1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Bai du thi tim hieu Quan he Viet Lao

12 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 215,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày 27/9/1950, tại căn cứ Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp và làm việc với Hoàng thân Xuphanuvông, Thủ tướng Chính phủ kháng chiến Lào và đồng chí Sơn Ngọc Minh, Thủ tướng Chính phủ [r]

Trang 1

VIỆT NAM – LÀO ĐOÀN KẾT BÊN NHAU CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC

Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng thân thiết, núi liền núi, sông liền sông, nhân dân hai nước vốn có quan hệ hữu nghị truyền thống, gắn bó từ lâu đời và ngày càng phát triển Đặc biệt là từ khi có sự ra đời và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương sau này là Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào, mối quan hệ đó ngày càng được nâng lên; hai dân tộc Việt Nam- Lào đã cùng nhau chia ngọt, sẻ bùi, nhân dân hai nước đã kề vai sát cánh, cùng nhau chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược, để lại những kinh nghiệm quý báu về một mối quan hệ hữu nghị đặc biệt trong sự nghiệp giải phóng và phát triển của mỗi quốc gia

Trước thế kỷ XX, cả hai dân tộc Việt-Lào đều trải qua hàng nghìn năm không ngừng chiến đấu giành và bảo vệ độc lập dân tộc để khẳng định sự tồn tại của mình với tư cách một dân tộc, một quốc gia độc lập Theo sử sách đã ghi thì mối quan hệ Việt - Lào bắt đầu từ những năm 550 dưới thời Vạn Xuân của nhà tiền Lý Tiếp đến vào giữa thế kỷ XIV (năm 1353) những quy ước hoà bình đầu tiên về biên giới quốc gia đã được xác lập giữa Đại Việt và Lan Xang Ngoài ra, trong suốt quá trình của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418- 1427), nghĩa quân Lê Lợi cũng luôn nhận được sự tiếp sức của các tộc trưởng và nhân dân Lào ở vùng biên giới Điều đáng nói là bất chấp hoàn cảnh bất lợi của chế độ phong kiến ở Đại Việt và Lan Xang, quan hệ nương tựa vào nhau giữa nhân dân hai nước vẫn tiếp tục được nuôi dưỡng

Từ đầu thế kỷ XX, không cam chịu ách nô lệ, nhân dân hai nước Việt Nam - Lào đã đoàn kết, cùng nhau đấu tranh chống Pháp Trong cuộc đấu tranh này tinh thần đoàn kết Việt – Lào lại tiếp tục được phát huy hơn trước Tiếp sau

sự ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân Lào đối với phong trào cứu nước của vua Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết, Phan Đình Phùng cuối thế kỉ XIX, đến đầu thế kỉ

XX này nghĩa quân hai dân tộc lại có sự liên kết chiến đấu chặt chẽ hơn Vào những năm từ 1901 đến 1907 ở Lào nhiều cuộc đấu tranh bất khuất trên toàn lãnh thổ cũng bùng nổ nhằm chống lại ách nô dịch tàn bạo của thực dân Pháp

Mở đầu là cuộc khởi nghĩa dưới sự chỉ huy của Pha-ca-đuốc, phong trào đã phát triển nhanh chóng, giải phóng Xa-va-na-khét đồng thời còn mở rộng sang cả vùng biên giới Lào - Việt Ngoài ra còn có cuộc khởi nghĩa do Ong Kẹo lãnh đạo Vang dội nhất là trận đánh đồn Kông-cơ-tu Nghĩa quân của Ong Kẹo đã phối hợp với quân I-rê (thuộc vùng Tây Nguyên – Việt Nam), san phẳng đồn này và tiêu diệt bọn lính khố xanh ở đó Năm

1907 có cuộc khởi nghĩa của Com-ma-đăm Ở Việt Nam cùng lúc đó tại Kon Tum có cuộc nổi dậy của người Xơđăng do tù trưởng Ê-rê lãnh đạo hai bên đã liên lạc với nhau phối hợp đánh địch ở ngã ba Cơ Rông Pô Cô và sông Đắc si

Trang 2

Năm 1911 những người yêu nước Việt Nam bị giam ở nhà tù Sơn La nổi dậy dưới sự chỉ huy của Cai Khạt (Ông là người Thái quê ở Than Uyên – Nghĩa

Lộ đi lính cho Pháp vì chống Pháp nên bị bắt giam) Họ phá ngục cướp súng giặc, đánh chiếm trại lính, công sở rồi rút sang Nậm Ti (Lào) tiếp tục chiến đấu

Họ đã được nhân dân Lào ủng hộ và che chở

Tháng 11 năm 1914, người Thái ở Tây Bắc Việt Nam do Lương Bảo Định, Bạch Cầm Châu, Lương Văn Nó, Cầm Văn tứ chỉ huy đã đột nhập đồn Sầm Nưa (Lào) giết tên đại lí người Pháp đoạt 120 súng và đạn dược, rồi kéo về hoạt động ở vùng Sông Đà Họ cùng Hầu Sám tiến công thị xã Sơn La đồng thời kết hợp với nghĩa quân Lào đột nhập thị Xã Phong Xa Lì trên đất Lào

Tinh thần đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân hai nước còn tiếp tục được hun đúc Cuộc khởi nghĩa của Chậu Pa Chay người đứng bản Lào Xủng ở Mường Sơn (Tỉnh Sầm Nưa) đã tập hợp người Lào Xủng và người Mèo ở Tây Bắc Việt Nam đứng lên chống Pháp Trong hai năm đầu (1918, 1919, cuộc khở nghĩa diễn ra chủ yếu ở vùng Tây Bắc Việt Nam bao gồm các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Sơn La

Từ mùa hè năm 1919, cuộc khởi nghĩa bắt đầu mở rộng sang vùng Đông Bắc Lào Cuộc khởi nghĩa kéo dài được bồn năm thì bị dập tắt

Tuy các phong trào trên đều bị chính quyền thực dân đàn áp, dập tắt, song mối quan hệ giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào trong những năm đầu chống sự xâm lược và ách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp cho thấy nhận thức của hai dân tộc về xây dựng khối đoàn kết đấu tranh trở nên một nhu cầu tất yếu khách quan Việc xác định con đường cứu nước đúng đắn và xây dựng mối quan

hệ đoàn kết giữa các dân tộc trên bán đảo Đông Dương là những nhiệm vụ cấp bách đặt ra cho các nhà lãnh đạo phong trào yêu nước và cách mạng tại xứ này

Từ khi được chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, đặc biệt khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo, tình đoàn kết đó lại được tiếp thêm sức, phát triển mạnh mẽ, liên tục và lâu bền

Trong quá trình tìm đường cứu nước của mình, Nguyễn Ái Quốc rất quan tâm đến tình hình Lào Người không chỉ lên án chế độ thực dân Pháp nói chung

mà còn tố cáo cụ thể sự tàn bạo của thực dân Pháp ở Lào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên - tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn

Ái Quốc trực tiếp sáng lập đã gây dựng được cơ sở tại Lào Thông qua hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Lào, Nguyễn Ái Quốc thấy đây là điều kiện thuận lợi để người Việt Nam vừa tham gia cuộc vận động cứu nước tại Lào, vừa sát cánh cùng nhân dân Lào xây dựng mối quan hệ đoàn kết khăng khít giữa Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam

Trên thực tế, từ nửa sau những năm 20 thế kỷ XX, Lào là một đầu cầu trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng cứu nước mới của Nguyễn Ái Quốc vào Đông Dương Năm 1928, đích thân Người bí mật tổ chức

Trang 3

khảo sát thực địa tại Lào càng cho thấy mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào Cũng trong năm này, chi bộ Thanh niên cộng sản đầu tiên được thành lập tại Viêng Chăn, đồng thời đường dây liên lạc giữa nhiều thị trấn ở Lào với Việt Nam được tổ chức Như vậy, Lào trở thành địa bàn đầu tiên trên hành trình trở về Đông Dương của Nguyễn Ái Quốc, nơi bổ sung những cơ sở thực tiễn mới cho công tác chính trị, tư tưởng và tổ chức của Người về phong trào giải phóng dân tộc ở ba nước Đông Dương Quá trình Nguyễn Ái quốc đặt nền móng cho quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào- Việt Nam báo hiệu bước ngoặt lịch sử trọng đại sắp tới của cách mạng Việt Nam cũng như cách mạng Lào

Cuối những năm 20 thế kỷ XX, do kết quả trực tiếp của quá trình truyền

bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc, cùng với sự phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước, những điều kiện khách quan và chủ quan cho việc thành lập Đảng của giai cấp công nhân ở Đông Dương, trước hết là ở Việt Nam, đã chín muồi

Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập Hội nghị thành lập

Đảng do Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã thảo luận và thông qua các văn kiện Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo.

Hội nghị xác định rõ con đường giải phóng và phát triển của dân tộc Việt Nam là làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền là thực hiện quyền độc lập dân tộc, quyền tự do, dân chủ của nhân dân Đảng là đội tiên phong của giai cấp

vô sản, đóng vai trò lãnh đạo cách mạng Hội nghị chủ trương kết hợp tinh thần yêu nước chân chính kết với tinh thần quốc tế trong sáng

Hai nước Việt Nam và Lào có cùng hoàn cảnh lịch sử bị thực dân Pháp thống trị, có cùng mục tiêu và khát vọng độc lập, tự do, nên con đường giải phóng và phát triển của dân tộc Việt Nam theo tư tưởng Nguyễn Ái Quốc được Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua, cũng là con đường phù hợp, chứa đựng những giải pháp giải phóng dân tộc Lào khỏi ách nô lệ, đưa đất nước Lào đến thịnh vượng

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trọng đại, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về lý luận, đường lối và lực lượng lãnh đạo phong trào đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam, đồng thời, thúc đẩy phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân Lào chuyển biến theo khuynh hướng cách mạng vô sản

Trong suốt quá trình lãnh đạo phong trào cách mạng, Đảng Cộng sản Đông Dương đã đề ra những chủ trương và giải pháp cụ thể chỉ đạo các cấp bộ đảng và phong trào cách mạng Đông Dương cũng như tăng cường mối quan hệ mật thiết, nương tựa lẫn nhau của hai dân tộc Việt Nam và Lào trên hành trình đấu tranh giành tự do, độc lập cho mỗi dân tộc Điều này thêm một lần nữa khẳng định quá trình chuẩn bị công phu về mọi mặt chính trị, tư tưởng, và tổ chức cho cách mạng Việt Nam, đồng thời với việc quan tâm xây dựng nhân tố

Trang 4

bên trong cho cách mạng Lào, cả về phương diện tổ chức lẫn chỉ đạo thực tiễn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã thật sự tạo ra nền tảng hoàn toàn mới về chất cho lớp người cộng sản Đông Dương đầu tiên, bất luận họ là người Việt Nam, người Lào, hay là người Campuchia Đây chính là nền móng vững chắc của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam mà Nguyễn Ái Quốc là kiến trúc sư vĩ đại của tình đoàn kết đặc biệt đó

Trong những ngày tháng Tám năm 1945 lịch sử, cùng với quá trình Tổng khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và Xứ uỷ Lào, phong trào cách mạng của hai nước Việt Nam và Lào ngày càng phát triển Ngày 23/8/1945, trong khi nhân dân Sài Gòn đang vùng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, thì tại Lào, nhân dân Lào đã giành chính quyền ở Viêng Chăn và cũng lần lượt giành chính quyền ở các địa phương Ngày 12/10/1945, Chính phủ Lào Ítxala, đã ra mắt tại Thủ đô Viêng Chăn: công bố Tuyên ngôn độc lập của nước Lào và Hiến pháp lâm thời… Ngày 14/10/1945, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chính thức công nhận Chính phủ Lào Ítxala Hiệp ước hữu nghị giữa hai nước được ký kết tại Viêng Chăn ngày 30/10/1945

Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp đã nổ súng tái xâm lược Nam Bộ, ráo riết tìm cách đặt lại ách thống trị ra miền Trung, miền Bắc Việt Nam Trong khi đó,

ở Lào, Pháp cũng cho quân chiếm đóng Thượng Lào, Trung Lào, nhất là dọc các trục đường số 7, số 8, số 9 sát biên giới Liên khu IV của Việt Nam Âm mưu của thực dân Pháp là tìm cách lập lại ách thống trị của chúng trên bán đảo Đông Dương, xóa bỏ chính quyền cách mạng ở Việt Nam và Lào

Những năm 1945-1946, trong khi nhân dân ta đang phải từng bước vượt qua mọi khó khăn để chống lại giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, đồng thời tranh thủ quỹ thời gian hòa bình rất hạn hẹp để xây dựng và củng cố thực lực, thì tại Lào, do tương quan lực lượng vũ trang chênh lệch, cuộc chiến đấu bảo vệ chính quyền của nhân dân Lào cuối năm 1945 gặp nhiều khó khăn, tổn thất Một

bộ phận cơ quan Chính phủ và Hoàng thân Xuphanuvông đã phải tạm thời sơ

tán sang Thái Lan, bộ phận khác chuyển lực lượng về nông thôn và sang Việt Nam để củng cố lực lượng…Quán triệt tinh thần “cả Đông Dương là một chiến trường” và “thống nhất mặt trận Việt - Miên - Lào chống Pháp xâm lược” thực hiện Hiệp định liên minh giữa hai nước, các đơn vị vũ trang của Việt Nam đã sang phối hợp, sát cánh với quân dân Lào chống kẻ thù chung là thực dân Pháp xâm lược

Thành công đầu tiên của tình đoàn kết và liên minh chiến đấu của Liên quân Lào- Việt trong năm đầu của cuộc kháng chiến là trận chiến đấu bảo vệ Thà Khẹc ngày 21-3-1946 Đây là trận đánh lớn nhất của Liên quân Lào – Việt

kể từ ngày thành lập, đã nêu một tấm gương sáng ngời về lòng dũng cảm, một biểu tượng cao đẹp về tình đoàn kết, gắn bó keo sơn giữa quân và dân hai nước Việt Nam – Lào

Trang 5

Để đẩy mạnh kháng chiến ở Lào, tháng 5/1948, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định thành lập đơn vị xung phong Lào Bắc do đồng chí Cayxỏn Phômvihản chỉ huy phối hợp với quân tình nguyện Việt Nam Tại căn

cứ Lao Hùng, huyện Xiêng Kho, tỉnh Hủa Phăn, nơi đơn vị Látxavông do đồng chí Cayxỏn Phômvihản chỉ huy đã chính thức tuyên bố thành lập Quân đội Lào Ítxala… Để phối hợp chiến đấu, các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam lần lượt được cử sang hoạt động ở Lào Và công tác đoàn kết giúp đỡ phong trào kháng chiến Lào và Campuchia, chủ trương đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa ba nước Việt - Miên - Lào đã được Đảng Cộng sản Đông Dương cụ thể hóa trong 4

nội dung sau:1/Không đứng trên lợi ích Việt Nam mà làm công tác Lào - Miên 2/Nắm chắc nguyên tắc dân tộc tự quyết, phải do Lào, Miên tự quyết định lấy 3/Không đem chủ trương, chính sách, nguyên tắc của Việt Nam ứng dụng vào Lào, Miên như lắp máy 4/Cần giúp đỡ Lào, Miên để bạn tự làm lấy.

Trong khi ở Việt Nam, những kết quả đạt được trên các lĩnh vực xây dựng Đảng, chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục và đặc biệt là chiến thắng Việt Bắc thu-đông 1947… đã mở ra một cục diện mới cho sự phát triển của cuộc chiến tranh nhân dân; thì tại Lào, cuộc kháng chiến của nhân dân các bộ tộc Lào cũng đang có những thay đổi Ngày 25/12/1949, Chính phủ Lào lưu vong ở Thái Lan

tự giải tán Đại hội Mặt trận Lào kháng chiến họp (13 - 15/8/1950 tại Tuyên Quang – Việt Nam), đề ra Cương lĩnh của Mặt trận gồm 12 điều, và đã bầu Hoàng thân Xuphanuvông làm Chủ tịch kiêm Thủ tướng Chính phủ Kháng chiến Lào

Ngày 27/9/1950, tại căn cứ Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp và làm việc với Hoàng thân Xuphanuvông, Thủ tướng Chính phủ kháng chiến Lào và đồng chí Sơn Ngọc Minh, Thủ tướng Chính phủ kháng chiến Miên để bàn về vấn đề đoàn kết, liên minh chiến đấu chống thực dân Pháp… Ngày

22/11/1950, Tuyên cáo của Hội nghị đại biểu của ba Mặt trận dân tộc thống nhất

Việt - Lào - Miên tại Việt Bắc Việt Nam sau khi phân tích tình hình thế giới, tình hình ba nước Đông Dương đã nhất trí căn bản về chính sách chung của ba Mặt trận dân tộc thống nhất và đề ra một số nhiệm vụ cơ bản như: xúc tiến thực hiện khối liên minh duy nhất của ba dân tộc Việt - Lào - Miên trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng chủ quyền quốc gia và lãnh thổ của nhau, hết sức giúp đỡ nhau về mọi mặt để công cuộc giải phóng của ba dân tộc chóng hoàn thành

Như vậy, những năm 1945-1950, sự phối hợp, giúp đỡ, liên minh đoàn kết chiến đấu giữa Việt – Lào, Lào- Việt đã góp phần đưa lại những thắng lợi căn bản cho sự nghiệp cách mạng của hai nước, điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của mối quan hệ liên minh, đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào trong những năm tiếp theo của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

Đầu năm 1951, trước những yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng của 3 nước Đông Dương, đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa vai trò lãnh đạo của Đảng, Đại hội lần thứ II Đảng Cộng sản Đông Dương đã họp ở Vinh Quang - Chiêm

Trang 6

Hoá - Tuyên Quang -Việt Nam (11- 19/2/1951) Đại hội quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai ở Việt Nam, lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam Đảng Lao động Việt Nam có nghĩa vụ phối hợp và giúp đỡ các tổ chức cách mạng Lào, Campuchia xây dựng chính đảng mácxít để lãnh đạo cuộc kháng chiến của hai nước giành lấy thắng lợi cuối cùng

Ngày 11/3/1951, tại Việt Bắc, Hội nghị liên minh nhân dân Lào - Việt Nam - Campuchia, biểu thị tình đoàn kết, liên minh chiến đấu của 3 nước đã họp Các đại biểu các Mặt trận Liên Việt, Itxala và Itxarắc, tuyên bố thành lập khối liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tương trợ và tôn trọng chủ quyền của nhau, nhằm mục tiêu đánh đuổi bọn xâm lược Pháp và can thiệp Mỹ, làm cho mỗi nước hoàn toàn độc lập “Vì mối quan hệ khăng khít về địa lý, quân sự, chính trị, v.v mà ta với Miên, Lào cũng như môi với răng Hai dân tộc Miên, Lào hoàn toàn giải phóng, thì cuộc giải phóng của ta mới chắc chắn, hoàn toàn Cho nên nhiệm vụ của ta là phải ra sức giúp đỡ kháng chiến Miên, Lào một cách tích cực thiết thực hơn Và

sự giúp đỡ lẫn nhau và sự phối hợp chiến đấu giữa ba dân tộc chống kẻ thù chung được nâng lên tầm cao mới khi Hội nghị liên minh ba nước Đông Dương họp bàn triển khai chương trình hành động cụ thể của Mặt trận (9/1952) Tại Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Nhân dân Việt Nam hết lòng thành thật giúp đỡ nhân dân Lào, nhân dân Campuchia một cách vô điều kiện, để cùng nhau chống thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập, tựdo

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã phát triển và bước sang một giai đoạn mới Sau chiến thắng Tây Bắc của quân ta, đầu tháng 4/1953, Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với Chính phủ kháng chiến Lào và Mặt trận Ítxala quyết định mở chiến dịch Thượng Lào Khi ấy, Người căn dặn bộ đội Việt Nam: “Giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”, phải nêu cao tinh thần quốc tế, tôn trọng chủ quyền, phong tục tập quán, kính yêu nhân dân nước bạn… Thắng lợi của chiến dịch Thượng Lào đã giải phóng một vùng đất đai rộng lớn, tạo điều kiện cho cách mạng Lào phát triển; và trên đường số 7, ngày 19/4/1953, liên quân Lào - Việt đã giải phóng thị xã Xiêng Khoảng, đánh dấu bước trưởng thành của lực lượng vũ trang cách mạng Lào và cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân Lào

Trong khi đó, triển khai kế hoạch quân sự Nava, thực dân Pháp tập trung quân cơ động nhằm tạo nên sức mạnh, giữ thế phòng ngự trong chiến cuộc 1953 -1954, để giành lại thế chủ động và chuẩn bị để có thể chuyển sang thế tiến công trong chiến cuộc 1954-1955, để có thể buộc Việt Minh phải đi đến thương lượng hòa giải…, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ phương hướng chiến lược của quân ta

là “tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu để phân tán lực lượng địch và tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do” Quyết định phân tán lực lượng địch được thông qua tại cuộc họp Bộ Chính trị ở Tỉn Keo tháng 9/1953 (sau khi bản đề án tác chiến của Tổng quân uỷ được Bộ Chính trị thông qua), với chủ trương dùng một

bộ phận quân chủ lực phối hợp với các lực lượng địa phương chủ động mở các

Trang 7

cuộc tiến quân lên Tây Bắc, Trung Lào, Hạ Lào, Bắc Tây Nguyên để phân tán lực lượng địch, nhưng vẫn lấy Tây Bắc làm hướng hoạt động chính, còn các hướng khác chỉ là hướng phối hợp…

Thực hiện chủ trương đó và để làm thất bại kế hoạch Nava, lực lượng kháng chiến hai nước Việt Nam - Lào đã có sự phối hợp chặt chẽ Thông qua 5 đòn chiến lược và cách điều quân cơ động tài tình: Tiến công Tây Bắc, tiêu diệt phần lớn quân địch ở Lai Châu, bao vây Điện Biên Phủ; tiến công vào Trung Lào, giải phóng Thà Khẹt; tiến xuống Hạ Lào, giải phóng cao nguyên Bôlôven;

mở cuộc tiến công lên Bắc Tây Nguyên, giải phóng Kon Tum, nối liền với khu giải phóng Hạ Lào; và bất ngờ tiến công Thượng Lào, uy hiếp Luông Phrabang vào hạ tuần tháng 1/1954, chúng ta đã điều động được lực lượng địch, thu hút quân địch đến những chiến trường có lợi cho quân ta, và buộc khối cơ động chiến lược của Nava phải phân tán “thành nhiều nhóm nhỏ”… con đường để kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Đông Dương đã đến rất gần Và cũng trong những năm tháng kháng chiến đó, đặc biệt

là trong chiến cục Đông Xuân 1953 - 1954, cùng với thắng lợi của quân dân Việt Nam, sự liên minh, phối hợp chiến đấu của quân dân Lào - Việt đã giải phóng và mở rộng gần 1/2 lãnh thổ của đất nước Lào với 1/3 số dân cả nước

Ngày 7/5/1954, lá cờ Quyết chiến Quyết thắng của quân ta đã phất cao ở lòng chảo Điện Biên Phủ Tinh thần gian khổ hy sinh, đoàn kết chiến đấu, quyết chiến quyết thắng của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh; sự đồng tình ủng hộ của bạn bè quốc tế, trong đó có tình đoàn kết gắn bó keo sơn, “chia ngọt sẻ bùi” của hai nước bạn Lào và Camphuchia đã làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ Với thắng lợi vĩ đại này, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta đã kết thúc, đồng thời mang lại cho chúng ta một vị thế mới trên bàn đàm phán của Hội nghị Giơnevơ Chuẩn bị cho Hội nghị Giơnevơ, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (7/1954), Tổng Bí thư Trường Chinh khẳng định: “Lào và Cao Miên là hai nước láng giềng anh em của ta Chính sách của ta đối với Lào và Cao Miên là đoàn kết và giúp đỡ” Vì vậy, ta cần “đoàn kết với nhân dân Lào, Khơme, đấu tranh đòi lập lại hòa bình trên toàn cõi Đông Dương trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba dân tộc”

Với những thắng lợi vang dội của quân và dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia trong Đông Xuân 1953-1954, mà đỉnh điểm là chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày 21-7-1954, Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Đông Dương Pháp và các nước tham gia hội nghị cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia Đó là cơ sở pháp lý quốc tế rất quan trọng để nhân dân

ba nước Đông Dương tiến lên giành độc lập, hoàn thành thống nhất đất nước ở mỗi nước Hội nghị Giơ ne vơ công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Lào; Pathét Lào là lực lượng chính trị độc lập, hợp pháp, có quân đội, có vùng tập kết ở hai tỉnh Sầm Nưa và Phôngxalỳ; các nhà chức trách

Trang 8

hai phái (Pathết Lào và Chính phủ Vương quốc Lào) sẽ cùng nhau thương lượng

để giải quyết vấn đề chính trị trên cơ sở bảo đảm quyền tự do, dân chủ của nhân dân, thành lập chính quyền liên hiệp, hòa hợp dân tộc thông qua tổng tuyển cử

tự do…

Cùng với chiến thắng Điện Biên Phủ, việc ký kết Hiệp định Giơ ne vơ là một thắng lợi quan trọng của sự nghiệp đoàn kết kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương nói chung, của hai nước Việt Nam, Lào nói riêng trong cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ Thắng lợi đó thể hiện nghị lực, quyết tâm của Việt Nam và Lào trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung, kết tinh sức mạnh đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu giữa nhân dân

và quân đội hai nước, tạo nền móng vững chắc cho sự phối hợp, liên minh chiến đấu giữa Việt Nam và Lào ngày càng nâng cao trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954-1975)

Tinh thần đoàn kết bên nhau,Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam thật đặc biệt, thể hiện rõ qua mỗi chặng đường lịch sử: Cách mạng hai nước luôn luôn dựa vào nhau, giúp đỡ lẫn nhau với tinh thần của chủ nghĩa quốc tế thủy chung, trong sáng - coi giúp đỡ bạn cũng là tự giúp mình, thắng lợi của bạn cũng là thắng lợi của mình, không bị chi phối bởi chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi Tình đoàn kết, hữu nghị, của nhân dân ba nước Đông Dương, đặc biệt là mối quan hệ hữu nghị đoàn kết bên nhau của nhân dân Việt – Lào, Lào - Việt chống kẻ thù xâm lược đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết trong 4 câu thơ bất hủ:

“Thương nhau mấy núi cũng trèo Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua Việt - Lào, hai nước chúng ta Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”

Chủ tịch Kayxỏn Phônvihản cũng đã khẳng định: “Trong lịch sử cách mạng thế giới, đã có nhiều tấm gương chói sáng về tinh thần quốc tế vô sản, nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ, có được sự đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt, lâu dài và toàn diện như quan hệ Lào - Việt Nam”; “Núi có thể mòn, sông có thể cạn, song tình nghĩa Lào - Việt Nam mãi mãi vững bền hơn núi, hơn sông”

Trang 9

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân Souphanouvong tại chiến khu Việt Bắc năm 1951.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (người thứ 3 từ trái sang) và Hoàng thân Souphanuovong (người thứ tư từ trái sang) cùng các cán bộ quân đội Việt - Lào bàn kế hoạch mở chiến dịch Thượng Lào năm 1953.

Trang 10

Chủ tịch Hồ Chí Minh trao đổi với Chủ tịch Kaysone Phomvihane tại

Hà Nội năm 1966.

Ngày đăng: 30/05/2021, 05:26

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w