Đặc biệt là đối với học sinh lớp 4, lớp gần cuối của bậc tiểu học, số lượng môn học nhiều hơn vì lẽ đó các em chỉ tập trung vào viết đủ chữ nên việc sai lỗi chính tả khi viết và trình bà
Trang 1
PGD & ĐT HUYỆN KRÔNG BUK TRƯỜNG TH TÔN ĐỨC THẮNG
Họ và tên: Nguyễn Thị Thanh Năm học : 2013 - 2014
PHẦN THỨ NHẤT : ĐẶT VẤN ĐỀ
Trang 2I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Môn học Tiếng Việt ở trường tiểu học có nhiệm vụ quan trọng vào bậc nhất là trau dồi ngôn ngữ cho học sinh, trang bị cho học sinh những tri thức Việt ngữ học và quy tắc
sử dụng chúng trong hoạt động giao tiếp
Trong các phân môn của bộ môn Tiếng Việt, chính tả là một trong những phân môn
có vai trò quan trọng, bởi đây là phân môn hình thành, rèn luyện và phát triển kỹ năng viết Rèn chữ viết chính tả cung cấp cho học sinh biết quy tắc chính tả và thói quen viết chữ ghi
âm Tiếng Việt đúng và chuẩn Nắm vững chính tả học sinh mới có thể nói được, viết được, nói hay, viết hay… góp phần giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, thứ của cải vô cùng quý báu của dân tộc ta
Sự thống nhất chính tả thể hiện tính thống nhất của một ngôn ngữ Chính tả có thống nhất thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ viết mới không bị trở ngại giữa các địa phương, cũng như giữa các thế hệ với nhau
Mục tiêu đầu tiên của giáo dục tiểu học là rèn luyện cho học sinh kỹ năng “đọc thông, viết thạo” Giải quyết lỗi chính tả trong nhà trường là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần hoàn thành mục tiêu giáo dục đề ra
Đối với học sinh bậc tiểu học việc rèn để các em viết đúng, viết chuẩn là vấn đề vô cùng cần thiết Đặc biệt là đối với học sinh lớp 4, lớp gần cuối của bậc tiểu học, số lượng môn học nhiều hơn vì lẽ đó các em chỉ tập trung vào viết đủ chữ nên việc sai lỗi chính tả khi viết và trình bày bài chưa khoa học là khá phổ biến
Qua nhiều năm giảng dạy tại trường tôi thấy nhiều học sinh khi viết chính tả chỉ chú
ý nghe giáo viên phát âm để viết đúng chữ, chứ chưa coi trọng nghĩa của từ, hoặc các em viết theo cách đọc của phát âm tiếng mẹ đẻ, do đó các em chỉ nghe để viết đủ, đúng chữ ở tất cả các môn học nhưng thực sự các em viết còn mắc lỗi chính tả khá nhiều Vì lẽ đó dạy chính tả trong trường tiểu học có ý nghĩa rất lớn trong việc phát triển trí thông minh, khả năng tư duy (vì phải sử dụng các thao tác như phân tích, so sánh đối chiếu, khái quát hoá
và trừu tượng hoá để rút ra quy tắc chính tả) và khả năng ghi nhớ máy móc cho các em Góp phần giáo dục ý chí và đức tính tốt như tính kỉ luật, tính cẩn thận, cần cù, nhẫn nại, óc thẩm mĩ; đồng thời bồi dưỡng cho các em lòng yêu quý Tiếng Việt, cách biểu thị tình cảm tốt đẹp khi giao tiếp
Xuất phát từ những lí do trên tôi mạnh dạn tìm hiểu và đưa ra “ Một số biện pháp
giảng dạy phân môn chính tả lớp 4” trường Tiểu học Tôn Đức Thắng trong năm học
2013- 2014 Vì có viết đúng chính tả học sinh mới có điều kiện để học tốt các môn học khác và cũng là tiền đề để các em bước vào lớp học cuối cấp của bậc Tiểu học
II NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ LÍ LUẬN.
Tiếng Việt là ngôn ngữ chung thống nhất trên toàn đất nước Việt Nam, nhưng mỗi vùng đều có sự khác biệt nhiều cách phát âm của từng địa phương khác nhau.Những cách phát âm đó làm cho Tiếng Việt thêm giàu đẹp, phong phú Cho nên khi đối thoại người ở các vùng miền trên đất nước ta đều nghe và hiểu được Nhưng mặt khác của sự khác biệt
về phát âm giữa các địa phương lại dẫn đến tình trạng viết sai chính tả do phát âm Trong cuộc sống của con người, cụ thể là người Việt Nam không chỉ giao tiếp bằng ngôn ngữ nói
mà còn giao tiếp bằng ngôn ngữ viết Như trong lĩnh vực học tập nghiên cứu tài liệu cũng như việc giao tiếp giữa những người ở xa nhau, hoặc giữa các thế hệ đời trước với đời sau
Trang 3người, người ta vẫn thường có câu: “Văn hay không bằng chữ tốt” Chính vì vậy yêu cầu
đặt ra trong việc giao tiếp bằng ngôn ngữ viết là làm sao phải đảm bảo được người đọc hiểu đúng hoàn toàn ý nghĩa, nội dung trong văn bản của người viết Viết đúng chính tả là giúp cho học sinh có điều kiện sử dụng Tiếng Việt đạt hiệu quả cao trong việc học tập các môn học khác trong nhà trường Để đạt được yêu cầu này trên lĩnh vực chữ viết phải được thể hiện một cách thống nhất trên từng con chữ, từng âm tiết Tiếng Việt Nói một cách khác là mỗi âm vị sẽ được thể hiện bằng một hay một tổ hợp chữ cái đồng thời mỗi từ cũng có một cách viết nhất định, thống nhất trong cộng đồng người Việt
Về cơ bản chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm, mỗi âm vị được ghi bằng một con chữ Nói cách khác, giữa cách đọc và cách viết chính tả Tiếng Việt là thống nhất với nhau Đọc như thế nào sẽ viết như thế ấy Trong giờ chính tả, học sinh sẽ xác định được
cách viết đúng ( viết đúng chính tả) bằng việc tiếp nhận chính xác âm thanh của lời nói(
hình thức chính tả nghe- viết) Cơ chế của cách viết đúng là xác lập được mối liên hệ giữa
âm thanh và chữ viết Giữa đọc và viết, giữa tập đọc và viết chính tả (chính tả nghe – viết:
tức là nghe đọc để viết lại) có mối quan hệ mật thiết với nhau, nhưng lại có quy trình hoạt
động trái ngược nhau Nếu tập đọc là sự chuyển hoá văn bản dưới dạng âm thanh thành văn bản viết Có như vậy, khi giao tiếp bằng ngôn ngữ, người đọc mới hiểu đúng hoàn toàn nội dung, ý nghĩa mà người viết gửi gắm, việc viết đúng thống nhất như thế còn gọi bằng thuật ngữ quen thuộc là: chính tả Bởi theo nghĩa gốc thì “chính tả” tức là “ phép
viết đúng” hay “ lối viết hợp với chuẩn”.
Qua các bài viết chính tả rèn luyện cho học sinh “ có tính kỉ luật, tính cẩn thận và
óc thẩm mĩ”.Đồng thời bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu quý Tiếng Việt, chữ viết, cách
biểu thị tình cảm được thể hiện trong việc viết đúng chính tả
Xuất phát từ tính chất và tầm quan trọng của việc viết đúng chính tả như thế nên phân môn chính tả đã được đưa vào chương trình giảng dạy của trường phổ thông Cụ thể
ở đây là các lớp bậc tiểu học, phân môn chính tả đã được giảng dạy ở tất cả các lớp trong bậc học tiểu học (trừ học kì I của chương trình lớp 1 là chưa dạy) với nhiều hình thức chính tả khác nhau: Từ chính tả nhìn bảng, nhìn sách để chép (ở cuối lớp 1 và đầu lớp 2) rồi đến chính tả so sánh, chính tả nghe- viết, chính tả nhớ-viết Với những hình thức chính
tả này giúp học sinh có thể hiểu về quy tắc chính tả để viết đúng chính tả Tuy việc viết đúng chính tả là quan trọng và cần thiết như vậy nhưng thực tế việc dạy và học và học chính tả ở tất cả các lớp trong bậc học tiểu học nói chung và học sinh lớp 4 trường tiểu học Tôn Đức Thắng nói riêng vẫn còn mắc nhiều lỗi khi viết chính tả Đây là nhiệm vụ của người học sinh cần phải rèn luyện chữ viết sao cho đúng “chính tả” và cũng là trách nhiệm
đặc biệt quan trọng của tập thể giáo viên trường tiểu học Tôn Đức Thắng nói chung và cá
nhân tôi là một giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 4, trách nhiệm đó đặc biệt cần chú trọng hơn
III NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI.
Tìm và đưa ra một số biện pháp giảng dạy phân môn chính tả lớp 4 góp phần
trang bị cho những cơ sở lí luận, vào việc hoàn thiện nội dung và phương pháp dạy chính
tả ở bậc tiểu học nói chung, dạy chính tả lớp 4 nói riêng:
1 Tìm hiểu nguyên nhân mắc lỗi để xác định nội dung dạy học chính tả
2 Phân tích thực trạng lỗi chính tả về âm, vần, dấu thanh
3 Bổ sung nguyên tắc chính tả cho học sinh
Trang 44 Xây dựng bài tập khắc phục lỗi chính tả cho học sinh.
5 Giáo viên phải gương mẫu về chữ viết và phát huy tính tích cực của học sinh khi chấm, chữa bài viết cũng như bài tập chính tả
IV ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Học sinh lớp 4A1 Trường Tiểu học Tôn Đức Thắng – xã EaNgai- huyện Krông
Buk – Đăk Lăk
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
1 Phương pháp khảo sát chất lượng chữ viết của học sinh
2 Phương pháp thống kê, phân tích
3 Phương pháp thực nghiệm
4 Phương pháp đối chiếu và so sánh kết quả sau khi vận dụng các biện pháp trên
PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I NHỮNG THỰC TRẠNG BAN ĐẦU.
1.Khái quát tình hình học sinh.
- Năm học 2013 – 2014 này tôi được phân công phụ trách lớp 4A1 trường tiểu học Tôn Đức Thắng Hầu hết học sinh lớp tôi đều là người miền Trung nên các em phát âm theo tiếng địa phương quá nhiều Các em còn viết theo sự phát âm của mình nên dẫn đến viết sai chính tả
- Học sinh miền Trung chúng ta thường mắc các lỗi phổ biến là các tiếng có vần :
En / ăn / eng / ăng
Am / om / ân / âng
Un / uôn / uông
- Hoặc tiếng có phụ âm đầu là: c / k; s / x; gi / d; ng / ngh; g / gh
- Các tiếng có phụ âm cuối c / t; n / ng
- Thanh hỏi và thanh ngã
- Bên cạnh đó còn một số em chưa nắm được cách ghép âm, vần nên dẫn đến các em viết sai chính tả rất nhiều
* Qua khảo sát chất lượng đầu năm học 2013-2014, kết quả phân môn chính tả của lớp tôi như sau:
Tổng số bài được khảo sát là: 15 bài.Trong đó:
0/ 15 bài 1 / 15 bài 9 / 15 bài 5 / 15 bài
Trang 5Do xác định được vai trò và tầm quan trọng của việc rèn chữ viết cho học sinh tiểu học, tôi đã tìm hiểu vấn đề này Trước hết nhằm nâng cao chất lượng chữ viết cho các em Đồng thời cũng góp phần đúc rút kinh nghiệm và làm phong phú thêm một số biện pháp chỉ đạo chuyên môn trong nhà trường Rèn cho học sinh có kỹ năng: đọc, nghe, nói, viết thành thạo Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài “ Một số biện pháp giảng dạy phân môn chính
tả lớp 4 ”
2.Thực trạng lỗi chính tả về âm, vần, dấu thanh.
Ở bậc tiểu học, môn Tiếng Việt có các phân môn như: Tập đọc; Luyện từ và câu;
Tập làm văn; Tập viết; Kể chuyện; Chính tả Phân môn chính tả có nhiệm vụ : “ Cung cấp
cho học sinh các quy tắc viết đúng và rèn luyện để các em có kỹ năng và thói quen viết đúng chính tả, rèn luyện cho học sinh một số phẩm chất: Tính kỉ luật, tính cẩn thận( vì phải viết thẳng hàng, ngay ngắn, đẹp đẽ, đúng cỡ chữ) Đồng thời bồi dưỡng cho các em lòng yêu quý Tiếng Việt, cách biểu thị tình cảm tốt đẹp trong đó có việc viết đúng chính tả”.
Chất lượng học tập các phân môn của môn Tiếng Việt có quan hệ chặt chẽ, chi phối nhau, phân môn này có ảnh hưởng và hỗ trợ cho phân môn kia Nếu học tốt phân môn chính tả học sinh có một công cụ hết sức đắc lực và hữu ích để ghi chép bài chính xác, nhanh, đẹp
Thế nhưng chất lượng học phân môn chính tả của học sinh hiện nay ở trường tiểu học Tôn Đức Thắng nói chung và học sinh ở các trường khu trung tâm nói riêng còn ở mức độ thấp Biểu hiện tập trung nhất là tình trạng viết sai chính tả còn phổ biến
Dù là học sinh trong cùng một địa phương hay cùng một lớp song không phải em nào cũng mắc lỗi giống hệt nhau, một số thường viết sai: i/iê;iêt/iêc,… một số em lại sai: d/r/gi; n/ng; c/t…Một điều đáng lưu tâm hơn là hầu hết các em trong đơn vị trường đọc là viết sai một số âm đầu cũng như phần vần đọc gần giống nhau: iêng/ iêc; iết/iếc; anh/ ach; ên/ ênh;… hay các tiếng có dấu thanh: hỏi/ ngã… Nếu giáo viên cứ chú trọng đến các lỗi
mà các em sai phổ biến còn những lỗi khác không chú ý đến thì sẽ là một trong những nguyên nhân sai lỗi đó một cách truyền thống không sửa được, vì lẽ đó mỗi giáo viên cần nhận thức và xác định được cho mình nhiệm vụ quan trọng số một của phân môn chính tả
là cung cấp các quy tắc, rèn luyện kỹ năng và thói quen viết đúng chính tả
Trước hết cần phân ra từng nhóm đối tượng học sinh, nhóm nào thường mắc những lỗi nào thì tìm ra phương pháp khắc phục cho học sinh sửa lỗi đó Khi viết những từ có liên quan đến những lỗi mà nhóm học sinh hay mắc phải, cần gọi những em đó lên viết trên bảng lớp, viết thường xuyên Có như vậy, các em mới phát hiện ra lỗi sai để kịp thời giúp học sinh khắc phục
3 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó.
- Người miền Trung phát âm hoàn toàn không phân biệt được các tiếng có âm cuối
là n hay ng; c hay t thanh hỏi hay thanh ngã do đó lỗi về âm cuối , về dấu thanh là lỗi khó khắc phục đối với học sinh miền Trung
- Học sinh không nắm được một số quy ước về chữ Quốc ngữ
- Học sinh chưa nắm được một số quy tắc viết chính tả Tiếng Việt
- Học sinh chưa cẩn thận trong khi viết bài còn viết hoa hoặc không viết hoa tuỳ thích
Muốn khắc phục được những hạn chế, thiếu sót đó người giáo viên cần bổ sung, điều chỉnh mục tiêu môn chính tả sao cho phù hợp với đối tượng học sinh lớp mình phụ
Trang 6trách và nhắc nhở phân tích các từ ngữ mà học sinh thường viết sai, thường gặp trong các môn học khác để học sinh hiểu nghĩa của từ và luôn viết đúng chính tả Hơn nữa khi đọc bài các em thường đọc chưa chính xác các tiếng có thanh hỏi, thanh ngã, vần en/eng; ên/ênh,âm cuối c/t… Vì thế cho nên khi viết hay nhầm lẫn, giáo viên cần phân tích rõ ràng cho học sinh hiểu để tránh viết sai Trong khi viết chính tả cần phân tích, so sánh để học sinh nắm được nghĩa của từ thì học sinh mới viết đúng mọi lúc, mọi nơi Như vậy bằng phương pháp này học sinh sẽ có thói quen viết chính tả theo nghĩa của từ
4.Kết quả thống kê lỗi.
- Qua kết quả thống kê các loại lỗi, tôi thấy học sinh lớp tôi nói riêng, học sinh miền Trung chúng ta thường mắc phải các loại lỗi sau:
- Về thanh điệu: Tiếng việt có 6 thanh điệu (ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng) thì học sinh không phân biệt được 2 thanh hỏi, ngã
- Về âm đầu: Học sinh thường viết lẫn lộn một số tiếng có âm đầu là c / k; g /gh; ng /ngh;
s / x ; d / gi
- Về âm chính: Học sinh thường viết lẫn lộn một số tiếng có âm chính là :
a / oa; iê / yê
- Về âm cuối: Học sinh thường viết lẫn lộn một số tiếng có âm cuối là :
c / t; n / ng
- Học sinh viết hoa hoặc không viết hoa một cách tuỳ tiện
II.MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIẢNG DẠY PHÂN MÔN CHÍNH TẢ LỚP 4.
Việc tìm và đưa ra các biện pháp giảng dạy phân môn chính tả lớp 4, là vấn đề mà mỗi giáo viên cần phải có trách nhiệm giúp đỡ các em Muốn vậy chúng ta những giáo viên đang trực tiếp giảng dạy bậc học tiểu học phải có cách làm khoa học, cụ thể phải nghiên cứu các phương pháp dạy học, có nhiều phương pháp và cách nghiên cứu Tôi nghiên cứu theo các bước sau:
1 Khảo sát chất lượng chữ viết của học sinh
2 Phát hiện lỗi sai mà các em mắc phải
3 Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến học sinh viết chưa đúng chính tả
4 Đưa ra một số biện pháp rèn viết chính tả và trực tiếp vận dụng các
phương pháp đó trong quá trình giảng dạy phân môn chính tả
Trong thời gian thực nghiệm tôi đã mạnh dạn đưa ra một số biện pháp để khắc phục những lỗi chính tả mà các em thường mắc và rèn cho các em viết đúng chính tả
*Biện pháp 1: Bổ sung quy tắc chính tả cho học sinh.
Trong quá trình giảng dạy và truyền thụ kiến thức cho các em học sinh, đòi hỏi người giáo viên cần xác định được trọng tâm của bài, dạy chính tả phải biết kết hợp với
việc dạy chuẩn âm, tức là “ phát âm đúng” Yêu cầu giáo viên phải là người chuẩn mực
trong việc đọc, nói Vì cơ sở cơ bản của chính tả Tiếng Việt là nguyên tắc ngữ âm.Chính tả
âm vị đọc thế nào, nói thế nào viết thế ấy Hầu hết học sinh chưa nắm vững nguyên tắc chính tả nên dẫn đến viết sai chính tả
- Giáo viên cần cho học sinh ghi nhớ một số quy tắc chính tả Tiếng Việt như với những tiếng có âm đầu là ng hay ngh học sinh thường lẫn lộn không xác định được khi
Trang 7nào thì viết âm đầu là ng khi nào thì viết âm đầu là ngh (Vì hai âm này khi phát âm nó hoàn toàn giống nhau chính vì vậy mà học sinh rất dễ lẫn lộn )
Ví dụ: Tiếng “nga” khi ta phát âm là ngờ- a -nga; tiếng “nghe” khi ta phát âm cũng ngờ- e -nghe
Nên giáo viên cần cho học sinh nắm được quy tắc sau: Khi một tiếng nào đó nếu em không xác định được là âm ng hay ngh thì ta phải xét sang phần vần của tiếng đó Nếu phần vần của tiếng đó bắt đầu bằng các nguyên âm i, e, ê thì âm đầu của tiếng đó nhất định phải là âm ngh còn nếu phần vần của tiếng đó bắt đầu bằng các âm khác ba nguyên
âm trên thì âm đầu của tiếng đó sẽ là âm ng Tương tự đối với âm đầu là c hay k, g hay gh giáo viên cũng hướng dẫn cho học tương tự như vậy
- Đối với học sinh lớp 4 mặc dầu các em đã được học về quy tắc viết tên người, tên địa
lí Việt Nam và nước ngoài , cách viết câu văn, đoạn văn nhưng đa số học sinh còn viết hoa hoặc không viết hoa một cách tuỳ tiện Để khắc phục tình trạng này đòi hỏi người giáo viên phải kiên trì nhắc nhở các em trong mọi lúc, mọi nơi chứ không riêng gì trong lúc dạy chính tả chúng ta mới chú ý nhắc nhở
Ví dụ : Khi nhìn vào nhãn vở học sinh thấy em không viết hoa họ tên mình thì giáo viên yêu cầu học sinh nhắc lại cách viết tên người Việt Nam và yêu cầu học sinh xem lại cách viết tên họ tên của mình trong nhãn vở và sửa lại cho đúng hoặc khi chấm bài tập làm văn, các môn học khác nếu thấy học sinh không viết hoa danh từ riêng , chữ cái đầu câu hoặc viết hoa một cách tuỳ tiện thì giáo viên phải gạch chân dưới các tiếng đó và gọi học sinh đến để nhắc nhở Nếu chúng ta thực hiện thường xuyên như vậy thì việc học sinh không viết hoa hoặc viết hoc tuỳ tiện nhất định sẽ được khắc phục
- Đối với chữ viết có “i" hay “y”
+ Viết “ i ” khi đứng sau các phụ âm: x, m, r, ch, tr, gh, ngh, l,…( xinh xắn, thông minh, rì rào, chính tả, trí tuệ, ghi nhớ, nghỉ hè, lí lịch,…)
+ Viết “ y” khi đứng độc lập hay nó không có âm đứng trước ( y tá, yêu thương, yên lặng, âu yếm, yết kiến,…)
- Đối với chữ viết chứa nguyên âm đôi iê hay yê.
+ Viết “ iê”khi đứng sau các phụ âm: d, đ, h, k, l, m, n, x, s, t, th, ch,…( diệu kì, điêu đứng, huy hiệu, kiêu kì, lo liệu, miêu tả, nồi niêu, siêu sao, xiêu vẹo, tiền tiêu, thiếu thốn,…)
+ Viết “ yê” khi đứng sau các phụ âm: d, đ, h , l, x, t, th, ch, tr ( xét duyệt,huyết tương, luyện tập, xao xuyến, tuyệt đối, thuyền bè, kể chuyện, truyền thuyết)
Khi học sinh nắm chắc nguyên tắc chính tả thì mỗi khi viết bài các em sẽ viết chính xác và viết đúng chính tả Cũng từ đó giáo dục ý chí và đức tính tốt, tính cẩn thận, óc thẩm
mĩ đồng thời bồi dưỡng cho các em lòng yêu quý Tiếng Việt, cách biểu thị tình cảm tốt đẹp khi giao tiếp
*Biện pháp 2: Ghi nhớ mẹo luật chính tả.
- Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phối hàng loạt
từ, giúp giáo viên khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách rất hữu hiệu Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh một số mẹo luật như sau:
- Để phân biệt âm đầu s / x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt đầu bằng s
Trang 8Ví dụ : cây sả, cây sồi, cây sứ, cây sắn, cây sậy, cây sặt, sầu đâu, sầu riêng, cây sim, cây sếu, cây si, con vật như con sán, con sâu, con sên, con sò, con sếu, con sóc, con sói, con sứa, con sáo sậu, con sư tử, con sơn dương,
- Các từ gộp âm chỉ mang thanh hỏi không mang thanh ngã
Ví dụ : Trong + ấy = trổng (thanh hỏi)
ngoài + ấy = ngoải
anh + ấy = ảnh
bên + ấy = bển
ông + ấy = ổng
cô + ấy = cổ; v.v
- Một số từ có vần ênh chỉ trạng thái bấp bênh, không vững chắc: gập ghềnh, công
kênh, khấp khểnh, bấp bênh, chông chênh, lênh khênh, bập bềnh, chệnh choạng, chếch choáng,
- Hầu hết các từ tượng thanh đều có tận cùng là ng hoặc nh: đùng đoàng, đoàng đoàng, oang oang, huỳnh huỵch , sang sảng, lẻng kẻng, đùng đùng, thùng thùng, thình thịch, xập xình, oăng oẳng, ằng ặc, lẻng xẻng,
- Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ: khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu, khuỵu chân.
- Vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ: ngoằn ngoèo, khoèo chân.
*Biện pháp 3: Luật viết dấu hỏi, dấu ngã trong từ láy.
- Trong từ láy, tiếng có thanh ngã bao giờ cũng đi với các tiếng có thanh huyền, thanh nặng, hoặc thanh ngã; ngược lại, tiếng có thanh hỏi bao giờ cũng đi với các tiếng có thanh sắc, thanh ngang hoặc thanh hỏi
- Nên khi một chữ của từ láy đã viết dấu huyền, dấu nặng, dấu ngã thì chữ kia phải viết dấu ngã (chứ không viết dấu hỏi)
Ví dụ: sẵn sàng, vẽ vời, dữ dội, đẹp đẽ, lạnh lẽo,
- Khi một chữ của từ láy đã viết dấu sắc, không dấu hoặc dấu hỏi thì chữ kia phải viết dấu hỏi ( chứ không viết dấu ngã)
Ví dụ: mát mẻ, vất vả, thảm thiết, thong thả, hớn hở,
- Vận dụng những mẹo luật trên ta có thể viết đúng dấu hỏi, dấu ngã trong từ láy Nhưng trong thực tế có những từ láy mà cách viết dấu hỏi, dấu ngã lại không theo luật đã trình bày ở trên Đây là trường hợp ngoại lệ mà chúng ta cần ghi nhớ:
- Ngoại lệ 1: Những từ láy theo luật thì viết dấu ngã nhưng thực tế lại viết dấu hỏi: niềm nở, luồn lỏi, bền bỉ, hẳn hòi, dòm dỏ, phỉnh phờ, xoàng xỉnh, vẻn vẹn, lẳng lặng
- Ngoại lệ 2: Những từ láy theo luật thì viết dấu hỏi nhưng thực tế lại viết dấu ngã: ngoan ngoãn, khe khẽ, se sẽ
(Số lượng ngoại lệ rất ít)
*Để nhớ luật này chúng ta chỉ cần cho học sinh nhớ câu ca dao sau:
Chị huyền mang nặng ngã đau
Anh sắc không hỏi một câu gọi là
- Nhớ câu này là các em đã nhớ được nội dung luật viết hỏi ngã trong từ láy
*Biện pháp 4: Phân tích, so sánh.
Trang 9- Trong tiết dạy chính tả, với những tiếng khó giáo viên nên cho học sinh luyện viết vào bảng con Cần áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng hoặc so sánh với những tiếng
dễ lẫn lộn, nhấn mạnh những điểm khác nhau để học sinh ghi nhớ
- Ví dụ: Khi viết tiếng biết trong từ hiểu biết học sinh rất dễ lẫn lộn viết là biếc ta cần phân tích cấu tạo tiếng này :
- Biết = b + iêt + thanh sắc
Các em cần phân biệt với tiếng biếc trong từ xanh biếc
*Biện pháp 5: Cho học sinh hiểu nghĩa của từ.
- Giải nghĩa từ cũng là biện pháp hữu hiệu để giúp học sinh khắc phục lỗi chính Học sinh sẽ viết đúng chính tả nếu các em hiểu được nghĩa của từ Việc giải nghĩa từ
thường được thực hiện trong các tiết như luyện từ và câu, tập làm văn, tập đọc, nhưng nó cũng là việc làm rất cần thiết trong tiết chính tả , khi học sinh không thể phân biệt được từ khó dựa vào cách phát âm
Ví dụ : Phân biệt “chiêng” và “chiên”
- Nếu giáo viên yêu cầu các em viết cho cô chữ ghi tiếng chiêng thì học sinh rất dễ viết sai nên chúng ta cần giải nghĩa chiêng là nhạc cụ bằng đồng, hình tròn, Hoặc muốn viết tiếng chiên thì giáo viên phải cung cấp chiên này có nghĩa là làm cho chín thức ăn bằng cách cho thức ăn vào chảo dầu, mỡ đun trên bếp
- Đối với những từ có chứa tiếng cũ mà nghĩa của từ đó có nghĩa là cổ xưa thì tiếng
cũ đó được viết bằng thanh ngã
Ví dụ : bạn cũ, cũ kĩ, cũ rích, năm cũ, đồ cũ, sách cũ,
- Đối với những từ có chứa tiếng củ mà nghĩa của từ đó có nghĩa là củ quả thì tiếng
củ đó được viết bằng thanh hỏi
Ví dụ: củ khoai, củ chuối, củ cải, cải củ
- Đối với những từ có chứa tiếng nghĩ mà nghĩa của từ đó có nghĩa là nói lên ý nghĩ thì tiếng nghĩ đó được viết bằng thanh ngã
Ví dụ : Suy nghĩ, nghĩ ngợi, nghĩ bụng, lo nghĩ, ngẫm nghĩ, ý nghĩ,
*Biện pháp 6: Xây dựng bài tập khắc phục lỗi chính tả cho học sinh.
Dạy chính tả trong trường tiểu học có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc phát triển trí thông minh, khả năng tư duy và khả năng ghi nhớ của học sinh Nếu học tốt phân môn chính tả học sinh sẽ có một công cụ hết sức đắc lực và hữu ích để ghi chép bài chính xác, nhanh và đẹp
Trong quá trình dạy học chính tả giáo viên phải tổ chức cho học sinh thực hành luyện tập các bài tập, bởi thông qua quá trình thực hành luyện tập các bài tập sẽ dần hình thành ở các em kỹ năng viết thành thạo, thuần thục chữ viết Tiếng Việt theo chuẩn chính
tả, nghĩa là hình thành kỹ xảo chính tả Khi các em làm bài tập một cách tích cực, chủ động thì các em sẽ tự nhận biết được viết như thế nào là viết đúng và nếu viết khác đi thì
sẽ sai, từ đó các em ghi nhớ cách viết đúng sâu sắc hơn, bền vững hơn
Trong quá trình giảng dạy, sau khi học xong bài mới, giáo viên giao cho học sinh những bài tập để thực hành luyện tập Đối với các em việc thực hành luyện tập sẽ giúp các
em ghi nhớ kiến thức đã học nhanh hơn và biết khắc phục những lỗi mà mình thường mắc phải Còn đối với bản thân tôi là một giáo viên trực tiếp giảng dạy sau khi chấm tất cả các
Trang 10bài tập này, thứ nhất là có thể đánh giá được kết quả học tập của mỗi học sinh Thứ hai là
có thể thu được thông tin ngược lại từ phía học sinh, xem mức độ tiếp thu bài của các em tới đâu? hay còn vướng mắc ở chỗ nào? phần nào? Với phương pháp dạy học đó đã phù hợp chưa? Từ đó điều chỉnh lại cách thức, phương pháp dạy học sao cho đạt hiệu quả tốt nhất
Từ kết quả khảo sát thực tế đối với học sinh lớp 4A1 trường tiểu học Tôn Đức Thắng Khi viết bài các em viết sai chính tả rất nhiều, trình bày bài cẩu thả, viết còn nhầm lẫn giữa các phụ âm đọc gần giống nhau Do đó tôi mạnh dạn xây dựng một số bài tập chính tả dưới hình thức tổ chức cho các em làm bài kiểm tra Nhằm củng cố và bổ sung kỹ năng nắm chắc nguyên tắc chính tả để các em không còn gặp khó khăn khi viết bài, nhằm hạn chế lỗi chính tả trong các môn học khác
BÀI KIỂM TRA SỐ 1.
1 Điền vào chỗ trống an hay ang.
- Mấy chú ng…con d… hàng ng… lạch bạch đi kiếm mồi
- Lá bàng đang đỏ ngọn cây, Sếu gi… m… lạnh đang bay ng… trời
2 Tìm tiếng có vần iên hay uyên thích hợp với mỗi chỗ trống dưới đây.
Chỉ có ………… mới hiểu ………… mênh mông nhường nào Chỉ có ………… mới biết
………… đi đâu về đâu
3 Điền vào chỗ trống r , d hay gi.
… ây mơ ….ễ má … ấy trắng mực đen … eo ……ó gặt bão … ối … ít tít mù … anh lam thắng cảnh … út … ây động rừng … ương đông kích tây … ãi ….ó … ầm mưa
4.Đặt trên chữ in đậm dấu hỏi hay dấu ngã.
Bình minh hay hoàng hôn?
Trong phòng triên lam tranh, hai người em nói chuyện với nhau Một người bao:
- Ông thư đoán xem bức tranh này ve canh bình minh hay canh hoàng hôn.
- Tất nhiên là tranh ve canh hoàng hôn.
- Vì sao ông lại khăng định chính xác như vậy?
- Là bơi vì tôi biết họa si ve tranh này Nhà ông ta ơ cạnh nhà tôi Ông ta chăng bao
giờ thức dậy trước lúc bình minh
Tôi tổ chức cho học sinh làm bài kiểm tra vào chiều ngày mồng 15/ 11/ 2013 kết quả như sau: