Là người Việt Nam em thật tự hào và kiêu hãnh khi được nói tới chiếc áo dài Việt Nam - một nét đẹp về trang phục truyền thống của người Việt từ thời xa xưa.. Bộ trang phục này thường đượ
Trang 1BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA TPHCM
-TIỂU LUẬN MÔN: CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
ĐỀ TÀI: ÁO DÀI-NÉT ĐẸP NGƯỜI VIỆT
GV hướng dẫn: Lê Thị Thanh Tâm
SV thực hiện: Phạm Ngọc Hải
MSSV: D20DL273
Lớp: 20DHDDL2
TP Thủ Đức, tháng 5 năm 2021
Trang 2A MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Trang phục là một trong ba yêu cầu của đời sống vật chất (ăn, mặc, ở) đây là sản phẩm văn hoá sớm nhất của xã hội loài người Theo thời gian, trang phục cũng thay đổi theo quá trình phát triển của lịch sử Đối với mỗi một quốc gia, trang phục cũng trở thành một yếu tố quan trọng tạo nên nét đẹp văn hóa riêng biệt qua từng thời kỳ, mang tính đậm đà và
vẻ đẹp của mỗi dân tộc Là người Việt Nam em thật tự hào và kiêu hãnh khi được nói tới chiếc áo dài Việt Nam - một nét đẹp về trang phục truyền thống của người Việt từ thời xa xưa Bộ trang phục này thường được mặc trong các dịp trọng đại vì nó mang vẻ đẹp thướt tha trang nghiêm thùy mị và hơn nữa trang phục áo dài cả nam và nữ đều có thể mặc được, nó ngày càng trở nên phổ biến và trở thành nét đẹp về thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam
Là sinh viên năm nhất của trường Đại học Văn Hóa TPHCM mong muốn được tiếp thu, học hỏi và lĩnh hội những nét đẹp trong văn hóa của cuộc sống muốn được tìm hiểu sâu về những nét đẹp về trang phục của đất nước mình
Chính vì những lý do trên, em quyết định chọn đề tài với tên gọi:”Áo dài Việt Nam”
II/ Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Qua thời gian tìm hiểu những thông tin, áo dài là loại trang phục truyền thống của Việt Nam, xuất hiện vào thế kỷ 18 gồm phần áo mặc bên ngoài có hai tài và quần dài Trang phục thường được che thân từ cổ đến quá đầu gối qua thời gian chiếc áo dài đã trải qua nhiều sự phát triển, cải tiến Bộ áo dài nguyên thủy là áo ngũ thân rất rộng và không bám vào ngừơi như Áo dài hiện nay Cũng có người cho rằng Áo tứ thân mới là
Áo dài đầu tiên, đã được biến thành áo Ngũ thân và cuối cùng mới thành chiếc áo dài ngày nay Có lẽ chưa có một văn bản nào quy định áo dài là quốc phục chính thức của phụ nữ Việt Nam
Thế nhưng trong thực tế, hễ nói đến phụ nữ Việt Nam thì không thể không nói đến Có thể nói rằng đất Việt chúng ta đa dạng trong nhiều loại trang phục từ kiểu dáng đế màu sắc, nhưng bất cứ một con dân người Việt đều biết về chiếc áo dài đã xuất hiện từ xa xưa cho đến tận ngày nay với kiểu dáng và lịch sử của nó mang lại niềm tự hào cho mỗi người
Qua đó em tìm hiểu qua nhiều thông tin sách báo và một số các tư liệu tìm đọc để nghiên cứu nên lịch sử hình thành và phát triển của chiếc
Áo dài Việt Nam qua các giai đoạn, về tiền thân lịch sử và sự phát triển
Trang 3của trang phục với sự cách tân về kiểu dáng đa dạng trong nét đẹp của dân tộc và những tính cần thiết trong sự lưu giữ và phát triển nét đẹp vốn
có của nó Đó là vấn đề cần được đề cập và nghiên cứu trong đề tài trên
III Mục đích nghiên cứu.
(ĐCSVN) -"Dù xã hội ngày một phát triển, nhu cầu mỗi thời một khác, xu hướng ngày càng hiện đại nhưng vẻ đẹp truyền thống cần phải được gìn giữ và phát triển, bởi nó tạo ra những nét đẹp riêng, nét văn hóa riêng của mỗi quốc gia, dân tộc".Vẻ đẹp của áo dài là vẻ đẹp của văn hóa Việt Nam, được lưu giữ, trao truyền qua lớp lớp các thế hệ và cần được trân trọng, phát huy trong hôm nay và mai
IV Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
1 Phạm vi về đối tượng nghiên cứu :
- Phân tích để làm rõ nguồn gốc sự tích của chiếc áo dài thời xưa
và sự đổi mới của nó qua các thời kỳ
2 Phạm vi về khách thể nghiên cứu :
- Nghiên cứu dựa vào những tài liệu, thông tin, sách vở sưu tập được cùng với những suy nghĩ, ý kiến chủ quan của bản thân
V Phương pháp nghiên cứu
- Để giải quyết tốt các nhiệm vụ nói trên, đề tài nghiên cứu đã sử dụng một số các phương pháp nghiên cứu sau đây :
1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
2 Phương pháp thực tiễn
a- Phương pháp tổng hợp, khái quát tài liệu, thông tin
b- Phương pháp viết
VI
.Đ óng góp của đề tài
Đề tài trên nêu được lịch sử hình thành, những nét đổi mới trong trong cách tân về màu sắc, họa tiết của chiếc Áo dài đồng thời nêu lên được vẻ đẹp vốn quý của nó trong từng giai đoạn dù có đổi khác vẫn giữ được nét đẹp mềm mại thướt tha đậm màu sắc Việt mà không bị mai một
VII Kết cấu của đề tài
*Đề tài trên gồm hai phần :
A Phần mở đầu :
-Lý do chọn đề tài -Tình hình nghiên cứu -Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu -Phạm vi nghiên cứu
-Phương pháp nghiên cứu -Cái mới (đóng góp của đề tài) -Kết cấu của đề tài
B.Phần nội dung :
Chương I Lịch sử hình thành và sự tích của chiếc Áo
Trang 4Chương II Sự phát triển và những nét mới, sự cách tân của chiếc áo dài qua từng giai đoạn.
C.
Kết luận
CHƯƠNG I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ SỰ TÍCH VỀ CHIẾC ÁO DÀI
I.1- Nguồn gốc lịch sử của Áo dài:
Biểu trưng mạnh mẽ cho dân tộc Việt Nam của tà áo dài Trải qua nhiều thăng trầm, chiếc áo dài trở thành một hình ảnh gắn liền và là niềm
tự hào của người Việt Để có được vị trí như hôm nay, áo dài cũng đã trải qua một bề dày lịch sử với nhiều mốc đáng nhớ
Mọi người dân Việt Nam đều biết áo dài là trang phục truyền thống của quốc gia mình Nhưng nếu hỏi về nguồn gốc của áo dài thì có lẽ không phải ai cũng biết và hiểu sâu sắc Trước tiên ta phải tìm hiểu về tên
“áo dài” Nếu theo giọng Nam, áo dài sẽ được đọc là “ Ao yai”, còn ở miền Bắc thì được đọc là “ ao Zai” Đối với người dân Việt Nam cái tên
“Áo dài” đã trở nên thân thuộc từ lâu
Thật ra cho đến nay vẫn chưa ai biết rõ chiếc áo dài nguyên thuỷ ra đời từ lúc nào và hình dáng ra sao vì không có nhiều tài liệu ghi nhận Y phục
xa xưa nhất của người Việt, theo những hình khắc trên mặt chiếc trống đồng Ngọc Lũ cách đây khoảng vài nghìn năm cho thấy hình phụ nữ mặc trang phục với hai tà áo xẻ Sử gia Đào Duy Anh đã viết: “ Theo sách sử
ký chép thì người Văn Lang xưa, tức là tổ tiên của chúng ta, mặc áo dài
về bên tả ( hình thức tả nhiệm) Sử lại chép rằng ở thế kỷ thứ nhất, Nhâm Diên dạy cho dân quận Cửu Chân dung kiểu quần áo theo người Tàu Theo những lời sách đỏ chép thì ta có thể suy luận rằng trước hồi Bắc thuộc thì người Việt gài áo về tay trái, mà sau bắt chiếc người Trung Quốc mới mặc gài về tay phải Vì thế có thể coi kiểu sơ khai của áo dài xưa nhất là áo giao lãnh, tương tự như áo tứ thân nhưng khi mặc thì hai thân trước để giao nhau mà không buộc lại, áo mặc phủ ngoài yếm lót, váy tơ đen, thắt lưng màu buông thả
Không thể xác định niên đại chính xác của áo dài, bởi ngay tà áo được coi là quốc phục của người Việt cũng phải trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, thời gian, du nhập nhiều nền văn hóa qua nhiều giai đoạn mới
có ngày hôm nay Tuy nhiên, ngay trên những tranh khắc của Trống đồng Ngọc Lũ cách đây vài nghìn năm đã thấy thấp thoáng bóng dáng của
tà áo dài, tranh khắc trang phục của phụ nữ mặc trang phục với hai tà áo xẻ
Tại sao nói trang phục với hai tà áo xẻ lại là bóng dáng của áo dài,
vì nét đặc trưng mạnh mẽ nhấtcủa áo dài chính là hai tà áo Cho dù trải qua bao nhiêu ngàn năm với bao nhiêu biến thể, nét duy nhất còn nhận ra
Trang 5được trang phục truyền thống của người Việt không bị lai tạp với các nền văn hóa khác chính là hai tà áo dài.Có nhiều người cho rằng áo dài Việt là một bản khác của sườn xám của phụ nữ Trung Quốc, nhưng chiếc sườn xám chỉ xuất hiện vào khoảng 1920, còn tà áo dài Việt đã có từ rất lâu trước đó Điều đó chứng tỏ áo dài là một nét văn hóa của riêng Việt Nam, chỉ người Việt mới có Và khi nói đến khía cạnh thẩm mỹ, văn hóa và trang phục truyền thống của người Việt Nam, người ta thường nghĩ ngay đến tà áo dài và chiếc nón lá, thật vậy, trải qua từng thời kỳ, từng giai đoạn cùng với những diễn biến của quá trình phát triển lịch sử, tà áo dài Việt Nam tồn tại cùng với thời gian, được xem là trang phục truyền thống mang tính lịch sử lâu đời của người Việt
Vua chúa ngày xưa vì quyền lợi giai cấp và huyết thống, họ đã có những chủ trương phản truyền thống, phản dân tộc và đã bị quần chúng đấu tranh loại bỏ "Quần hai ống" và "áo dài" của phụ nữ Việt Nam tuy xuất phát cùng ở trong mục đích ấy, nhưng may thay, nó đã thừa kế được cái đẹp của phụ nữ phương Bắc cũng như phương Nam, phù hợp với dáng người Việt Nam, nên nó đã được chấp nhận và trở nên một tài sản văn hóa của người phụ nữ Việt Nam
I.2 – Lịch sử hình thành:
Kiểu sơ khai của chiếc áo dài xưa nhất là áo giao lãnh, tương tự như áo tứ thân nhưng khi mặc thì hai thân trước để giao nhau mà không buộc lại Áo mặc phủ ngoài yếm lót, váy tơ đen, thắt lưng mầu buông thả Xưa các bà các cô búi tóc trên đỉnh đầu hoặc quấn quanh đầu, đội mũ lông chim dài; về sau bỏ mũ lông chim để đội khăn, vấn khăn, đội nón lá, nón thúng Cổ nhân xưa đi chân đất, về sau mang guốc gỗ, dép, giày Vì phải làm việc đồng áng hoặc buôn bán, chiếc áo giao lãnh được thu gọn lại thành kiểu áo tứ thân (gồm bốn vạt nửa: vạt nửa trước phải, vạt nửa trước trái, vạt nửa sau phải, vạt nửa sau trái) Áo tứ thân được mặc ra ngoài váy xắn quai cồng để tiện cho việc gồng gánh nhưng vẫn không làm mất đi vẻ đẹp của người phụ nữ
Áo tứ thân thích hợp cho người phụ nữ miền quê quanh năm cần cù bươn chải, gánh gồng tháo vát Với những phụ nữ tỉnh thành nhàn hạ hơn, muốn có một kiểu áo dài được cách tân thế nào đó để giảm chế nét dân dã lao động và gia tăng dáng dấp trang trọng khuê các Thế là ra đời
áo ngũ thân với biến cải ở chỗ vạt nửa trước phải nay được thu bé lại trở thành vạt con; thêm một vạt thứ năm be bé nằm ở dưới vạt trước Áo ngũ thân che kín thân hình không để hở áo lót Mỗi vạt có hai thân nối sống (vị chi thành bốn) tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, và vạt con nằm dưới vạt trước chính là thân thứ năm tượng trưng cho người mặc áo Vạt con nối với hai vạt cả nhờ cổ áo có bâu đệm, và khép kín nhờ năm chiếc khuy tượng trưng cho quan điểm về ngũ thường theo quan điểm Nho giáo và ngũ hành theo triết học Đông phương
Trang 6I.2.2 Thời chúa Nguyễn Phúc Khoát
Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát được xem là người có công khai sáng và định hình chiếc áo dài Việt Nam.Chịu ảnh hưởng nặng của văn hóa Trung Hoa, cho đến thế kỷ 16 lối ăn mặc của người Việt Nam vẫn thường hay bắt chước lối của người phương Bắc, đặc biệt dưới thời các chúa Nguyễn xứ Đàng Trong do nhu cầu khai phá khẩn hoang, đón nhận hàng vạn người Minh Hương
(còn gọi là người Khách Trú hay đọc trại thành "cắc chú") bất mãn với nhà Thanh sang định cư lập nghiệp, mặc dù người Việt cũng có lối ăn mặc riêng Trước làn sóng xâm nhập mới này, để
gìn giữ bản sắc văn hóa riêng, Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát ban hành sắc dụ về ăn mặc cho toàn thể dân chúng xứ Đàng Trong phải theo đó thi hành Trong sắc dụ đó, người ta thấy lần đầu
tiên sự định hình cơ bản của chiếc áo dài Việt Nam, như sau: "Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay, cửa ống tay rộng hoặc hẹp tùy tiện Áo thì hai bên nách trở xuống
phải khâu kín liền, không được xẻ mở Duy đàn ông không muốn mặc áo
cổ tròn ống tay hẹp cho tiện khi làm việc thì được phép " (sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên) Trong Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quý Đôn viết
"Chúa Nguyễn Phúc Khoát đã viết những trang sử đầu cho chiếc áo dài như vậy"
Căn cứ theo những chứng liệu này, có thể khẳng định chiếc áo dài với hình thức cố định đã ra đời và chính thức được công nhận là quốc phục dưới triều chúa Nguyễn Vũ Vương (1739-1765)
Vào thời này, các văn bản tại Việt Nam dùng chữ Hán hoặc chữ Nôm, áo dài viết bằng chữ Nôm
là 襖襖
Một vài tài liệu quy kết việc ra đời của chiếc áo dài quốc phục là
do những tham vọng riêng tư của chúa Nguyễn Phúc Khoát Do muốn xưng vương và tách rời Đàng Trong thành quốc gia
riêng, nên ban sắc dụ về ăn mặc như trên cho khác đi, không phải với người khách trú mà với Bắc triều (trong quy định này đã có cả chỉ thị phụ
nữ phải mặc quần hai ống) Sau thấy quần hai
ống khêu gợi quá, Vương mới giao cho triều thần pha phối từ mẫu áo dài của người Chăm (giống như áo dài phụ nữ Việt Nam ngày nay, nhưng không xẻ nách) và áo dài của phụ nữ Thượng Hải
(chiếc sườn xám) để "chế" ra cái áo dài của phụ nữ Việt Nam Chiếc áo dài đầu tiên giống như áo dài người Chàm và có xẻ nách Thật ra chiếc sườn xám cũng chỉ ra đời quãng thập niên 1930,
và quan điểm trên quá thiên nặng về tính chống phong kiến nên vô hình chung đề cao vai trò của Vũ Vương như là "nhà thiết kế áo dài hiện đại đầu tiên"
I.2.3Thời vua Minh Mạng
Trang 7Cho đến thế kỷ 17 truyền thống mặc váy vẫn tồn tại ở Việt Nam như đã ghi trong sách Lê Triều Thiên Chính đời vua Lê Huyền Tông, tháng 3 năm 1665 với sắc lệnh nhắc nhở: " áo đàn bà con gái không có thắt lưng, quần không có hai ống từ xưa đến nay vốn đã có cổ tục như thế " Vậy có thể nói rằng bộ áo ngũ thân xuất hiện vào khoảng đời vua Gia Long (1802-1819) Sở dĩ có sự ước đoán này, vì mặc áo ngũ thân thì phải mặc quần chớ không thể mặc váy Năm Minh Mạng thứ 9 (1828), triều đình Huế ra chiếu chỉ cấm đàn bà mặc váy và bắt phải mặc quần hai ống, nên hồi ấy mới xuất hiện câu ca dao than vãn:
Tháng Tám có chiếu vua ra Cấm quần không đáy, người ta hãi hùng!
I.2.4 Đời sống mới
Các bộ phận của một chiếc áo dài kiểu mới 1947 trong bối cảnh Việt Nam mới tuyên bố độc lập và các phong trào "diệt giặc đói, giặc dốt" đang được phát động, nhằm phát động phong trào tiết kiệm, ngày 20 tháng 3 năm 1947, Hồ Chí Minh, với bút hiệu Tân Sinh, đã viết một cách vắn tắt rõ ràng và dễ hiểu bài "Đời sống mới" trong đó vận động người dân bỏ thói quen mặc áo dài để thay bằng áo vắn vì mặc áo dài đi đứng, làm việc bất tiện, lượt thượt, luộm thuộm Áo dài tốn vải, khoảng hai cái
áo dài may được ba cái áo vắn, nếu chỉ mặc áo vắn có thể sẻn được 200 triệu đồng/năm Áo dài không hợp với phụ nữ Việt Nam đời sống mới Cuộc vận động này dần đã được người dân hưởng ứng và áo dài không còn là trang phục thông dụng của phụ nữ Việt Nam trong một thời gian dài ở miền bắc vĩ tuyến 17
I.3- Sự hình thành:
I.3.1Một biểu tượng của Việt Nam
Trang 8Khác với kimono của Nhật Bản hay hanbok của Hàn Quốc, chiếc áo dài Việt Nam vừa truyền thống lại cũng vừa hiện đại Trang phục dành cho nữ này không bị giới hạn chỉ mặc tại một số nơi hay dịp mà có thể mặc mọi nơi, dùng làm trang phục công sở, đồng phục đi học, mặc đi chơi hay mặc để tiếp khách một cách trang trọng ở nhà Việc mặc loại trang phục này không hề rườm rà hay cầu kỳ, những thứ mặc kèm đơn giản: mặc với một quần lụa hay vải mềm, dưới chân đi hài, guốc, hay giày gì đều được; nếu cần trang trọng (như trang phục cô dâu) thì thêm áo choàng và chiếc khăn đóng truyền thống đội đầu, hoặc một chiếc miện Tây phương tùy thích Đây chính là điểm đặc biệt của thứ trang phục truyền thống này
Chiếc áo dài hình như có cách riêng để tôn đẹp mọi thân hình Phần trên ôm sát thân nhưng hai vạt buông thật mềm mại trên đôi ống quần rộng Hai tà xẻ chí trên vòng eo khiến cho cử chỉ người mặc thật thoải mái, lại tạo dáng thướt tha, tôn vẻ nữ tính, vừa kín kẽ vì toàn thân được bao bọc bởi lụa mềm, lại cũng vừa khiêu gợi vì chiếc áo làm lộ ra sống eo
Chiếc áo dài vì vậy mang tính cá nhân hóa rất cao: mỗi chiếc chỉ may riêng cho một người, dành cho riêng người đó; không thể
có một công nghệ "sản xuất đại trà" cho chiếc áo dài Người đi may được lấy số đo thật kỹ Khi may xong phải qua một lần mặc thử để sửa nhỏ nữa mới hoàn thiện
I.3.2 - Trong thơ ca và hội họa
Áo dài màu đỏ (thường là áo dài dùng trong lễ cưới, lễ ăn hỏi của người Việt) nữ/con gái Việt Nam với chiếc áo dài truyền thống đã được nhiều nhà nghệ sĩ ghi lại, nổi bật nhất là trong thơ
và nhạc Bài thơ nổi tiếng về chiếc áo dài có thể kể là "Áo lụa Hà Đông" của Nguyên Sa, bài này được phổ nhạc thành một bài hát nổi tiếng và là cảm hứng cho một bộ phim điện ảnh cùng tên, với những câu:
Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
"Ngày xưa Hoàng Thị" của thi sĩ Phạm Thiên Thư kể về chuyện tình thuở học sinh với cô gái họ Hoàng, cô xuất hiện trong bài với những nét phác họa:
Áo tà nguyệt bạch
Ôm nghiêng cặp sách Vai nhỏ tóc dài"
Trang 9Nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc bài này cũng không quên làm nổi bật hình ảnh áo dài khi sửa thành:
Ôm nghiêng tập vở, tóc dài, tà áo vờn bay
Tranh Thiếu nữ bên hoa huệ của Tô Ngọc Vân
Bức tranh "Thiếu nữ bên hoa huệ" của họa sĩ Tô Ngọc Vân sáng tác năm 1943, là một trong những tác phẩm hội họa hiện đại Việt Nam đầu tiên và nổi tiếng bậc nhất, miêu tả một cô gái
mặc áo dài trắng ngồi bên một bình hoa huệ tây(hoa loa kèn)
Chiếc áo dài cũng phảng phất hay xuất hiện nhiều trong các ca khúc Việt Nam Trong nhạc Trịnh Công Sơn có thể nhìn thấy khá nhiều Theo hồi ký, chính những bước chân hoàng cung của
những nữ sinh áo tím Huế đã làm cho nhạc sĩ họ Trịnh viết nên bài
"Diễm xưa" nổi tiếng Hay trong bài "Hạ trắng", hình ảnh áo dài cũng chập chờn:
Gọi nắng trên vai em gầy đường xa áo bay (Hạ trắng)
"Bé ca" của Phạm Duy viết cho con gái mới lớn, có bài "Tuổi ngọc" tả về niềm hân hoan của cô bé khi bước chân vào trung học, lần đầu khoác lên mình "một chiếc áo như mây hồng":
Xin cho em một chiếc áo dài, cho em đi mua xuân tới rồi Mặc vào đời rồi ra, mừng lạy chào mẹ cha
Hàng lụa là thơm dáng tuổi thơ
I.4 – Các kiểu Áo dài:
1 Áo dài nữ giới:
Thuở xưa phụ nữ Việt Nam từ Bắc xuống Nam đều mặc váy Đến ngày nay chiếc váy đó chỉ còn rải rác ở một số vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Thanh Nghệ Chiếc áo dài đã trở thành biểu tượng của phụ nữ Việt Nam
Như lịch sử còn ghi lại cuộc chiến Trịnh - Nguyễn phân tranh kéo dài gần 200 năm Ở miền Bắc vua Lê chúa Trịnh trị vì, ở Miền Nam các chúa Nguyễn miệng nói thuần phục nhà Lê song thực chất họ đã lấy Phú Xuân làm thủ phủ của đằng trong để củng
cố địa vị cho sự nghiệp: “ Vạn đại dung thân” Năm 1744 trong dân gian miền Nam bỗng lưu truyền một câu sấm “ Bát đại thời
hoàn trung đô” (tức là ở lại kinh đô Thăng Long ngay) Câu sấm này làm cho chúa Nguyễn Phúc Khoát giật mình Triều thần của Nguyễn Phúc Khoát đã họp bàn để tìm ra hướng giải quyết “
hoàn” Trung Đô Một thời gian sau các đại quan đã trình bày với chúa Nguyễn rằng “ Muốn thực sự có một vương quốc mới để đổi mạng trời thì phải thay đổi lễ nhac, thay đổi văn hoá” Văn hoá
đó là trang phục
Trang 10Năm 1819, cách ăn mặc của người dân vẫn giống như giáo sĩ Borri đã thấy ở Thuận Quảng từ hơn hai thế kỷ trước đó với quần lụa đen và áo may sát người dài đến mắt cá chân
Riêng ở miền Bắc khoảng năm1910 - 1920, phụ nữ thích may thêm một cái khuyết phụ độ 3cm bên phải cổ áo, và cài khuy cổ lệch ra đấy Cổ áo như thế sẽ hở ra cho quyến rũ hơn và cũng để
diện chuỗi hột trang sức nhiều vòng
Phần nhiều áo dài ngày xưa đều may kép, tức là may có lớp lót Lớp áo trong cùng thấm mồ hôi,vì thế được may đơn bằng vải mầu trắng để không sợ bị thôi mầu, dễ giặt Một áo kép mặc kèm với một áo lót đơn ở trong đã thành một bộ áo mớ ba Quần may rộng vừa phải, với đũng thấp
Thuở đó, phần đông phụ nữ từ Nam ra Bắc đều mặc quần đen với áo dài, trong khi phụ nữ Huế lại chuộng quần trắng Đặc biệt là giới thượng lưu ở Huế hay mặc loại quần chít ba, nghĩa là dọc hai bên mép ngoài quần được may với ba lần gấp, để khi đi lại quần sẽ xòe rộng thêm
Và kể từ đó phân biệt với phụ nữ hai miền thì phụ nữ miền Bắc mặc váy phụ nữ miền Nam mặc quần có đáy ( hai ống) như đàn ông Với con mắt phong kiến, võ vương thấy phụ nữ mặc quần hai ống trông khêu gơi quá nên ông bèn cho triều thần nghiên cứu tham khảo áo dài của người Chăm (Giống áo ài Việt Nam ngày nay nhưng không xẻ nách) và chiếc áo dài thượng Hải ( xẻ đến đầu gối)
để từ đó chế ra áo dài Việt Nam Vì thế có thể coi chiếc áo dài của người phụ nữ đầu tiên giống như chiếc áo dài của ngừời Chàm nhưng có xẻ nách Chiếc áo dài ngày nay hội tụ cả hai yếu tố của phương Bắc và phương Nam tạo nên sự cân đối hài hoà
Cho đến đầu thế kỷ XX, phần đông áo dài phụ nữ thành thị đều may theo thể năm thân hay năm tà Mỗi thân áo trước và sau đều có hai tà, khâu lại với nhau dọc theo sống áo Thêm vào đó là
tà thứ năm ở bên phải, trong thân trước Tay áo may nối phía dưới khuỷu tay Sở dĩ áo phải nối thân và tay như thế là vì các loại vải tốt như lụa, sa, gấm, đoạn ngày xưa chỉ dệt được rộng nhất là 40
cm Cổ, tay và thân trên áo thường ôm sát người, rồi tà áo may rộng ra từ sườn đến gấu và không chiết eo Gấu áo may võng, vạt rất rộng, trung bình là 80 cm ở gấu, cổ áo chỉ cao khoảng 2-3 cm Trong thập niên từ 1930 đến 1940, cách may áo dài vẫn không thay đổi nhiều, nhưng phụ nữ thành thị bắt đầu dùng các loại vải màu tươi, sáng hơn, được nhập khẩu từ châu Âu Thời kỳ này, gấu áo dài thường được may trên mắt cá chân khoảng 20cm Từ đây và tiếp tục cho đến gần cuối thế kỷ XX thiếu nữ khắp nơi mặc quần trắng với áo dài Quần đen dành cho những phụ nữ đã lập