Tất cả gồm 8 chữ, nếu làm trọn vẹn được một chữ thì đủ đạt Thần vị, như những bề tôi trung với vua, liều thân với nước, được vua phong Thần, đưa về các làng xã làm Thần Hoàng, ủng hộ d[r]
Trang 1NGŨ HÀNH VÀ NGŨ ÂM TRONG ÂM NHẠC TRUNG HOA
Sưu tầm : Lê Thanh Bằng : 01237675556 - 01688037118 - 01262032388
:
Ngũ âm của âm nhạc cổ truyền Trung Quốc dựa trên thuyết Ngũ Hành (Ảnh của Đài truyền hình Tân Đường Nhân)
Âm nhạc Trung Hoa là dựa trên hệ thống âm nhạc cổ truyền dân tộc bao gồm 5 loại âm điệu, 5 nốt nhạc chính gọi là ngũ âm Năm âm thanh này được sắp xếp thành: Cung,
Thương, Giốc, Chuỷ, và Vũ
Theo nguyên lý ngũ hành liên hệ đến âm nhạc cổ truyền Trung Hoa, các âm giai đều gắn liền với một hệ thống khái niệm về vũ trụ cũng như các hoạt động bên trong thân thể người
Người Trung Hoa không xem sự việc con người có ngũ tạng là tim, gan, phổi, thận, tỳ và ngũ quan là miệng, tai, mũi, mắt, và lưỡi cũng như 5 ngón tay trên mỗi bàn tay như chuyện ngẫu nhiên
Theo truyền thống Trung Hoa, bất cứ âm giai nào trong ngũ âm đều có thể ảnh hưởng đến những nội tạng bên trong của con người và có thể hoạt động như là một cơ cấu điều hòa
Âm nhạc có thể tăng cường sự điều tiết, khai mở ý tưởng, và điều hòa nhịp tim Bởi vì người ta có những chỗ khác nhau, nội tạng của người này cũng khác người kia, nên âm nhạc cũng ảnh hưởng đến họ theo những cách khác nhau
Theo 5 âm giai căn bản, người ta có thể tìm ra những ảnh hưởng khác nhau trong thân thể người Lấy ví dụ, âm giai của dây Cung được sắp hạng thuộc loại cao thượng, có liên hệ với Thổ, và ảnh hưởng đến bộ phận tỳ Những người thường xuyên nghe loại nhạc như vậy thì sẽ trở nên tốt bụng và khoan dung Dưới đây là bảng sắp hạng ngũ âm tương ứng với ngũ hành, phương hướng, tình cảm, các mùa, và các vì tinh tú:
Trang 2Ngũ hành Kim Mộc Thuỷ Hỏa Thổ
Phương hướng Tây Đông Bắc Nam Trung tâm
Các mùa Thu Xuân Đông Hạ Lúc giao tiếp các mùa
Tinh Tú Venus Jupiter Mercury Mars Saturn
Tình cảm U buồn Giận dữ Sợ hãi Vui mừng Lo lắng
Âm điệu của dây Thương là nặng nề, giống kim khí, không bị bẻ cong Loại âm nhạc này ảnh hưởng đến phổi; nếu nghe thường xuyên thì người ta sẽ trở nên chính trực và thân thiện
Âm nhạc lấy căn bản là dây Giốc thì chào mừng mùa Xuân tới và đánh thức mọi đời sống trỗi dậy sảng khoái Loại âm nhạc này ảnh hưởng tới gan Nghe nó thì người ta sẽ trở nên lương thiện và hòa giải
Âm nhạc với dây Chủy làm chủ là rất sôi nổi về tình cảm, giống như Hỏa Nó ảnh hưởng đến tim, khiến cho người nghe nó trở nên rộng lượng
Âm điệu lấy dây Vũ làm chủ là u sầu, giống như nước chảy êm đềm Nó ảnh hưởng đến thận Lắng nghe những âm điệu này làm cho người ta cảm thấy đầu óc quân bình và nhẹ nhàng, “buồn nhưng không đau khổ”, “vừa ý nhưng không quá mức”, giống như cách nói của cổ nhân Trung Hoa Đây là những gì mà văn hóa âm nhạc Trung Hoa đang cố gắng biểu hiện
Cho dù là bất cứ loại tình cảm nào được âm nhạc diễn tả, nếu đi đến cực độ, nó có thể làm hại đến thân thể và cản trở dòng lưu thông năng lượng của khí
TAM CƯƠNG NGŨ THƯỜNG TRONG QUAN NIỆM CỦA KHỔNG TỬ
A
I TAM CƯƠNG: Ba giềng mối
Người nam phái, khi đã trưởng thành thì phải giữ 3 điều đạo trọng là: - Quân thần cương, - Phụ tử cương, - Phu thê cương
1 Quân thần cương: Giềng mối vua tôi
Phải trung với vua Vua ở đây tượng trưng cho quốc gia dân tộc Phải trung với quốc gia dân tộc, chớ không phải trung thành mù quáng theo một ông vua hay dòng họ nhà vua
Trong một dòng họ nhà vua, thí dụ như: nhà Lý, nhà Trần, nhà Lê, nhà Nguyễn, chỉ có một số ít ông vua là minh chánh, còn phần lớn là hôn quân vô đạo Nếu trung thành với hôn quân thì đó là ngu trung
Mạnh Tử từ ngàn xưa đã dạy rằng: Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh Nghĩa là: Dân
là quí, nước nhà là kế đó, vua là nhẹ Cho nên cần phải trung thành với quốc gia dân tộc
Trang 3hơn là trung thành với một ông vua Lại cũng có câu: Quân minh thần trung Nghĩa là: Vua sáng thì tôi trung; tức nhiên khi gặp vua hôn ám thì bề tôi chỉ giữ lòng trung với quốc gia dân tộc mà thôi
2 Phụ tử cương: Giềng mối cha con
Phải hiếu với cha mẹ Phải biết nhớ công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ mà lo đền đáp Thuở nhỏ phải nghe lời dạy bảo của cha mẹ, khi lớn lên, cha mẹ đã già yếu thì phải lo bảo dưỡng cha mẹ
Ông Thánh Tăng Tử có nói rằng: "Hiếu giả bách hạnh chi tiên, hiếu chí ư Thiên tắc phong
vũ thuận thời, hiếu chí ư địa tắc vạn vật hóa thành, hiếu chí ư nhân tắc chúng phúc hàm trăn." Nghĩa là: Hiếu là nết đứng đầu trăm hạnh, hiếu cảm đến Trời thì gió mưa hòa thuận, hiếu cảm đến đất thì muôn vật tốt tươi, hiếu cảm đến người thì phúc lộc thịnh vượng
Phần cha mẹ thì phải hết lòng thương yêu, chăm sóc dạy dỗ con cái cho nên người và làm gương tốt cho con
3 Phu thê cương: Giềng mối chồng vợ
Đạo vợ chồng trọng yếu nhứt phải là thuận hòa trong tình thương yêu chân thật, dù gặp hoàn cảnh khó khăn cũng phải giữ gìn trọn vẹn như vậy Vợ chồng sống với nhau, ngoài tình thương yêu, còn phải giữ nghĩa với nhau
II NGŨ THƯỜNG: Năm hằng
Ngũ thường gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín
1 Nhân: Lòng thương người mến vật
Con người thường có hai tình cảm đối ngược nhau: Hễ thương thì không ghét, mà ghét thì không thương Như thế, muốn có lòng Nhân thì phải mở rộng lòng thương yêu để cái ghét không có chỗ chen vào
Lòng Nhân là căn bản của đạo làm người, là đầu hết các hành tàng Giữ luôn được lòng Nhơn thì lúc nào ta cũng được an vui, hạnh phúc
2 Nghĩa: Cư xử theo lẽ phải (đạo lý)
Trong cách xử thế, cái Nghĩa là quan trọng nhứt, nó dẫn dắt con người đến đạo đức Nghĩa phải đi liền với Nhân, có Nhân mà không có Nghĩa thì đạo đức thiếu hình thức, còn có Nghĩa mà thiếu Nhân thì đạo đức thiếu tinh thần
3 Lễ: Phép tắc tốt đẹp trong xử thế
Trang 4Lễ là mực thước để đo lường tư tưởng, hành động trong khi xử thế Nó thể hiện sự tôn nghiêm trật tự và hòa hợp trong ý nghĩ và việc làm
Đức Lão Tử có nói: Nếu thất Đạo thì nên theo Đức, nếu thất Đức thì nên theo Nhơn, nếu thất Nhơn thì nên theo Nghĩa, nếu thất Nghĩa thì nên theo Lễ Vậy muốn trở về với Nghĩa thì phải học Lễ trước hết
4 Trí: Năng lực hiểu biết
Nhờ có Trí mới phân biệt được sáng tối, phải quấy, thiện ác Mục đích của Trí là tìm hiểu chơn lý, tức là Đạo, nên cần phải lo học tập để mở mang cái Trí Khi cái Trí hiểu biết rõ ràng thì hành động mới tránh được sai lầm
5 Tín: Tin tưởng
Lời nói phải đi đôi với việc làm Phải giữ chữ Tín và phải quí trọng lời mình nói ra Nhứt ngôn ký xuất, tứ mã nan truy, nghĩa là: một lời nói ra, xe tứ mã khó đuổi theo kịp
Chữ Tín rất quan trọng, nó thể hiện phẩm chất đạo đức của con người mình Nhơn vô tín bất lập, nghĩa là: người mà không có chữ Tín thì không làm nên được việc gì
Tóm lại, phần Nhơn đạo của nam phái gồm hai phần trọng yếu là: Tam cang (Trung, Hiếu, Nghĩa) và Ngũ thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín) Tất cả gồm 8 chữ, nếu làm trọn vẹn được một chữ thì đủ đạt Thần vị, như những bề tôi trung với vua, liều thân với nước, được vua phong Thần, đưa về các làng xã làm Thần Hoàng, ủng hộ dân chúng và được hưởng cúng tế; nếu làm trọn vẹn được hai chữ thì được phong Thánh, như trường hợp Quan Vân Trường thời Tam Quốc được trọn vẹn hai chữ Trung và Nghĩa, nên hiển Thánh
Người sáng lập ra Đạo gia là Lão Tử (khoảng thế kỷ VI tr CN) Học thuyết của ông được Dương Chu và Trang Chu thời Chiến quốc hoàn thiện và phát triển theo hai hướng ít nhiều khác nhau Những tư tưởng triết học của Đạo gia được khảo cứu chủ yếu qua Đạo đức kinh và Nam hoa kinh
Tư tưởng cốt lõi của Đạo gia là học thuyết về "Đạo" với những tư tưởng biện chứng, cùng với học thuyết "Vô vi" về lĩnh vực chính trị - xã hội
Về bản thể luận, tư tưởng về Đạo là nội dung cốt lõi trong bản thể luận của Đạo gia Phạm trù Đạo bao gồm những nội dung cơ bản sau:
- "Đạo" là bản nguyên của vạn vật Tất cả từ Đạo mà sinh ra và trở về với cội nguồn của Đạo
- "Đạo" là cái vô hình, hiện hữu là cái "có"; song Đạo và hiện hữu không thể tách rời nhau Trái lại, Đạo là cái bản chất, hiện hữu là cái biểu hiện của Đạo Bởi vậy, có thể nói: Đạo là nguyên lý thống nhất của mọi tồn tại
- "Đạo" là nguyên lý vận hành của mọi hiện hữu Nguyên lý ấy là "đạo pháp tự nhiên"
Chính trong quan niệm về "Đạo" đã thể hiện một trình độ tư duy khái quát cao về những vấn đề bản nguyên thế giới, nhìn nhận thế giới trong tính chỉnh thể thống nhất
Trang 5của nó.
Quan niệm về tính biện chứng của thế giới không tách rời những quan niệm về
"Đạo", trong đó bao hàm những tư tưởng chủ yếu sau:
Mọi hiện hữu đều biến dịch theo nguyên tắc "bình quân" và "phản phục" (cân bằng
và quay trở lại cái ban đầu)
- Các mặt đối lập trong thể thống nhất, quy định lẫn nhau, là điều kiện tồn tại của nhau, trong cái này đã có cái kia
Do nhấn mạnh nguyên tắc "bình quân" và "phản phục" trong biến dịch nên Đạo gia không nhấn mạnh tư tưởng đấu tranh với tư cách là phương thức giải quyết mâu thuẫn nhằm thực hiện sự phát triển; trái lại, đã đề cao tư tưởng điều hòa mâu thuẫn, coi đó là trạng thái lý tưởng Bởi vậy triết học Đạo gia không bao hàm tư tưởng về
sự phát triển
Học thuyết chính trị - xã hội với cốt lõi là luận điểm "Vô vi" Vô vi không phải là cái thụ động, bất động hay không hành động mà có nghĩa là hành động theo bản tính tự nhiên của "Đạo"
B
Tam cương: tam là ba, cương là giềng mối Tam cương là ba mối quan hệ: quân thần (vua tôi), phụ tử (cha con), phu phụ (vợ chồng)
1.Quân thần: ("Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung" nghĩa là: dù vua có bảo cấp dưới chết đi nữa thì cấp dưới cũng phải tuân lệnh, nếu cấp dưới không tuân lệnh thì cấp dưới không trung với vua)Trong quan hệ vua tôi, vua thưởng phạt luôn luôn công minh, tôi trung thành một dạ
2.Phụ tử: ("phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu nghĩa là: cha khiến con chết, con không chết thì con không có hiếu)")
3.Phu phụ: ("phu xướng phụ tùy" nghĩa là: chồng nói ra, vợ phải theo)
*Ngũ thường: ngũ là năm, thường là hằng có Ngũ thường là năm điều phải hằng có trong khi ở đời, gồm: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín
1.Nhân: Lòng yêu thương đối với muôn loài vạn vật
2.Nghĩa: Cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải
3.Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người
4.Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai
5.Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy
Đạo giáo: Giáo lí về Đạo, là một nhánh triết học và tôn giáo Trung Quốc, được xem là tôn giáo đặc hữu chính thống của xứ này Nguồn gốc lịch sử được xác nhận của Đạo giáo được xem nằm ở thế kỉ thứ 4 trước CN, khi tác phẩm Đạo Đức kinh của Lão Tử xuất hiện Các tên gọi khác là Đạo Lão, Đạo Hoàng Lão, hay Đạo gia
Người ta không biết rõ Đạo giáo khởi phát lúc nào, chỉ thấy được là tôn giáo này hình thành qua một quá trình dài, thâu nhập nhiều trào lưu thượng cổ khác Đạo giáo thâu nhiếp nhiều tư tưởng đã phổ biến từ thời nhà Chu (1040-256 trước CN) Thuộc về những tư tưởng này là vũ trụ luận về thiên địa, ngũ hành, thuyết về năng lượng, chân khí, thuyết âm dương và Kinh Dịch Nhưng, ngoài chúng ra, những truyền thống tu luyện thân tâm như điều hoà hơi thở, Thái cực quyền, Khí công, Thiền định, thiết tưởng linh ảnh, thuật luyện
Trang 6kim và những huyền thuật cũng được hấp thụ với mục đích đạt trường sinh bất tử Việc tu luyện đạt trường sinh có bắt nguồn có lẽ từ những khái niệm rất cổ xưa, bởi vì trong Trang
Tử Nam Hoa chân kinh, một tác phẩm trứ danh của Đạo giáo thế kỉ thứ 4 trước CN thì các
vị tiên trường sinh bất tử đã được nhắc đến, và đại diện tiêu biểu cho họ chính là Hoàng Đế
và Tây Vương Mẫu, những hình tượng đã có trong thời nhà Thương, thiên niên kỉ 2 trước CN