Xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, trở thành tư tưởng chỉ đạo cơ bản trong quá trình xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam
Trang 29Năm 2001, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật
Di sản Văn hóa ngày 29/06/2001, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa Việt Nam Ngày 11/11/2002, Chính phủ ban hành Nghị định 92/2002/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản Văn hóa 2001
Luật Di sản Văn hóa đã được sửa đổi năm 2009 cho phù hợp với sự phát triển chung của đất nước Ngày 21/09/2010, Chính phủ ban hành Nghị định 98/2010/NĐ-
CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa
Ngoài ra, Chính phủ, Bộ VHTT&DL cũng đã ban hành nhiều văn bản QPPL khác như:
- Nghị định số 70/2012/NĐ-CP ngày 18 tháng 9 năm 2012 của Chính phủ về việc quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản,
tu bổ, phục hồi di tích lịch sửvăn hóa, danh lam thắng cảnh
- Nghị định số 61/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định điều kiện kinh doanh giám định cổ vật và hành nghề bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh;
- Nghị định số 109/2017/NĐ-CP ngày 21/9/2017 quy định về bảo vệ và quản lý
Di sản văn hóa và thiên nhiên Thế giới ở Việt Nam
- Thông tư liên tịch 19/2013/TTLT-BVHTTDL-BTNMT hướng dẫn bảo vệ
môi trường trong hoạt động du lịch, tổ chức lễ hội, bảo vệ và phát huy các giá trị di tích
- Nghị định 158/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực Văn hóa, Thể thao, Du lịch và Quảng cáo
- Quyết định số 3456/QĐ-BVHTTDL ngày 13/10/2015 của Bộ Văn hóa Thể
thao và Du lịch về việc công bố Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
- Quyết định số 86/2008/QĐ-BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch Ban hành quy chế thăm dò, khai quật khảo cổ; Thông tư số BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia;
04/2010/TT Thông tư số 13/2010/TT04/2010/TT BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch quy định trình tự, thủ tục đề nghị công nhận bảo vật quốc gia;
-Thông tư số 18/2010/TT-BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch quy định về tổ chức và hoạt động của bảo tàng;
Trang 30- Thông tư số 09/2011/TT-BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch quy định về nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh;
- Thông tư số 22/2011/TT-BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch quy định về điều kiện thành lập và hoạt động của cơ sở giám định cổ vật;
- Thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch quy định chi tiết một số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích;
- Thông tư số 19/2012/TT-BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch quy định loại di vật, cổ vật không được mang ra nước ngoài;
- Thông tư số 20/2012/TT-BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch quy định về hồ sơ và thủ tục gửi, nhận gửi tư liệu di sản văn hóa phi vật thể,
di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia;
- Thông tư số 11/2013/TT-BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch quy định về sưu tầm hiện vật của bảo tàng công lập;
- Thông tư số 17/2013/TT-BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch hướng dẫn xác định chi phí lập quy hoạch, dự án, báo cáo Kinh tế - Kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích
- Quyết định số 6269/QĐ-UBND của UBND Thành phố ngày 16/11/2018, về
việc “bổ sung kinh phí cho các huyện, thị xã để thực hiện tu sửa cấp thiết, chống xuống cấp di tích xếp hạng trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2018 (kèm theo danh mục 50 di tích được hỗ trợ trên địa bàn thành phố) Trong đó, giao:“Sở Văn hóa và Thể thao có trách nhiệm phối hợp với UBND các huyện, thị xã hướng dẫn tổ chức thực hiện tu sửa cấp thiết các di tích theo đúng quy định hiện hành của Nhà nước”;
- Quyết định số 6269/QĐ-UBND ngày 16/11/2018 hướng dẫn các huyện, thị xã thực hiện chỉ đạo của UBND Thành phố về việc bổ sung kinh phí cho các huyện, thị
xã để thực hiện tu sửa cấp thiết, chống xuống cấp di tích xếp hạng cấp Quốc gia, cách
mạng kháng chiến trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2018” Trong đó: “Đề nghị UBND các huyện, thị xã có di tích được hỗ trợ tổ chức triển khai, thực hiện Quyết định số 6269/QĐ-UBND ngày 16/11/2018 của UBND thành phố Hà Nội theo đúng Luật Di sản văn hóa và Nghị định; Thông tư hiện hành”;
Các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành là căn cứ để các cơ quan có chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về DTLSVH ban hành các văn bản chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện các hoạt động quản lý cụ thể trên từng địa bàn
Trang 31Như vậy, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa là hoạt động quan trọng và cấp thiết để quản lý nhà nước về DTLSVH đạt được kết quả
như mong đợi
1.4.2 Ban hành và chỉ đạo thực hiện các chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di
tích lịch sử văn hóa
Nhà nước có chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá nhằm nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đóng góp, tài trợ cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá
Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu di sản văn hoá Chủ sở hữu di sản văn hoá có trách nhiệm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá
Nhà nước đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nghiên cứu,
ứng dụng khoa học và công nghệ trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá
Luật Di sản văn hóa công khai thừa nhận và đặt hình thức sở hữu tư nhân về di sản văn hóa dưới sự bảo hộ của pháp luật Đây là cơ sở quan trọng cho việc hình thành nhiều bộ sưu tập cổ vật có giá trị của tư nhân và hơn 30 bảo tàng ngoài công lập ở Việt Nam (Điều 5 và khoản 2, Điều 9 Luật Di sản văn hóa)
Nhà nước tôn vinh và có chính sách đãi ngộ các nghệ nhân có tài năng và đóng góp trong việc bảo trợ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể (Điều 26 Luật Di sản văn hóa) và đã được cụ thể hóa trong Nghị định số 62/2014/NĐ-CP ngày 25/6/2014
về xét tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân và nghệ nhân ưu tú
Việt Nam trước đây đã triển khai chương trình mục tiêu quốc gia về di sản văn hóa Giai đoạn I từ 1994-2010 (Chương trình chống xuống cấp và tu bổ, tôn tạo di tích) Giai đoạn II từ 2011-2015 (Chương trình mục tiêu phát triển văn hóa) trong đó
có mục tiêu hỗ trợ, tu bổ, tôn tạo di tích và bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể Với chương trình mục tiêu quốc gia nêu trên, chúng ta đã huy động được ba nguồn lực chính vào mục tiêu bảo tồn di sản văn hóa gắn với phát triển: Vốn đầu tư xây dựng cơ bản và vốn sự nghiệp từ ngân sách nhà nước, vốn huy động từ nguồn lực của cộng đồng và vốn hỗ trợ từ UNESCO và các tổ chức quốc tế Đặc biệt, phải nhấn mạnh đến nguồn lực có chất lượng trí tuệ cao của các nhà khoa học trong nước tâm huyết với di sản văn hóa và các chuyên gia quốc tế có uy tín cao về chuyên ngành bảo tồn
di sản văn hóa Và Việt Nam cũng là quốc gia duy nhất có ngày lễ tôn vinh di sản văn hóa với tên gọi “Ngày Di sản văn hóa dân tộc”, tổ chức vào ngày 23 tháng 11 hàng
Trang 32năm Đây là sự kiện văn hóa lớn của ngành di sản Việt Nam, được tổ c hức không chỉ ở Hà Nội mà còn diễn ra ở nhiều địa phương theo sáng kiến của các Hội Di sản văn hóa tỉnh, thành phố, là các tổ chức thành viên tập thể của Hội
Di sản văn hóa Việt Nam
1.4.3 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa:
Không chỉ riêng ngành văn hóa mà bất cứ ngành, lĩnh vực nào cũng cần có các nguồn lực để duy trì và phát triển Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa theo phương thức xã hội hóa đã được ngành văn hóa và các địa phương thực hiện trong nhiều năm qua, huy động được các nguồn lực và sự tham gia đóng góp của nhân dân
Điều này có thể thấy qua việc trùng tu các di tích, tổ chức hoạt động văn hóa, khôi phục lễ hội hay các loại hình nghệ thuật dân gian, khi nguồn kinh phí đóng góp
từ xã hội thậm chí còn nhiều hơn cả đầu tư từ ngân sách nhà nước và lên tới hàng trăm tỷ đồng, chưa kể tới những đóng góp về công sức lao động và các hiện vật Cũng với phương thức xã hội hóa, hình thức hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa nghệ thuật dân gian ngày càng đa dạng với các trung tâm nghiên cứu, câu lạc
bộ, các nhóm hội, bảo tàng ngoài công lập, tập hợp được các chuyên gia và những người có tâm huyết, hoạt động hiệu quả mà không phải dựa vào nguồn kinh phí hỗ trợ của Nhà nước, tránh được tình trạng xuống cấp của hệ thống các di sản văn hóa
Đã có nhiều lễ hội truyền thống tốt đẹp và các loại hình diễn xướng dân gian độc đáo
ở các địa phương tưởng chừng đã mai một lại được phục hồi mà phần đóng góp quan trọng, mang tính quyết định là từ cộng đồng
Bên cạnh mặt tích cực nêu trên, việc xã hội hóa công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản cũng đang bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập và cả những tiêu cực Vai trò định hướng, quản lý của các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương chưa rõ ràng, còn yếu kém, không đủ khả năng hướng dẫn về chuyên môn, dẫn tới nhiều thiếu sót, đầu tư lãng phí không cần thiết và vi phạm Luật Di sản văn hóa, thể hiện ở tình trạng trùng tu một cách tuỳ tiện, tự phát, làm sai lệch yếu tố gốc hoặc cung tiến và đưa vật lạ vào nơi thờ cúng thiêng liêng, xâm phạm các di tích, thắng cảnh, thất thoát
cổ vật Qua đó có thể thấy nhận thức về di sản văn hóa và sự tuân thủ pháp luật chưa cao trong cộng đồng dân cư, các nguồn lực xã hội chưa được định hướng, sử dụng
Trang 33đúng đắn, chưa có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan quản lý và bảo vệ di sản văn hóa để mang lại hiệu quả
Với mục tiêu huy động, khai thác và sử dụng một cách tốt nhất các nguồn lực
xã hội, việc thực hiện xã hội hóa trong bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa cần phải gắn liền với nghiên cứu và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp; nâng cao trình độ đội ngũ quản lý và chuyên môn ở các cấp Xã hội hóa không đồng nghĩa với việc tự do hóa và tư nhân hóa mọi hoạt động mà các cơ quan chức năng văn hóa phải giữ vai trò quản lý và hướng dẫn theo đúng định hướng và chủ trương của Đảng và Nhà nước Các tổ chức, cá nhân được tham gia hoạt động văn hóa nghệ thuật, nhưng phải tuân thủ các quy định pháp luật có liên quan
Nhằm triển khai và thực hiện hiệu quả xã hội hóa trong bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa cần tuyên truyền, phổ biến pháp luật về di sản văn hóa để mọi tầng lớp nhân dân hiểu về quyền và nghĩa vụ của mình Trong đó các phương tiện thông tin đại chúng là kênh chuyển tiếp quan trọng, phổ biến rộng khắp và kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành về di sản văn hóa, động viên sự tham gia của nhân dân và sự ủng hộ của dư luận đối với sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di sản, nhất là những vấn đề liên quan đến cộng đồng như: tu bổ, chống vi phạm di tích, bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể Vấn đề quan trọng là ngành văn hóa cần thường xuyên hướng dẫn; tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về di sản văn hóa, chỉ đạo đấu tranh ngăn chặn vi phạm; tham mưu xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy công tác xã hội hóa hoạt động bảo tồn di sản; khuyến khích các cá nhân, tổ chức doanh nghiệp đóng góp kinh phí để tu bổ di tích, hiến tặng hiện vật cho bảo tàng nhà nước, tổ chức các hoạt động truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể
Tuy nhiên, để thực hiện những điều nêu trên đòi hỏi phải có sự ưu đãi đầu tư,
hỗ trợ, giảm hoặc miễn thuế cho các hoạt động được thực hiện từ các nguồn kinh phí ngoài ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về thuế Cùng với đó, cần nhanh chóng xây dựng và ban hành chính sách quản lý, sử dụng các nguồn tài chính
xã hội hóa: tiền công đức, tiền bán vé, tiền tài trợ, tiền kinh doanh dịch vụ ; có chính sách hỗ trợ và tôn vinh những nghệ nhân có nhiều đóng góp Di sản văn hóa chỉ thật
sự được bảo vệ và phát huy giá trị một cách bền vững khi có sự chung tay, góp sức giữa Nhà nước và nhân dân
Trang 341.4.4 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về di sản văn hóa tương đối hoàn thiện, được quy định rõ ràng trong luật Di sản văn hóa 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và các văn bản quy phạm pháp luật khác đã quy định:
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan của Chính phủ, chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa
Nghị định 79/2017/NĐ-CP ban hành ngày 17 tháng 7 năm 2017 quy định chức
năng nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Văn hóa, Thể thao, và Du lịch
Trình cấp có thẩm quyền thành lập bảo tàng quốc gia, bảo tàng chuyên ngành thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;
Trình Thủ tướng Chính phủ việc xếp hạng và điều chỉnh khu vực bảo vệ đối với
di tích quốc gia đặc biệt; việc đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận Di sản văn hóa và thiên nhiên tiêu biểu của Việt Nam là Di sản thế giới; việc công nhận bảo vật quốc gia và cho phép đưa bảo vật quốc gia ra nước ngoài để trưng bày, triển lãm, nghiên cứu hoặc bảo quản và phương
án xử lý đối với tài sản là di sản văn hóa theo quy định của pháp luật;
Hướng dẫn và tổ chức thực hiện quy hoạch bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa sau khi được phê duyệt;
Thẩm định trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương, nhiệm vụ và đồ
án quy hoạch tổng thể di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia có quy mô đầu tư lớn; Thẩm định nhiệm vụ và đồ án quy hoạch bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích quốc gia; thẩm định dự án tu bổ di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia; thẩm định
dự án cải tạo, xây dựng công trình nằm ngoài các khu vực bảo vệ di tích quốc gia và
di tích quốc gia đặc biệt theo quy định của pháp luật;
Xếp hạng di tích quốc gia, bảo tàng hạng I, điều chỉnh khu vực bảo vệ đối với
di tích quốc gia; đưa di sản văn hóa phi vật thể vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; giao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia cho bảo tàng nhà nước theo quy định của pháp luật; xác nhận điều kiện đối với việc thành lập bảo tàng quốc gia, bảo tàng chuyên ngành; thỏa thuận xếp hạng bảo tàng hạng II, hạng III theo quy định của pháp luật;
Cấp phép thăm dò, khai quật khảo cổ; cấp phép đưa di vật, cổ vật ra nước ngoài
để trưng bày, triển lãm, nghiên cứu hoặc bảo quản; cấp phép cho người Việt Nam
Trang 35định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài nghiên cứu, sưu tầm di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam theo quy định của pháp luật;
Hướng dẫn thủ tục đăng ký di vật, cổ vật, điều kiện thành lập và hoạt động của
cơ sở giám định cổ vật
Các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lý
nhà nước về di tích lịch sử văn hóa theo phân công của Chính phủ
Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của bộ, cơ quan ngang bộ trong việc phối hợp với Bộ VHTTDL để thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về di tích lịch
riêng trên địa bàn
Ở cấp huyện/quận, Phòng Văn hóa - Thông tin: Có chức năng tham mưu giúp
UBND quận/huyện quản lý nhà nước về văn hóa, thông tin
Phòng Văn hóa và Thông tin quận/huyện có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; chịu sự chỉ đạo và quản lý trực tiếp của tổ chức, biên chế và hoạt động của Ủy ban nhân dân huyện/ thành phố, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Sở
Thông tin và Truyền thông
Ở cấp xã phường có công chức về văn hóa, xã hội, tham mưu cho UBND xã quản lý nhà nước đối với các di tích văn hóa trên địa bàn.Về tổ chức bộ máy QLNN
về di sản văn hóa có thể khái quát qua sơ đồ sau:
Trang 36Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa
QLNN về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội do Sở Văn hóa -
Thể Thao tham mưu cho UBND TP Hà Nội quản lý
1.4.5 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và
xử lý vi phạm pháp luật về di tích lịch sử văn hóa
Pháp luật là một công cụ đắc dụng không thể thay thế của nhà nước để quản lý
xã hội Tuy nhiên, pháp luật không thể tự thân đi vào đời sống xã hội và phát huy hiệu quả nếu thiếu bàn tay quyền lực của nhà nước Nhà nước bằng bộ máy và quyền lực của mình sẽ tổ chức, điều hành để biến các quy định của pháp luật thành hành động thực tế của mỗi cơ quan, tổ chức, cá nhân, và cuối cùng, nhà nước phải kiểm tra
để đánh giá chất lượng, hiệu quả của pháp luật Điều đó cho thấy rằng, kiểm tra, thanh tra là một trong ba mặt thống nhất của quản lý, là một khâu không thể thiếu của hoạt động quản lý nhà nước nói chung và hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa nói riêng
Theo Luật Di sản văn hóa, thanh tra Nhà nước về văn hóa - thông tin thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về di sản văn hóa, có nhiệm vụ:
- Thanh tra việc chấp hành pháp luật về di sản văn hóa;
- Thanh tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
Bộ VHTT&DL
Phòng Văn hóa- Thông tin
Sở VHTT&DL
UBND xã, phường
UBND quận, huyện
UBND tỉnh, TP Chính phủ
Trang 37- Phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền đối với các hành vi vi phạm pháp luật về di sản văn hóa;
- Tiếp nhận và kiến nghị việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về di sản văn hóa; - Kiến nghị các biện pháp để bảo đảm thi hành pháp luật về di sản văn hóa Công tác thanh tra là một biện pháp quan trọng trong kiểm tra, giám sát luôn luôn là hiện thân của kỷ cương pháp luật
Cùng với việc phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật, thanh tra còn đóng vai trò như một biện pháp phòng ngừa hữu hiệu các vi phạm pháp luật Thanh tra cùng với các phương thức kiểm tra, giám sát luôn là hiện thân của kỷ cương pháp luật; công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát dù được thực hiện dưới bất cứ hình thức nào cũng luôn có tác dụng hạn chế, răn đe những hành vi vi phạm pháp luật của các đối tượng quản lý Mặt khác, các giải pháp được đưa ra từ hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát không chỉ hướng vào việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật mà còn có tác dụng khắc phục các kẽ hở của chính sách, pháp luật, ngăn ngừa tận gốc mầm mống phát sinh những vi phạm pháp luật
1.5 Kinh nghiệm quốc tế trong quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa
1.5.1 Kinh nghiệm một số nước:
1.5.1.1 Nước Anh
Nước Anh có bề dày kinh nghiệm bảo tồn các loại di sản, đặc biệt là di sản văn hóa lịch sử Những thành quả lao động tiêu biểu của con người qua các thời kỳ đã được gìn giữ, bảo tồn, phát huy với tinh thần tự hào, trân trọng quá khứ và làm cho nó trở nên sống động trong cuộc sống hiện tại Nước Anh đã đúc rút kinh nghiệm quý báu trong chính sách bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Cách quản lý di sản khá chặt chẽ, được phân cấp, phát huy tốt vai trò của Trung ương- địa phương Nhà nước đóng vai trò hoạch định chính sách Bộ Văn hóa, Truyền thông và Thể thao giữ vai trò chủ đạo trong xây dựng và phát triển văn hóa [13,tr21]
Các cơ quan thực hiện hoạt động của chính quyền trung ương trong việc bảo
vệ các di sản bao gồm: Cơ quan di sản ở Anh, cơ quan di sản Xcotlen, cơ quan công trình lịch sử xứ Wales và Cơ quan môi trường và di sản ở Bắc Aixolen Các cơ quan này có trách nhiệm liên quan đến việc gìn giữ, bảo vệ và tu bổ, tòa nhà có tính lịch
sử và khu vực bảo tồn [12,tr73]
Trang 38Năm 1998, ở Vương quốc Anh có khoảng 29.000 công trình tưởng niệm và 10.000 khu vực bảo tồn Chính quyền địa phương ở Bắc Aixolen có trách nhiệm thành lập “các khu bảo tồn” tại địa điểm có các công trình đó
Tháng 7/2003, Chính phủ công bố tài liệu Bảo vệ các giá trị lịch sử: Làm cho
hệ thống làm việc tốt hơn Tài liệu này xem xét lại hệ thống bảo vệ các giá trị lịch sử hiện có ở Anh và đề xuất thành lập một hệ thứ bậc thống nhất thay cho các chương trình bảo vệ có tính bắt buộc hoặc không mang tính bắt buộc [12,tr73]
Quỹ Di sản tưởng niệm quốc gia hỗ trợ tài chính cho việc mua, tu bổ và giữ gìn các tòa nhà, đất đai, các tác phẩm nghệ thuật và những vật phẩm khác có ý nghĩa quan trọng đối với di sản quốc gia Một cơ quan độc lập, National Trust, có trách nhiệm quản lý hơn 240 tòa nhà lịch sử ở Anh để mở cửa cho công chúng tham quan
Cơ quan này có ngân sách hoạt động từ lệ phí của thành viên và thu nhập từ việc bán các sản phẩm, quà lưu niệm Hiện tại ở Anh rất nhiều các tòa nhà lịch sử và công trình kiến trúc thuộc sở hữu tư nhân [12,tr74]
Bên cạnh việc đẩy mạnh xã hội hóa, có 400 tổ chức phi chính phủ ở lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa, khảo cổ hoạt động khá sôi động, đồng hành cùng nhà nước
Cơ quan quản lý nhà nước thành lập hội đồng vùng và sẽ chuyển giao trách nhiệm của chính phủ trung ương cho các cơ quan; giao cho các địa phương và các gia đình quản lý các di sản văn hóa thế giới tại Anh quản lý Với cách quản lý đó, chính phủ
đã huy động sự tham gia của các địa phương, các doanh nghiệp tư nhân, các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng nhân đân trong việc bảo tồn di sản văn hóa
1.5.1.2 Hàn Quốc
Hàn Quốc luôn nhận thức được tầm quan trọng của các di sản trên đất nước mình và không ngừng nỗ lực bảo vệ, nâng cao nhận thức về giá trị các di sản này Mỗi di sản đều được Chính phủ xác định là tài sản và báu vật của quốc gia và địa phương Chính phủ Hàn Quốc hiện đã và đang rất nỗ lực nâng cao vị thế và hình ảnh của Hàn Quốc như một phần của “Sáng kiến Xây dựng Thương hiệu Quốc gia” thông qua việc phát huy các di sản vật thể và phi vật thể
Một trong những trách nhiệm chính của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch là bảo tồn di sản văn hoá quốc gia, chịu trách nhiệm về quản lý các tài sản văn hoá hiện
có tại các công viên quốc gia của Hàn Quốc như đền, chùa, các công trình lớn về tự nhiên, các loài động vật đang gặp nguy hiểm…trong khi Bộ Quản lý Nhà nước và Tự trị địa phương chịu trách nhiệm về công tác bảo tồn các công viên này
Trang 39Chức năng bảo tồn di sản văn hóa như tu bổ các cung điện lịch sử được thực hiện bởi Cục Quản lý Tài sản Văn hoá Các bộ phận bảo tàng trực thuộc cũng được thành lập tại các bảo tàng lớn của Hàn Quốc ở nước ngoài như Anh, Pháp, Nhật Bản, Mỹ vv Các tổ chức trực thuộc này do Hiệp hội Văn hoá và Nghệ thuật Hàn Quốc và Hội Bảo trợ ngành kinh tế tư nhân hỗ trợ về tài chính
Bộ đã tiến hành sửa đổi Luật Công viên quốc gia vào năm 1996 để bảo vệ các công viên quốc gia khỏi những tác động từ các phương tiện giải trí và hoạt động thể thao
Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch giao Cục Quản lý Tài sản Văn hoá có nhiệm
vụ chính trong việc thực hiện công tác bảo tồn di sản văn hoá và các hoạt động khác nhau như quản lý, nghiên cứu, khai quật, trùng tu các khu di tích văn hoá, hợp tác quốc tế về văn hóa Đồng thời Cục Quản lý Tài sản Văn hóa cũng thực hiện chức năng công nhận các di sản văn hóa quốc gia
Ở Hàn Quốc, mỗi vùng, miền đều có nét văn hóa riêng và thể hiện rõ nhất ở trong các lễ hội truyền thống Vì thế, Hàn Quốc luôn có những gói du lịch đến với lễ hội truyền thống tùy theo từng vùng, từng mùa trong năm
Ngoài ra, người Hàn Quốc còn giới thiệu các phong tục tập quán rất đặc trưng đến với du khách nước ngoài Những phong tục tập quán này được giới thiệu đến du khách bằng một cách rất tự nhiên và thực tế, chẳng hạn khi giới thiệu về Phật giáo, về những ngôi chùa cổ, mời du khách đến thăm ngôi chùa đó, được nghe giảng đạo và ngủ đêm ở chùa Cùng với đó, du khách sẽ tham gia các công việc của nhà chùa như quét sân, đi thăm quan những nơi ở, nơi ăn của sư sãi trong chùa, được xem những không gian tái hiện lại cuộc sống sinh hoạt của người Hàn Quốc xưa… Qua những hoạt động này, du khách nước ngoài, đặc biệt là các bạn trẻ cảm nhận được rõ nét truyền thống của Hàn Quốc
Hàn Quốc tổ chức định kỳ các sự kiện ở từng địa phương nhằm xúc tiến chương trình nâng cao nhận thức của mọi tầng lớp xã hội, tạo điều kiện cho toàn dân hiểu về giá trị của đất nước mình để người dân thấm nhuần những gì mình đang có, tôn vinh và nghiêm khắc trong ứng xử với di sản của quốc gia Các cuộc thi sáng tác, thi viết phóng sự các hoạt động liên quan đến công tác bảo tồn di sản được tổ chức thường xuyên Nhiều hoạt động thực tế cũng như các bài giảng, đào tạo được đưa đến thanh niên, giúp cho họ hiểu được sự tuyệt vời và tầm quan trọng của di sản vật thể và phi vật thể của quốc gia và từ đó có ý thức tuyên truyền cho cộng đồng quốc
Trang 40tế Hầu như bất kỳ đại sứ quán nào của Hàn quốc trên thế giới cũng mang đậm tinh thần “Hàn Quốc và di sản Hàn Quốc”
1.5.2 Kinh nghiệm một số địa phương Việt Nam
1.5.2.1 Tỉnh Tuyên Quang
Quản lý nhà nước về khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Tân Trào do cơ quan trực tiếp quản lý là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tuyên Quang, đây là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, có chức năng tham mưu giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về: văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao, du lịch và quảng cáo ở tỉnh, các dịch vụ công thuộc lĩnh vực quản lý của Sở và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh và theo quy định của pháp luật Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã ban hành quyết định số 650/QĐ – UBND ngày 24/11/2008 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu
tổ chức bộ máy, biên chế của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Theo đó Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm quản lý nhà nước bao quát toàn bộ các mặt về di sản văn hóa nói chung và di tích lịch sử nói riêng trên toàn bộ địa bàn tỉnh Tuyên Quang Riêng về khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Tân Trào, Ban quản lý khu du lịch lịch sử, văn hóa và sinh thái Tân Trào (sau đây gọi tắt
là Ban quản lý) là đơn vị sự nghiệp chịu sự quản lý toàn diện của Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch, có chức năng trực tiếp thực hiện các hoạt động bảo tồn, bảo tàng phát huy giá trị khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Tân Trào