1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận áo dài Việt Nam ĐH Công nghiệp Hà Nội

35 13,6K 68
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 3,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Áo Dài Việt Nam Áo dài là loại trang phục truyền thống của Việt Nam, che thân người từ cổ đến hoặc quá đầu gối, dành cho cả nam lẫn nữ. Áo dài thường được mặc vào các dịp lễ hội trang trọng, hoặc nữ sinh mặc khi đi học. Có lẽ chưa có một văn bản nào quy định áo dài chính thức là quốc phục của phụ nữ Việt Nam. Thế nhưng trong thực tế, hễ nói đến phụ nữ Việt Nam thì không thể không nói đến áo dài. Đến nỗi nó trở thành một từ riêng của tiếng Anh vì họ không thể dùng hai từ có sẵn: áo và dài để dịch.Trước đây, áo dài thường được mặc chung với nón quai thao, nón lá, hay là khăn đóng.

Trang 1

Họ & Tên SV: Lâm Đình Thị Cúc

Mã SV : 0841100238

Lớp : May 3k8 Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội.

Giới Thiệu Chung

Chương I Lịch sử hình thành và sự tích về chiếc Áo dài.

I.1 Nguồn gốc lịch sử của Áo dài.

I.2 Lịch sử hình thành

I.3 Sự hình thành

I.4 Các kiểu Áo dài.

Chương II Sự phát triển và những nét mới, sự cách tân của chiếc áo.

Dài qua từng giai đoạn

II.1 Sự phát triển

II.2 Sức hấp dẫn của áo dài.

III.3Những nét mới và sự cách tân

 Làm sao để có một chiếc áo dài đẹp ?

C.Kết Luận.

Trang 2

Đề tài: ÁO DÀI VIỆT NAM

Lời Mở Đầu:

Trang phục là một trong ba yêu cầu của đời sống vật chất (ăn, mặc, ở) đây là sản phẩm văn hoá sớm nhất của xã hội loài người Theo thời gian, trang phục cũng thay đổi theo quá trình phát triển của lịch sử Đối với mỗi một quốc gia, trang phục cũng trở thành một yếu tố quan trọng tạo nên nét đẹp văn hóa riêng biệt qua từng thời kỳ, mang tính đậm đà và vẻ đẹp của mỗi dân tộc Làngười Việt Nam em thật tự hào và kiêu hãnh khi được nói tới chiếc áo dài Việt Nam-một nét đẹp

về trang phục truyền thống của người Việt từ thời xa xưa Bộ trang phục này thường được mặc trong các dịp trọng đại vì nó mang vẻ đẹp thướt tha trang nghiêm thùy mị và hơn nữa trang phục áo dài cả nam và nữ đều có thể mặc được, nó ngày càng trở nên phổ biến và trở thành nét đẹp về thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam

Là sinh viên năm nhất của trường Đại học Mỹ Thuật Công Nghiệp em chọn nghệ thuật là con đường riêng cho sự phát triển của bản thân, mong muốn được tiếp thu, học hỏi và lĩnh hội những nét đẹp trong văn hóa của cuộc sống muốn được tìm hiểu sâu về những nét đẹp về trang phục củađất nước mình

Chính vì những lý do trên, em quyết định chọn đề tài với tên gọi:”Áo dài Việt Nam”

CHƯƠNG I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ SỰ TÍCH VỀ CHIẾC ÁO DÀI

I.1- Nguồn gốc lịch sử của Áo dài:

Biểu trưng mạnh mẽ cho dân tộc Việt Nam của tà áo dài Trải qua nhiều thăng trầm, chiếc áo dài trở thành một hình ảnh gắn liền và là niềm tự hào của người Việt Để có được vị trí như hôm nay, áo dài cũng đã trải qua một bề dày lịch sử với nhiều mốc đáng nhớ

Mọi người dân Việt Nam đều biết áo dài là trang phục truyền thống của quốc gia mình Nhưngnếu hỏi về nguồn gốc của áo dài thì có lẽ không phải ai cũng biết và hiểu sâu sắc Trước tiên taphải tìm hiểu về tên “áo dài” Nếu theo giọng Nam, áo dài sẽ được đọc là “ Ao yai”, còn ở miềnBắc thì được đọc là “ ao Zai” Đối với người dân Việt Nam cái tên “Áo dài” đã trở nên thânthuộc từ lâu

Thật ra cho đến nay vẫn chưa ai biết rõ chiếc áo dài nguyên thuỷ ra đời từ lúc nào và hìnhdáng ra sao vì không có nhiều tài liệu ghi nhận Y phục xa xưa nhất của người Việt, theo nhữnghình khắc trên mặt chiếc trống đồng Ngọc Lũ cách đây khoảng vài nghìn năm cho thấy hình phụ

nữ mặc trang phục với hai tà áo xẻ Sử gia Đào Duy Anh đã viết: “ Theo sách sử ký chép thì

Trang 3

người Văn Lang xưa, tức là tổ tiên của chúng ta, mặc áo dài về bên tả ( hình thức tả nhiệm) Sửlại chép rằng ở thế kỷ thứ nhất, Nhâm Diên dạy cho dân quận Cửu Chân dung kiểu quần áo theongười Tàu Theo những lời sách đỏ chép thì ta có thể suy luận rằng trước hồi Bắc thuộc thì ngườiViệt gài áo về tay trái, mà sau bắt chiếc người Trung Quốc mới mặc gài về tay phải Vì thế có thểcoi kiểu sơ khai của áo dài xưa nhất là áo giao lãnh, tương tự như áo tứ thân nhưng khi mặc thìhai thân trước để giao nhau mà không buộc lại, áo mặc phủ ngoài yếm lót, váy tơ đen, thắt lưngmàu buông thả.

Không thể xác định niên đại chính xác của áo dài, bởi ngay tà áo được coi là quốc phục của người Việt cũng phải trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, thời gian, du nhập nhiều nền văn hóa qua nhiều giai đoạn mới có ngày hôm nay Tuy nhiên, ngay trên những tranh khắc của Trống đồng Ngọc Lũ cách đây vài nghìn năm đã thấy thấp thoáng bóng dáng của tà áo dài, tranh khắc trang phục của phụ nữ mặc trang phục với hai tà áo xẻ

Trang 4

Tại sao nói trang phục với hai tà áo xẻ lại là bóng dáng của áo dài, vì nét đặc trưng mạnh mẽ nhất của áo dài chính là hai tà áo Cho dù trải qua bao nhiêu ngàn năm với bao nhiêu biến thể, nét duy nhất còn nhận ra được trang phục truyền thống của người Việt không bị lai tạp với các nền văn hóa khác chính là hai tà áo dài.Có nhiều người cho rằng áo dài Việt là một bản khác của sườn xám của phụ nữ Trung Quốc, nhưng chiếc sườn xám chỉ xuất hiện vào khoảng 1920, còn tà

áo dài Việt đã có từ rất lâu trước đó Điều đó chứng tỏ áo dài là một nét văn hóa của riêng Việt Nam, chỉ người Việt mới có Và khi nói đến khía cạnh thẩm mỹ, văn hóa và trang phục truyền thống của người Việt Nam, người ta thường nghĩ ngay đến tà áo dài và chiếc nón lá, thật vậy, trảiqua từng thời kỳ, từng giai đoạn cùng với những diễn biến của quá trình phát triển lịch sử, tà áo dài Việt Nam tồn tại cùng với thời gian, được xem là trang phục truyền thống mang tính lịch sử lâu đời của người Việt

Vua chúa ngày xưa vì quyền lợi giai cấp và huyết thống, họ đã có những chủ trương phảntruyền thống, phản dân tộc và đã bị quần chúng đấu tranh loại bỏ "Quần hai ống" và "áo dài"của phụ nữ Việt Nam tuy xuất phát cùng ở trong mục đích ấy, nhưng may thay, nó đã thừa kếđược cái đẹp của phụ nữ phương Bắc cũng như phương Nam, phù hợp với dáng người Việt Nam,nên nó đã được chấp nhận và trở nên một tài sản văn ohoa1 của người phụ nữ Việt Nam

I.2 – Lịch sử hình thành:

Kiểu sơ khai của chiếc áo dài xưa nhất là áo giao lãnh, tương tự như áo tứ thân nhưng khi mặcthì hai thân trước để giao nhau mà không buộc lại Áo mặc phủ ngoài yếm lót, váy tơ đen, thắtlưng mầu buông thả Xưa các bà các cô búi tóc trên đỉnh đầu hoặc quấn quanh đầu, đội mũ lôngchim dài; về sau bỏ mũ lông chim để đội khăn, vấn khăn, đội nón lá, nón thúng Cổ nhân xưa đichân đất, về sau mang guốc gỗ, dép, giày Vì phải làm việc đồng áng hoặc buôn bán, chiếc áogiao lãnh được thu gọn lại thành kiểu áo tứ thân (gồm bốn vạt nửa: vạt nửa trước phải, vạt nửatrước trái, vạt nửa sau phải, vạt nửa sau trái) Áo tứ thân được mặc ra ngoài váy xắn quai cồng đểtiện cho việc gồng gánh nhưng vẫn không làm mất đi vẻ đẹp của người phụ nữ

Áo tứ thân thích hợp cho người phụ nữ miền quê quanh năm cần cù bươn chải, gánh gồng tháovát Với những phụ nữ tỉnh thành nhàn hạ hơn, muốn có một kiểu áo dài được cách tân thế nào

đó để giảm chế nét dân dã lao động và gia tăng dáng dấp trang trọng khuê các Thế là ra đời áo ngũ thân với biến cải ở chỗ vạt nửa trước phải nay được thu bé lại trở thành vạt con; thêm một vạt thứ năm be bé nằm ở dưới vạt trước Áo ngũ thân che kín thân hình không để hở áo lót Mỗi vạt có hai thân nối sống (vị chi thành bốn) tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, và vạt con nằm dưới vạt trước chính là thân thứ năm tượng trưng cho người mặc áo Vạt con nối với hai vạt cả nhờ cổ áo có bâu đệm, và khép kín nhờ năm chiếc khuy tượng trưng cho quan điểm về ngũ thường theo quan điểm Nho giáo và ngũ hành theo triết học Đông phương

Trang 5

I.2.2 Thời chúa Nguyễn Phúc Khoát

Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát được xem là người có công khai sáng và định hình chiếc áo dài Việt Nam.Chịu ảnh hưởng nặng của văn hóa Trung Hoa, cho đến thế kỷ 16 lối ăn mặc của người Việt Nam vẫn thường hay bắt chước lối của người phương Bắc, đặc biệt dưới thời các chúa Nguyễn xứ Đàng Trong do nhu cầu khai phá khẩn hoang, đón nhận hàng vạn người Minh Hương (còn gọi là người Khách Trú hay đọc trại thành "cắc chú") bất mãn với nhà Thanh sang định cư lập nghiệp, mặc dù người Việt cũng có lối ăn mặc riêng Trước làn sóng xâm nhập mới này, để gìn giữ bản sắc văn hóa riêng, Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát ban hành sắc dụ về ăn mặccho toàn thể dân chúng xứ Đàng Trong phải theo đó thi hành Trong sắc dụ đó, người ta thấy lần đầu tiên sự định hình cơ bản của chiếc áo dài Việt Nam, như sau: "Thường phục thì đàn ông, đàn

bà dùng áo cổ đứng ngắn tay, cửa ống tay rộng hoặc hẹp tùy tiện Áo thì hai bên nách trở xuống phải khâu kín liền, không được xẻ mở Duy đàn ông không muốn mặc áo cổ tròn ống tay hẹp chotiện khi làm việc thì được phép " (sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên) Trong Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quý Đôn viết "Chúa Nguyễn Phúc Khoát đã viết những trang sử đầu cho chiếc áo dài như vậy"

Căn cứ theo những chứng liệu này, có thể khẳng định chiếc áo dài với hình thức cố định đã ra đời và chính thức được công nhận là quốc phục dưới triều chúa Nguyễn Vũ Vương (1739-1765) Vào thời này, các văn bản tại Việt Nam dùng chữ Hán hoặc chữ Nôm, áo dài viết bằng chữ Nôm

là 襖長

Một vài tài liệu quy kết việc ra đời của chiếc áo dài quốc phục là do những tham vọng riêng tưcủa chúa Nguyễn Phúc Khoát Do muốn xưng vương và tách rời Đàng Trong thành quốc gia riêng, nên ban sắc dụ về ăn mặc như trên cho khác đi, không phải với người khách trú mà với

Trang 6

Bắc triều (trong quy định này đã có cả chỉ thị phụ nữ phải mặc quần hai ống) Sau thấy quần hai ống khêu gợi quá, Vương mới giao cho triều thần pha phối từ mẫu áo dài của người Chăm (giốngnhư áo dài phụ nữ Việt Nam ngày nay, nhưng không xẻ nách) và áo dài của phụ nữ Thượng Hải (chiếc sườn xám) để "chế" ra cái áo dài của phụ nữ Việt Nam Chiếc áo dài đầu tiên giống như

áo dài người Chàm và có xẻ nách Thật ra chiếc sườn xám cũng chỉ ra đời quãng thập niên 1930,

và quan điểm trên quá thiên nặng về tính chống phong kiến nên vô hình chung đề cao vai trò của

Vũ Vương như là "nhà thiết kế áo dài hiện đại đầu tiên"

I.2.3 Thời vua Minh Mạng

Cho đến thế kỷ 17 truyền thống mặc váy vẫn tồn tại ở Việt Nam như đã ghi trong sách Lê Triều Thiên Chính đời vua Lê Huyền Tông, tháng 3 năm 1665 với sắc lệnh nhắc nhở: " áo đàn

bà con gái không có thắt lưng, quần không có hai ống từ xưa đến nay vốn đã có cổ tục như thế " Vậy có thể nói rằng bộ áo ngũ thân xuất hiện vào khoảng đời vua Gia Long (1802-1819)

Sở dĩ có sự ước đoán này, vì mặc áo ngũ thân thì phải mặc quần chớ không thể mặc váy Năm Minh Mạng thứ 9 (1828), triều đình Huế ra chiếu chỉ cấm đàn bà mặc váy và bắt phải mặc quần hai ống, nên hồi ấy mới xuất hiện câu ca dao than vãn:

Tháng Tám có chiếu vua ra

Cấm quần không đáy, người ta hãi hùng!

I.2.4 Đời sống mới

Các bộ phận của một chiếc áo dài kiểu mới

Năm 1947 trong bối cảnh Việt Nam mới tuyên bố độc lập và các phong trào "diệt giặc đói, giặc dốt" đang được phát động, nhằm phát động phong trào tiết kiệm, ngày 20 tháng 3 năm 1947,

Hồ Chí Minh, với bút hiệu Tân Sinh, đã viết một cách vắn tắt rõ ràng và dễ hiểu bài "Đời sống

Trang 7

mới" trong đó vận động người dân bỏ thói quen mặc áo dài để thay bằng áo vắn vì mặc áo dài đi đứng, làm việc bất tiện, lượt thượt, luộm thuộm Áo dài tốn vải, khoảng hai cái áo dài may được

ba cái áo vắn, nếu chỉ mặc áo vắn có thể sẻn được 200 triệu đồng/năm Áo dài không hợp với phụ nữ Việt Nam đời sống mới Cuộc vận động này dần đã được người dân hưởng ứng và áo dài không còn là trang phục thông dụng của phụ nữ Việt Nam trong một thời gian dài ở miền bắc vĩ tuyến 17

I.2.5 Áo dài Le Mur

đi giày cao, một tay cắp ô và quàng vai thêm chiếc bóp đầm Lối tân thời này đã bị một số dư luận khi đó tẩy chay và cho là "đĩ thõa" (như được phản ảnh không hề thiện cảm trong tác phẩm

Số đỏ của Vũ Trọng Phụng)

Theo tài liệu thu thập được thì hoạ sĩ Nguyễn Cát Tường là người đầu tiên đã cải tiến chiếc áo dài cho phụ nữ Việt Nam Ông sinh năm 1912 tại Sơn Tây Năm 17 tuổi, ông trúng tuyển vào trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội và tốt nghiệp vào năm 1934

Trang 8

Ông là người đã đóng góp rất nhiều trong việc sáng chế các kiểu quần áo cho phụ nữ Việt Nam Vào đầu thập niên 1930, chiếc áo dài thuần tuý của Việt Nam bắt đầu thay đổi, giới phụ nữbắt đầu mặc áo mầu và năm 1934, hoạ sĩ Cát Tường đã tung ra một loạt các loại mẫu áo dài tân thời trong tập san Đẹp 1934 và báo Phong Hoá thời bấy giờ, dưới cái tên “Lemur”.

Sau đó, ông tiếp tục thiết kế nhiều mẫu áo dài cho phụ nữ, nữ sinh và áo ngắn mặc trong nhà Ngoài chuyện cải tiến áo dài cho phụ nữ, và đóng góp vào việc thiết kế các kiểu y phục thích hợpvới thân hình, lại làm tăng vẻ đẹp của phái nữ, hoạ sĩ Cát Tường còn cải tiến và mỹ thuật hoá chiếc xích lô đạp thời bấy giờ và được dân chúng ủng hộ nhiệt tình

Tiếc thay, vào ngày 17 tháng 12 năm 1946, ông bị dân quân bắt tại Hà Nội và đưa đi biệt tích.Mặc dù họa sĩ đã ra đi một cách bất ngờ gần 75 năm trước, nhưng bóng dáng của chiếc áo dài mà hoạ sĩ tài ba Cát Tường thiết kế vẫn tiếp tục xuất hiện tại Việt Nam và nhiều nơi trên thế giới Tà áo dài tha thướt, nhã nhặn, kín đáo và duyên dáng làm tăng thêm vẻ đẹp của người phụ

nữ Việt Nam, và là niềm hãnh diện cho người Việt

I.2.6 Áo dài Lê Phổ

Năm 1934, một họa sĩ khác là Lê Phổ bỏ bớt những nét lai căng, cứng cỏi của áo Le Mur, đồng thời đưa thêm các yếu tố dân tộc từ áo tứ thân, ngũ thân vào, tạo ra một kiểu áo vạt dài cổ kính, ôm sát thân người, trong khi hai vạt dưới được tự do bay lượn Sự dung hợp này quá hài hòa, vẹn vẻ giữa cái mới và cái cũ, được giới nữ thời đó hoan nghênh nhiệt liệt Từ đây áo dài

Trang 9

Việt Nam đã tìm được hình hài chuẩn mực của nó, và từ bấy đến nay dù trải bao thăng trầm, bao lần cách tân cách điệu, hình dạng chiếc áo dài về cơ bản vẫn giữ nguyên.

I.2.7 Áo dài với tay giác lăng

Thập niên 1960 có nhà may Dung ở Dakao, Sài Gòn đưa ra kiểu may áo dài với cách ráp tay raglan (giác lăng) Cách ráp này đã giải quyết được vấn đề khó khăn nhất khi may áo dài: những nếp nhăn thường xuất hiện hai bên nách Cách ráp này cải biến ở chỗ hàng nút cài được bố trí chạy từ dưới cổ xéo xuống nách, rồi kế đó chạy dọc một bên hông Với cách ráp tay raglan làn vải được bo sít sao theo thân hình người mặc từ dưới nách đến lườn eo, khiến chiếc áo dài ôm khít từng đường cong của thân hình người phụ nữ, tạo thêm tính thẩm mỹ theo đánh giá của một

số nhà thiết kế

I.2.8 Áo dài miniraglan

Trang 10

Nữ sinh mặc áo dài đến trường

Phiên bản này được áp dụng rộng rãi cho nữ sinh Theo phiên bản này, áo dài tay raglan có tà chỉ dài tới gối, nhưng hai ống quần rộng lòa xòa phủ kín đôi chân Hai đặc điểm này làm cho tà

áo nữ sinh đậm chất hồn nhiên, dễ thương

I.2.9 Áo dài cổ thuyền

Cuối năm 1958 khi bà Trần Lệ Xuân còn tại vị Đệ Nhất Phu Nhân của nước Việt Nam Cộng Hoà, bà đã thiết kế ra kiểu áo dài cách tân mới bỏ đi phần cổ áo gọi là áo dài cổ thuyền, cổ hở, cổkhoét, dân gian gọi là áo dài Trần Lệ Xuân hay áo dài bà Nhu Không chỉ lạ về mẫu áo, chiếc áo dài hở cổ còn được ‘phá cách’ với họa tiết trang trí trên áo: nhành trúc mọc ngược Một số nhà phê bình phương tây cho rằng nó hợp lý với thời tiết nhiệt đới của miền nam Việt Nam Nhưng kiểu áo này khiến những người theo cổ học tức giận và lên án nó không hợp với thuần phong mỹtục Loại áo dài không có cổ này vẫn phổ biến đến ngày nay và phần cổ được khoét sâu cho tròn chứ không ngắn như bản gốc

I.3- Sự hình thành:

I.3.1 M t bi u t ột biểu tượng của Việt Nam ểu tượng của Việt Nam ượng của Việt Nam ng c a Vi t Nam ủa Việt Nam ệt Nam

Trang 11

Áo dài nam, nữ truyền thống và khăn, trong đám cưới

Khác với kimono của Nhật Bản hay hanbok của Hàn Quốc, chiếc áo dài Việt Nam vừa truyềnthống lại cũng vừa hiện đại Trang phục dành cho nữ này không bị giới hạn chỉ mặc tại một số nơi hay dịp mà có thể mặc mọi nơi, dùng làm trang phục công sở, đồng phục đi học, mặc đi chơi hay mặc để tiếp khách một cách trang trọng ở nhà Việc mặc loại trang phục này không hề rườm

rà hay cầu kỳ, những thứ mặc kèm đơn giản: mặc với một quần lụa hay vải mềm, dưới chân đi hài, guốc, hay giày gì đều được; nếu cần trang trọng (như trang phục cô dâu) thì thêm áo choàng

và chiếc khăn đóng truyền thống đội đầu, hoặc một chiếc miện Tây phương tùy thích Đây chính

là điểm đặc biệt của thứ trang phục truyền thống này

Chiếc áo dài hình như có cách riêng để tôn đẹp mọi thân hình Phần trên ôm sát thân nhưng haivạt buông thật mềm mại trên đôi ống quần rộng Hai tà xẻ chí trên vòng eo khiến cho cử chỉ người mặc thật thoải mái, lại tạo dáng thướt tha, tôn vẻ nữ tính, vừa kín kẽ vì toàn thân được bao bọc bởi lụa mềm, lại cũng vừa khiêu gợi vì chiếc áo làm lộ ra sống eo

Chiếc áo dài vì vậy mang tính cá nhân hóa rất cao: mỗi chiếc chỉ may riêng cho một người, dành cho riêng người đó; không thể có một công nghệ "sản xuất đại trà" cho chiếc áo dài Người

đi may được lấy số đo thật kỹ Khi may xong phải qua một lần mặc thử để sửa nhỏ nữa mới hoànthiện

I.3.2 - Trong th ca và h i h a ơ ca và hội họa ột biểu tượng của Việt Nam ọa

Trang 12

Áo dài màu trắng Áo dài màu

Áo dài màu đỏ (thường là áo dài dùng trong lễ cưới, lễ ăn hỏi của người Việt)Hình ảnh phụ nữ/con gái Việt Nam với chiếc áo dài truyền thống đã được nhiều nhà nghệ sĩ ghi lại, nổi bật nhất là trong thơ và nhạc Bài thơ nổi tiếng về chiếc áo dài có thể kể là "Áo lụa Hà Đông" của Nguyên

Sa, bài này được phổ nhạc thành một bài hát nổi tiếng và là cảm hứng cho một bộ phim điện ảnh cùng tên, với những câu:

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát

Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông

"Ngày xưa Hoàng Thị" của thi sĩ Phạm Thiên Thư kể về chuyện tình thuở học sinh với cô gái

họ Hoàng, cô xuất hiện trong bài với những nét phác họa:

Ôm nghiêng tập vở, tóc dài, tà áo vờn bay

Áo dài cũng in đậm nét trong những vần thơ nghịch ngợm của Nguyễn Tất Nhiên:

Tháng giêng em bikili

Trang 13

Tỉnh lỵ còn nguyên nét Việt Nam

Đài các chân ngà ai bước khẽ

Nguyện theo tà lụa cả phương Đông (Tháng giêng, chim)

đưa em về dưới mưa/ áo dài sầu hai vạt/ khi chấm bùn lưa thưa (Em hiền như soeur)

Trong thơ Bùi Giáng, màu áo dài của ký ức được nâng lên thành huyền thoại:

Biển dâu sực tỉnh giang hà

Còn sơ nguyên mộng sau tà áo xanh (Áo xanh)

Và có lẽ trong những vần thơ rất dung dị sau đây của Huy Cận cũng có hình bóng của chiếc áo dài trắng nữ sinh:

Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong

Hôm xưa em đến mắt như lòng

Nở bừng ánh sáng em đi đến

Gót ngọc dồn hương bước tỏa hồng (Áo trắng).

Tranh Thiếu nữ bên hoa huệ của Tô Ngọc Vân

Bức tranh "Thiếu nữ bên hoa huệ" của họa sĩ Tô Ngọc Vân sáng tác năm 1943, là một trong những tác phẩm hội họa hiện đại Việt Nam đầu tiên và nổi tiếng bậc nhất, miêu tả một cô gái mặc áo dài trắng ngồi bên một bình hoa huệ tây(hoa loa kèn)

Trang 14

Chiếc áo dài cũng phảng phất hay xuất hiện nhiều trong các ca khúc Việt Nam Trong nhạc Trịnh Công Sơn có thể nhìn thấy khá nhiều Theo hồi ký, chính những bước chân hoàng cung của những nữ sinh áo tím Huế đã làm cho nhạc sĩ họ Trịnh viết nên bài "Diễm xưa" nổi tiếng Hay trong bài "Hạ trắng", hình ảnh áo dài cũng chập chờn:

Gọi nắng trên vai em gầy đường xa áo bay (Hạ trắng)

"Bé ca" của Phạm Duy viết cho con gái mới lớn, có bài "Tuổi ngọc" tả về niềm hân hoan của cô

bé khi bước chân vào trung học, lần đầu khoác lên mình "một chiếc áo như mây hồng":

Xin cho em một chiếc áo dài, cho em đi mua xuân tới rồi

Mặc vào đời rồi ra, mừng lạy chào mẹ cha

Hàng lụa là thơm dáng tuổi thơ

Phạm Duy cũng không quên nhắc về chiếc áo này trong một giấc mơ hòa bình từ thập niên 1940:

Nằm mơ, mơ thấy trăm họ tốt tươi, mơ thấy bên lề cuộc đời, áo dài đùa trong nắng cười (Quê nghèo)

Bài "Một thoáng quê hương" của Từ Huy nổi tiếng một thời với câu:

Tà áo em bay, bay, bay, bay trong gió nhẹ nhàng

Dù ở đâu, Paris, Luân Đôn hay ở những miền xa Thoáng thấy áo dài bay trên đường phố,

sẽ thấy tâm hồn quê hương ở đó em ơi

Nhạc sĩ Sỹ Luân cũng có bài "Áo dài ơi" vui tươi :

Có chiếc áo dài tung tăng trên đường phố

Những lúc buồn vui vu vơ nào đó

Ánh mắt hồn nhiên vô tư dễ thương á hà…

Áo dài vui áo dài hát bao nắng xuân đang về khắp nơi

Áo dài nói áo dài cười mang hạnh phúc đến cho mọi người

Áo dài vui vui áo dài hát hát bao nắng xuân đang về khắp nơi

Áo dài nói nói áo dài cười cười mang hạnh phúc đến cho mọi người

Nhạc sĩ Huỳnh Nhật Tân với bài "Cô gái Việt Nam":

Trang 15

Em, cô gái kiêu sa trong tà áo dài Việt Nam

Em, duyên dáng thơ ngây trong vườn nắng đẹp bình minh

Em chân bước mượt mà, em tay trắng ngọc ngà, đẹp lộng lẫy thướt tha.

Em như đóa hoa xinh trong tà áo dài Việt Nam

Em yêu quý quê hương, yêu tà áo dài Việt Nam

Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng với ca khúc "Một đời áo mẹ áo em" kể lại lịch sử và sự gắn kết nhiều thế hệ của chiếc áo dài

Nhạc sĩ Jo Marcel và ca khúc "Áo dài Việt Nam":

Người Việt Nam trong chiếc áo dài

Người Việt Nam tha thướt bước về

Vẻ đẹp Việt Nam ngàn đời không phai

Cùng tha thướt bước trên đường của xứ khách

Cùng nắm tay nhau chia xẻ buồn vui

Cùng tiếp tay nhau duy trì nét đẹp

Vẻ đẹp của người Việt Nam

Gần đây, nhạc sĩ Nguyễn Đức Cường với ca khúc "Em trong mắt tôi":

Em đẹp không cần son phấn… xinh thật xinh… thật xinh rất hiền

Không quần jeans… giầy cao gót… em chọn riêng mình em áo dài… duyên dáng Giống như hoa kia bên thềm… ngát hương không khoe sắc màu… ngàn đóa hoa đang rực rỡ không sánh bằng

Nhẹ nhàng tung bay tà áo dài Em phụ nữ Việt…

Ánh lên bao rạng ngời người Phương Đông…

Các nhạc sĩ tiền chiến cũng hay ca ngợi áo dài như bài "Tà áo xanh" của Đoàn Chuẩn - Từ Linh

Và cảm xúc về chiếc áo dài cũng làm nên những câu hát nổi tiếng của Hoàng Trọng:

Ngàn thu mưa rơi trên áo em màu tím

Ngàn thu đau thương vương áo em màu tím

Trang 16

Nhuộm tím những chuỗi ngày vắng nhau

Tháng năm càng lướt mau

Biết bao giờ trông thấy nhau (Ngàn thu áo tím)

I.4 – Các kiểu Áo dài:

1 Áo dài nữ giới:

Thuở xưa phụ nữ Việt Nam từ Bắc xuống Nam đều mặc váy Đến ngày nay chiếc váy đó chỉcòn rải rác ở một số vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Thanh Nghệ Chiếc áo dài đã trở thànhbiểu tượng của phụ nữ Việt Nam

Như lịch sử còn ghi lại cuộc chiến Trịnh - Nguyễn phân tranh kéo dài gần 200 năm Ở miền Bắc vua Lê chúa Trịnh trị vì, ở Miền Nam các chúa Nguyễn miệng nói thuần phục nhà Lê song thực chất họ đã lấy Phú Xuân làm thủ phủ của đằng trong để củng cố địa vị cho sự nghiệp: “ Vạnđại dung thân” Năm 1744 trong dân gian miền Nam bỗng lưu truyền một câu sấm “ Bát đại thời hoàn trung đô” (tức là ở lại kinh đô Thăng Long ngay) Câu sấm này làm cho chúa Nguyễn Phúc Khoát giật mình Triều thần của Nguyễn Phúc Khoát đã họp bàn để tìm ra hướng giải quyết “ hoàn” Trung Đô Một thời gian sau các đại quan đã trình bày với chúa Nguyễn rằng “ Muốn thực

sự có một vương quốc mới để đổi mạng trời thì phải thay đổi lễ nhac, thay đổi văn hoá” Văn hoá

đó là trang phục. Năm 1819, cách ăn mặc của người dân vẫn giống như giáo sĩ Borri đã thấy ở

Thuận Quảng từ hơn hai thế kỷ trước đó với quần lụa đen và áo may sát người dài đến mắt cá chân

Riêng ở miền Bắc khoảng năm 1910 - 1920, phụ nữ thích may thêm một cái khuyết phụ độ

3cm bên phải cổ áo, và cài khuy cổ lệch ra đấy Cổ áo như thế sẽ hở ra cho quyến rũ hơn và cũng

để diện chuỗi hột trang sức nhiều vòng

Phần nhiều áo dài ngày xưa đều may kép, tức là may có lớp lót Lớp áo trong cùng thấm mồ hôi, vì thế được may đơn bằng vải mầu trắng để không sợ bị thôi mầu, dễ giặt Một áo kép mặc kèm với một áo lót đơn ở trong đã thành một bộ áo mớ ba Quần may rộng vừa phải, với đũng thấp Thuở đó, phần đông phụ nữ từ Nam ra Bắc đều mặc quần đen với áo dài, trong khi phụ nữ Huế lại chuộng quần trắng Đặc biệt là giới thượng lưu ở Huế hay mặc loại quần chít ba, nghĩa làdọc hai bên mép ngoài quần được may với ba lần gấp, để khi đi lại quần sẽ xòe rộng thêm

Và kể từ đó phân biệt với phụ nữ hai miền thì phụ nữ miền Bắc mặc váy phụ nữ miền Nammặc quần có đáy ( hai ống) như đàn ông Với con mắt phong kiến, võ vương thấy phụ nữ mặcquần hai ống trông khêu gơi quá nên ông bèn cho triều thần nghiên cứu tham khảo áo dài củangười Chăm (Giống áo ài Việt Nam ngày nay nhưng không xẻ nách) và chiếc áo dài thượngHải ( xẻ đến đầu gối) để từ đó chế ra áo dài Việt Nam Vì thế có thể coi chiếc áo dài của ngườiphụ nữ đầu tiên giống như chiếc áo dài của ngừời Chàm nhưng có xẻ nách Chiếc áo dài ngàynay hội tụ cả hai yếu tố của phương Bắc và phương Nam tạo nên sự cân đối hài hoà

Trang 17

Cho đến đầu thế kỷ XX, phần đông áo dài phụ nữ thành thị đều may theo thể năm thânhay năm tà Mỗi thân áo trước và sau đều có hai tà, khâu lại với nhau dọc theo sống áo Thêmvào đó là tà thứ năm ở bên phải, trong thân trước Tay áo may nối phía dưới khuỷu tay Sở dĩ áophải nối thân và tay như thế là vì các loại vải tốt như lụa, sa, gấm, đoạn ngày xưa chỉ dệt đượcrộng nhất là 40 cm Cổ, tay và thân trên áo thường ôm sát người, rồi tà áo may rộng ra từ sườnđến gấu và không chiết eo Gấu áo may võng, vạt rất rộng, trung bình là 80 cm ở gấu, cổ áo chỉcao khoảng 2-3 cm

Trong thập niên từ 1930 đến 1940, cách may áo dài vẫn không thay đổi nhiều, nhưng phụ nữ thành thị bắt đầu dùng các loại vải màu tươi, sáng hơn, được nhập khẩu từ châu Âu Thời kỳ này,gấu áo dài thường được may trên mắt cá chân khoảng 20cm Từ đây và tiếp tục cho đến gần cuốithế kỷ XX thiếu nữ khắp nơi mặc quần trắng với áo dài Quần đen dành cho những phụ nữ đã lậpgia đình Một vài nhà tạo mẫu áo dài đã bắt đầu xuất hiện, nhưng họ mới chỉ bỏ đi phần nối giữa sống áo vì vải của phương Tây dệt có khổ rộng hơn vải ta Tay áo vẫn may nối Thời đó, Hà Nội

đã có các nhà may nổi tiếng như Cát Tường ở phố Hàng Da và một số ở khu vực Hàng Trống, Hàng Bông Năm 1939, nhà tạo mẫu Cát Tường đã tung ra một kiểu áo mới có tên gọi là Le Mur mang mẫu dáng rất Âu hoá, áo Le Mur vẫn giữ nguyên phần áo dài may, không nối sống bên dưới, nhưng cổ áo khoét hình trái tim; có khi áo được gắn thêm cổ bẻ và một cái nơ ở trước cổ; vai áo may bồng, tay nối ở vai; khuy áo may dọc trên vai và sườn bên phải Vậy là áo Le Mur được xem là táo bạo và chỉ có giới nghệ sỹ hay ăn chơi “thời thượng” lúc đó mới dám mặc Nhưng chỉ đến khoảng năm 1943 thì loại áo này đã bị lãng quên.Đến khoảng những năm

1950, sườn áo dài bắt đầu được may chiết eo Các nhà may lúc đó đã cắt áo lượn theo thân người Thân áo sau rộng hơn thân trước, đặc biệt là phần mông để áo ôm theo thân dáng mà không cần chiết eo; vạt áo cắt hẹp hơn, cổ áo cao lên trong khi gấu được hạ thấp xuống Ngày nay, Việt Nam đã có một lực lượng đông đảo các nhà tạo mẫu áo dài, với đủ các loại chất liệu vải, họ vẫn luôn nghiên cứu, tìm tòi sáng tạo đưa ra những mẫu mốt mới Chất liệu mới cho áo Dài được kết hợp từ những tấm vải mẫu, thường được trang trí bằng những đường nét thủ công hoặc thêu thùa Song, cũng chỉ dừng lại ở việc thay đổi chất vải và hoa văn trên áo dài còn về kiểu dáng vẫn phải giữ theo “công thức” cũ, nghĩa là không khác gì nhiều với cái áo dài của pho tượng Ngọc Nữ thế kỷ XVII

2 Áo dài nam giới:

Có lẽ sẽ thật là thiếu sót nếu không đề cập tới trang phục áo dài dành cho nam giới Theonhà nghiên cứu Trần Thị Lai Hồng thì áo ngũ thân đi đôi với quần hai ống và khăn đội đầu cũng

là một trang phục truyền thống của phái nam Tuy nhiên theo sắc dụ ban hành từ thời chúaNguyễn Vũ Vương thì sự quy định trang phục cho nam giới ít gò bó và thông thoáng hơn

"Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay, cửa ống tay hoặc rộng hoặc hẹp tùytiện Áo thì hai bên nách trở xuống phải khâu kín liền không cho xẻ mớ Duy đàn ông khôngmuốn mặc áo cổ tròn và hẹp tay cho tiện làm việc thì cũng được" (trích sắc dụ này) Từ thập niên

Ngày đăng: 21/07/2014, 16:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w