- Giáo viên nên đặt tiếng trong từ hay trong một ngữ để học sinh hiểu rõ nghĩa của từ. Ngoài ra còn nhiều cách để giúp học sinh hiểu nghĩa của từ mà không viết sai lỗi chính tả như : c[r]
Trang 1I – Lý do chọn đề tài :
1 Đặt vấn đề :
Trong năm học 2011 – 2012 tôi được sự phân công của Ban giám hiệu trường phụ trách lớp Bốn 3 Qua thực tế ở đầu năm học, khi lớp đã trải qua 3 tiết chính tả, tôi nhận thấy lớp còn viết sai chính tả quá nhiều, đây là điều làm cho bản thân tôi phải lo lắng Môn Chính tả là một trong những phần khá quan trọng của môn Tiếng Việt, nó đỏi hỏi học sinh phải biết nghe và viết đúng, vì nghĩa của Tiếng Việt rất phong phú, nếu nghe sai viết sai thì nghĩa của từ cũng sai Vì lí do đó, tôi đi sâu vào nghiên
cứu đề tài “ Một số biện pháp để nâng cao chất lượng phân môn Chính
tả cho học sinh lớp Bốn ”
2 Mục đích đề tài:
Để giúp học sinh viết đúng chữ Việt và đạt yêu cầu cơ bản về viết chính tả đồng thời có khả năng viết tốt các bài chính tả ở những tiết học trên lớp với niềm tin vững chắc không nghi ngờ khi đặt bút viết Viết đúng chính tả không những giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt mà còn giúp học sinh học tốt các môn khác
3 Lịch sử đề tài:
Đề tài này, tôi bắt đầu thực hiện trong năm học 2011 – 2012, cộng với sự đầu tư nghiên cứu trong giảng dạy qua nhiều năm liền ở khối Bốn, nhất là khi tôi gặp nhiều đối tượng học sinh học trung bình, yếu kém về môn này
4 Phạm vi đề tài :
Đề tài tôi viết được thực hiện cho đối tượng học sinh lớp Bốn nhất
là học sinh yếu kém về môn Chính tả
Trang 2II – Nội dung công việc đã làm : 1.Thực trạng đề tài:
Đầu năm học 2011 – 2012, khi tôi cho học sinh viết chính tả ở tháng đầu với 4 tiết kết quả như sau:
G : 6
KH : 6
TB : 15
Đa số học sinh thường viết sai các lỗi :
- Phụ âm đầu :
+ s/x : lao sao, xử dụng…
+ tr/ch : chở lại, cây che….
+ ngh, ng : nge nói, ngĩ ngợi…
+ qu/v : va đi, vê hương
+ r/v/d/gi : đi da đi dào, giao động
- Vần :
+ ai/ay/ây : lỗ tay, bàn tai, cáy câi
+ iu/êu/iêu : cái lìu, tiếng kiêu, chiều chuộng
+ im/iêm/êm/em : tiềm kiếm, con chiêm
+ ip/iêp/êp/ep : chưa kiệp, thệp xuân….
+ um/uôm : nhụm áo
+ ưu/ươu : chai rựu, con khứu
+ ao/au/âu : vì sau, chiếc tào,
+ oi/ôi : ngồi bút, ngòi xuống,
+ ăp/âp : sấp tới, gà ắp
+ ui/uôi : lỗ muỗi, con mũi
+ ưi/ươi : trái bửi
- Âm cuối :
+ an/ang : cây bàn, sang sát….
+ at/ác : hạt các, tát dụng….
+ ăt/ăc : đôi mắc, giặc áo…
+ ân/âng : nhà cao tần, ngâng nga……
+ ươn/ương : con rắn trường qua, vương lên…
+ âc/ât : tấc cả, tất đất….
+ uôn/uông : uống lượn, uốn nước….
+ iêt/iêc : thời tiếc, công việt………
+ ên/ênh : mũi tênh, lên đên…….
+ uc/ut : chút mừng, một chúc…
Trang 3+ êt/êch : trắng bệt….
+ uôc/uôt : con chuộc,bao thuốt…….
- Âm đệm :
+ oan : đòn người …
+ uê : hoa hệ …
- Dấu thanh :
+ dấu hỏi, dấu ngã : vẻ tranh, vẽ mặt….
Qua nhận xét các bài viết, tôi nhận thấy học sinh sai các lỗi nêu trên với nhiều lí do :
* Không nắm cách phát âm chuẩn
* Không nắm nghĩa của từ
* Do thói quen
2 Nội dung giải quyết :
Từ những nguyên nhân trên, tôi cần giải quyết các nội dung sau :
- Giúp học sinh phân biệt cách phát âm
- Nắm rõ nghĩa của từ
3 Biện pháp giải quyết :
a) Rèn học sinh có thói quen phát âm chuẩn :
Muốn học sinh viết đúng chính tả, giáo viên chú ý luyện học sinh phát âm đúng để phân biệt các dấu thanh hỏi, thanh ngã, các âm đầu, vần,
âm cuối, âm đệm vì chữ quốc ngữ là chữ ghi âm, âm phát thế nào là chữ ghi lại như thế đó
Vậy việc rèn cho học sinh phát âm đúng không chỉ thực hiện trong môn Tập đọc không mà còn thực hiện ở tất cả các môn học Giáo viên chủ nhiệm chú ý thực hiện thường xuyên, liên tục khi phát hiện học sinh phát âm sai Vì vậy giáo viên cần phát âm đúng, rõ ràng để giúp học sinh viết đúng chính tả
b) Giúp học sinh phân biệt cách phát âm :
Thí dụ: * Khi phát âm các âm:
r : run lưỡi, đầu lưỡi đưa lên.
gi : hai hàm răng cắn chặt, đầu lưỡi chạm vào vị trí giữa hai hàm
răng
qu : mở miệng và luồng hơi đi ra tự nhiên.
v : trước khi phát âm hai môi khép chặt, khi phát âm hai môi mở ra
và luồng hơi bật ra Âm qu và v, đây là hai âm học sinh dễ lẫn lộn Thí dụ : quà -và nhưng có chú ý nhìn cô phát âm thì học sinh dễ nhận ra chữ viết đúng
Ngoài ra những âm cuối t/c
Thí dụ : at, khi phát âm nhấn mạnh, kéo dài
Trang 4ac, khi phát nhẹ giọng, không kéo dài.
Tương tự : en/eng; uc/ut……
* Khi phát âm dấu hỏi, dấu ngã cũng tương tự :
Thí dụ :
- sạch sẽ : sẽ nhấn giọng, kéo dài
- chia sẻ : sẻ nhẹ giọng, không kéo dài
c) Giúp học sinh phân tích, so sánh :
Những tiếng khó viết đúng, giáo viên nên dùng biện pháp so sánh, phân tích cấu tạo tiếng, để học sinh ghi nhớ cách viết Thí dụ :
Bàn = B + an + thanh huyền
Bàng = B + ang + thanh huyền
Giáo viên gợi ý để học sinh thấy chỗ khác nhau của hai tiếng đó là vần : an/ang và khác nhau cách phát âm Từ đó học sinh ghi nhớ, khi viết các em sẽ không viết sai
d) Giúp học sinh phân biệt nghĩa của từ :
- Giáo viên nên đặt tiếng trong từ hay trong một ngữ để học sinh hiểu rõ nghĩa của từ Thí dụ :
Tiếng “san” viết “san sát”
Tiếng “sang” viết “sang sông”
- Hoặc giải thích nghĩa của từ bằng hình tượng của sự vật Thí
dụ :
Từ “tấm thảm” là đồ vật phủ lên mặt bàn, nên chữ “tấm” ở đây là dấu ^
Từ “đi tắm” ta liên tưởng đến nước đựng vào xô, thau cho nên chữ
“tắm” viết bằng dấu
Ngoài ra còn nhiều cách để giúp học sinh hiểu nghĩa của từ mà không viết sai lỗi chính tả như : cho học sinh đọc chú giải, đặt câu, tìm từ trái nghĩa, đồng nghĩa……qua các môn học Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn……
đ) Ngoài ra giúp học sinh nhớ cách viết đúng chính tả theo luật trầm – bổng trong từ láy :
Trong hệ thống thanh điệu tiếng Việt được phân chia thành hai nhóm :
- Nhóm thanh bổng gồm : ngang, sắc, hỏi
- Nhóm thanh trầm gồm : huyền, ngã, nặng.
Trong từ láy thanh, các âm tiết phải mang thanh điệu cùng nhóm, hoặc lặp lại nhau, hoặc hài hòa, thanh bổng đi với thanh bổng, thanh trầm
đi với thanh trầm Khi viết chính tả ta có thể dựa vào đặc điểm trên để ghi đúng dấu thanh ở các chữ âm tiết trong từ láy Thí dụ :
Trang 5* Nhóm thanh bổng :
+ Ngang - hỏi : vui vẻ, lẻ loi……
+ Sắc - hỏi : trắng trẻo, vắng vẻ…
+ Hỏi - hỏi : thỏ thẻ, rủ rỉ……
* Nhóm thanh trầm :
+ Huyền - ngã : vồn vã, sẵn sàng….
+ Nặng – ngã : lạnh lẽo, đẹp đẽ……
+ Ngã – ngã : nhõng nhẽo, dễ dãi……
e) Giúp học sinh nắm vững qui tắc viết các âm :
- k/c :
+ Âm k đi với âm i, e, ê Thí dụ : kia, kèn, kể…
+ Âm c: đi với những nguyên âm còn lại Thí dụ : cá, có, cô, cứng, cũng…
- Ngh/ng : Tương tự như trên : i, e, ê thì viết phụ âm đầu ngh.
Ngoài các âm kể trên như a, o, ô, ơ…thì âm đầu viết là ng
- g/gh : Cách viết tương tự như âm ngh/ng Thí dụ : ghi, ghế, ghe…
gà gô……
Khi dạy 1 tiết chính tả, tôi chú ý các bước như sau :
1.Ở nhà :
Tôi yêu cầu học sinh luyện viết nhiều lần 1 bài vào vở ở nhà (tối thiểu 3 lần) Em nào viết lần 1 có từ sai thì viết lại từ đó cho đúng (1 từ viết 1 dòng) dưới bài viết lần 1 Tương tự như vậy đến khi nào bài luyện viết của mình không còn lỗi chính tả thì thôi
2.Ở lớp :
- Phần kiểm tra bài cũ :
Tôi thường kiểm tra những từ học sinh viết sai nhiều ở tiết trước Hình thức kiểm tra là bảng con, bảng lớp ( ưu tiên những em yếu, kém viết ở bảng lớp )
- Phần bài mới :
Khâu quan trọng của tôi là luyện từ khó Tôi để học sinh tự nêu những từ khó đã viết sai khi luyện viết ở nhà Tôi ghi lại trên bảng lớp, gọi học sinh phân tích, phát âm Sau đó, tôi hướng dẫn cách phát âm lại ( nếu học sinh phát âm sai ) và phân biệt nghĩa của từ cho học sinh nắm, tiếp đó tôi cho học sinh tìm từ tương tự để xem học sinh đã hiểu chưa Tôi có thể bổ sung những từ khó mà học sinh chưa phát hiện ra
Sau đó, tôi cho học sinh viết lại các từ khó vào bảng con Rồi kiểm tra lại để xem học sinh còn viết sai không ( nếu còn, tôi viết lại từ đó lên bảng lớp, dùng hình thức phân tích so sánh cấu tạo từ và cho biết nghĩa của từ để học sinh nhận ra cách viết đúng từ đó.)
Trang 6Bước cuối cùng là tôi thống kê số lỗi sai của học sinh khi luyện viết ở nhà Tôi tìm hiểu nguyên vì sao viết sai? Do không hiểu nghĩa của
từ Thí dụ : trông - trong… hay do phát âm sai như : khác - khát hoặc do thói quen khi viết như : cây mà viết câi Căn cứ vào những lỗi sai của học sinh mà tôi có cách giải quyết Như những lỗi trên thì tôi cho học sinh hiểu nghĩa, phát âm lại và khẳng định với học sinh vần ây luôn luôn viết là y
Khi đọc để học sinh viết, giáo viên phải đọc chuẩn, đọc câu cho học sinh nghe 1 lần rồi đọc cụm từ cho học sinh viết Còn học sinh phải theo dõi nghe, nhìn giáo viên phát âm để viết đúng Viết xong 1 cụm từ
1 học sinh đọc lại để giáo viên nắm được tốc độ viết của học sinh mà đọc tiếp
Khi chấm bài, tôi cố gắng chấm hết cả lớp để nắm được kết quả bài viết của học sinh, đồng thời làm cho học sinh có nhiều hứng thú trong học tập
Qua bài viết, tôi ghi lại những lỗi sai của học sinh để cho học sinh viết lại trong phần kiểm tra bài cũ, còn những em viết sai tôi sẽ ghi tên lại để theo dõi kiểm tra việc sửa bài ở nhà và việc thực hiện bài kiểm tra
ở lớp có tốt không
Ngoài môn Chính tả, trong các môn học còn lại tôi cũng rất chú ý đến cách phát âm hay viết chữ của học sinh Mục đích của tôi để rèn học sinh phát âm đúng và viết đúng chính tả Nếu trên bài làm của các môn học khác có sai lỗi chính tả, tôi sẵn sàng trừ điểm
Ở lớp Bốn, thời gian học môn Chính tả 1 tuần chỉ có 1 tiết Vì vậy, thỉnh thoảng, tôi tổ chức trò chơi “Đố chữ” bằng nhiều hình thức Thí dụ:
1.Tìm từ có âm s/x ; vần ao/au…
2.Chọn từ đúng (xang-sang) sông…
3.Giải thích từ : Giáo viên chỉ cho từ học sinh giải thích…
Với trò chơi này, học sinh rất hứng thú để tìm từ và ghi nhớ để thi đua
Qua cách dạy môn Chính tà của tôi trong năm học này, lớp Bốn 3
đã đạt được kết quả như sau:
GHK1
HKI
GHKII
CHKII
Trang 7III – Kết luận :
1 / Tóm lược giải pháp :
Qua kết quả đạt được như trên, tôi nhận thấy rằng : Muốn dạy tốt môn Chính tả, người giáo viên phải chịu khó chăm chút học sinh trong từng tiết dạy, theo dõi kĩ việc rèn luyện của học sinh Người giáo viên luôn phát hiện những lỗi sai của học sinh và tìm ra cách để chữa những lỗi sai đó
“ Ở đâu có thầy giỏi, ở đó có trò giỏi ”, vì vậy bên cạnh việc chăm chút học sinh, người giáo viên phải không ngừng học hỏi, tìm tòi, nghiên cứu các tài liệu phục vụ cho việc giảng dạy để nâng cao trình độ chuyên môn Có nắm chắc kiến thức, người giáo viên mới có thể giúp học sinh chữa lỗi sai và mới khắc phục cái lỗi sai đó một cách có hiệu quả
2.Phạm vi đối tượng áp dụng:
Với đề tài nầy có thể áp dụng cho lớp Bốn 3 mà tôi đã giảng dạy trong năm học 2011 - 2012 tại trường
Long Trạch, ngày 20 tháng 4 năm 2012 Người viết
Nguyễn Kim Thoa