1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu khoa học - Thư viện điện tử (2016)

32 48 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu khoa học - Thư viện điện tử
Trường học Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
Chuyên ngành Thư viện điện tử
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù vậy, thư viện truyền thống còn nhiều hạn chế như: số lượng tài liệu chưa được cập nhật, giờ mở cửa hầu hết là giờ hành chính… Ngày nay, công nghệ thông tin và truyền thông phát tr

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Mục tiêu nghiên cứu 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Kết cấu báo cáo 4

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ 5

1.1 Giới thiệu về TVĐT 5

1.1.1 Khái niệm TVĐT 5

1.1.2 Cấu trúc của TVĐT 7

1.1.3 Cơ sở hạ tầng của TVĐT 8

1.1.4 Xây dựng kho tài liệu số hóa 8

1.2 Đặc điểm của TVĐT 9

1.3 Tình hình phát triển TVĐT trên thế giới 9

1.4 Tình hình phát triển TVĐT ở Việt Nam 11

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TẠI HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG 13

2.1 Giới thiệu chung về TVĐT Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông 13

2.1.1 Trung tâm thông tin thư viện Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (Cơ sở Hà Đông - Hà Nội) 13

2.1.2 Tra cứu OPAC 16

2.1.3 Tài nguyên số 21

2.1.4 Hệ thống CSDL trực tuyến trong mạng VinaREN 23

2.2 Nghiên cứu một số vấn đề chung về nhu cầu sử dụng TVĐT 24

2.3 Nội dung phương pháp nghiên cứu 25

2.4 Nghiên cứu thực trạng nhu cầu sử dụng TVĐT của sinh viên Học viện 27

CHƯƠNG 3 KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT 28

3.1 Kiến nghị 28

3.2 Đề xuất 29

Trang 2

3.3 Hạn chế của nghiên cứu 29

KẾT LUẬN 30

PHỤ LỤC 31

1 Bảng hỏi 31

2 Tài liệu tham khảo 32

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thư viện góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập cho giáo viên và học sinh/sinh viên Đối với bạn đọc là giáo viên, thư viện là kho tàng lưu giữ những kiến thức bổ ích được lưu trữ qua từng thời gian đồng thời cung cấp, bổ sung và cập nhật khối lượng thông tin làm cho nội dung bài giảng ngày càng phong phú Giáo viên

có thể tiếp cận nhiều nguồn thông tin khác nhau để làm giàu vốn kiến thức của mình, truyền tải đến học sinh/sinh viên lượng kiến thức tốt nhất

Đối với bạn đọc là học sinh/sinh viên, thư viện có vai trò gián tiếp, xây dựng thói quen tự học tự bồi dưỡng cho học sinh/sinh viên trong học tập và nghiên cứu khoa học Mặc khác thư viện giúp bạn đọc tạo được tính chủ động và hình thành hướng phấn đấu đạt kết quả cao trong học tập của mình Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng của thư viện, một cơ quan văn hoá giáo dục ngoài nhà trường Mặc dù vậy, thư viện truyền thống còn nhiều hạn chế như: số lượng tài liệu chưa được cập nhật, giờ mở cửa hầu hết là giờ hành chính…

Ngày nay, công nghệ thông tin và truyền thông phát triển không ngừng, được ứng dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực, ngành nghề trong đó có các thư viện Chính vì vậy, sự phát triển mạng lưới internet nói riêng và lĩnh vực công nghệ thông tin nói chung đã tạo ra một kỉ nguyên mới của thông tin, khắc phục được những điểm yếu đối với thư viện truyền thống Thực tế cho thấy, tuy chưa phải là hoàn hảo, song

có thể nói, trong những năm qua công nghệ thông tin cũng đã làm thay đổi tư duy, diện mạo trong hoạt động của nhiều thư viện nước ta Nhờ công nghệ thông tin mà công tác tổ chức, quản lý, khai thác nguồn lực thông tin và các sản phẩm, dịch vụ thông tin - thư viện trong các thư viện có những bước thay đổi lớn đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thông tin của đông đảo bạn đọc và người dùng tin

Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông cũng là một trong những trường đại học luôn không ngừng cố gắng tạo điều kiện tốt nhất cho sinh viên và giảng viên tiếp cận, trao đổi các tài liệu, học liệu bài giảng Với sự nỗ lực đó Học viện đã xây dựng hệ thống thư viện điện tử với mong muốn giúp các sinh viên của Học viện có thể tiếp cận, khai thác sử dụng tài liệu, khắc phục những điểm yếu của thư viện truyền thống như thời gian mở cửa, không gian thư viện, số lượng tài liệu, sự thiếu linh hoạt trong cách quản lý Nhưng trên thực tế, thư viện điện tử của Học viện còn rất nhiều bất cập làm cho sinh viên học viện khó có thể truy cập, sử dụng, cũng như tải các bài giảng,

học liệu… do đó chúng tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu nhu cầu sử dụng thư viện điện tử của sinh viên Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông”

Trang 4

2 Mục tiêu nghiên cứu

 Nghiên cứu một số vấn đề chung về nhu cầu sử dụng TVĐT

 Nghiên cứu thực trạng nhu cầu sử dụng TVĐT của sinh viên Học viện

 Một số kiến nghị và đề xuất

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Nhu cầu sử dụng TVĐT của sinh viên HVCNBCVT

 Phạm vi nghiên cứu:

 Phạm vi không gian: Cơ sở đào tạo Hà Nội, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, Km10, đường Nguyễn Trãi, quận Hà Đông, thành phố Hà

Nội

 Phạm vi thời gian: Từ tháng 4 năm 2016 đến tháng 10 năm 2016

4 Phương pháp nghiên cứu

❖ Phương pháp nghiên cứu tài liệu

❖ Phương pháp thu thập dữ liệu

❖ Phương pháp điều tra (phỏng vấn, trưng cầu ý kiến, phiếu điều tra )

5 Kết cấu báo cáo

Báo cáo nghiên cứu khoa học được chia thành 3 phần:

Phần 1: Phần mở đầu

Phần 2 Phần nội dung

Gồm 03 chương:

Chương 1: Thông tin thư viện

Chương 2: Thực trạng sử dụng thư viện điện tử tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông

Chương 3: Kiến nghị và đề xuất

Phần 3: Kết luận

Trang 5

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ

1.1 Giới thiệu về TVĐT

1.1.1 Khái niệm TVĐT

Rất nhiều nhà thư viện học cũng như các hiệp hội thư viện đã đưa ra rất nhiều định nghĩa về TVS Thậm chí “TVS” cũng được thể hiện dưới nhiều tên gọi khác nhau như: Thư viện điện tử (Electronic Library), Thư viện ảo (Virtual Library) hay thư viện không tường (Libray without wall) Tuy nhiên, tên gọi TVS được thế giới biết đến nhiều hơn trong khi Việt Nam lại thường gọi TVĐT Nhiều định nghĩa đã được công

bố trong giới học giả toàn cầu về thư viện nhằm định nghĩa rõ ràng một TVS Đây là một số định nghĩa tiêu biểu về TVS:

 Liên đoàn TVS - 1993 đã định nghĩa như sau: “Các TVS là các tổ chức cung cấp các nguồn lực tài nguyên, bao gồm cả các chuyên gia lựa chọn, cấu trúc, cung cấp khả năng truy cập tới các nguồn tri thức, phiên dịch, phân phối, bảo đảm tính vẹn toàn và tính lâu dài của các bộ sưu tập số để cho một cộng đồng hoặc một tập hợp cộng đồng người dùng tin xác định luôn có thể sử dụng một cách nhanh chóng, kịp thời và kinh tế”

 Theo Gladney – 1994: “Một TVS phải là một tập hợp các thiết bị máy tính lưu trữ, truyền thông cùng với các nội dung số và phần mềm để tái tạo, thúc đẩy

và mở rộng các dịch vụ thông tin của các thư viện truyền thống chứa các tài liệu trên giấy và các vật mang tin khác vẫn làm như thu thập, biên mục, tìm kiếm, phân phối thông tin Một dịch vụ của TVS đầy đủ, trọn vẹn phải bao gồm đảm bảo có cả dịch vụ chính yếu của các thư viện truyền thống và khai thác tối đa các lợi ích của công nghệ lưu trữ số, tìm kiếm thông tin số và truyền thông số”

 Nhà thư viện học Stephen Pinfifeld định nghĩa như sau: “TVĐT là thuật ngữ dùng để chỉ một tập hợp nguồn tin số hóa được liên kết mạng và là kèm theo hạ tầng kỹ thuật và quản lý TVĐT bao gồm dữ liệu (Data) và siêu dữ liệu (Metadata) ở các dạng thức khác nhau được tập hợp để cung cấp cho người dùng tin”

 Một số thành viên Hiệp hội TVS Hoa kỳ (Digital Library Federation) đã đưa ra một định nghĩa, “TVS là các tổ chức cung cấp tài nguyên, gồm các nhân viên chuyên biệt giúp lựa chọn, tổ chức, cung cấp khả năng truy cập thông minh, chỉ dẫn, phân phối, bảo quản tính toàn vẹn và sự thống nhất của các bộ sưu tập số theo thời gian để đảm bảo làm sao chúng luôn sẵn có để truy xuất một cách dễ dàng và kinh tế nhất đối với một cộng đồng người dùng hoặc một nhóm cộng đồng người dùng” (Raitt, 1999)

 Hai học giả người Nga là Sokolova và Liyabev cho rằng TVS là một hệ thống phân tán có khả năng lưu trữ và tận dụng hiệu quả các loại tài liệu điện tử khác

Trang 6

nhau, mà giúp người dùng có thể truy cập và được chuyển giao thông tin dễ dàng qua mạng máy tính (Xiao, 2003)

 Theo Th.s Cao Minh Kiểm “TVS là một thực thể, là một thư viện được

tổ chức theo những phương thức mới và với nguồn tài liệu ngày càng đa dạng, có chất lượng phục vụ ngày càng cao, thời gian phục vụ ngày càng lớn”

 Theo Bùi Loan Thùy, Lê Văn Viết: “TVS là thư viện chứa đựng các thông tin và tri thức được lưu trữ dưới dạng điện tử số trên các phương tiện khác nhau:

bộ nhớ điện tử, đĩa quang, đĩa từ”

Mặc dù có sự khác nhau về lý giải trong nhiều định nghĩa, nhưng những đĩnh nghĩa này lại tương tự nhau về mặt bản chất cốt yếu Tóm lại TVĐT – TVS phải đạt các yêu cầu sau:

 Phục vụ một cách tốt nhất một cộng đồng hay một tập hợp cộng đồng người dùng tin xác định nào đó

 Không phải là một thực thể đơn độc

 Được cấu tạo bởi một cấu trúc thống nhất, logic và tổ chức

 Kết hợp giữa việc học tập, giáo dục và quá trình truy cập

 Tận dụng tối đa yếu tố con người (cán bộ thư viện) cũng như các yếu tố công nghệ

 Tạo sự truy cập thông tin nhanh chóng và hiệu quả cùng với một loạt các phườn thức truy cập đa chiều

 Cung cấp truy cập miễn phí (có thể đối với một cộng đồng người dùng tin xác định)

 Sở hữu quản lý và kiểm soát được các nguồn tài nguyên thông tin của mình (cũng có thể phải mua ở bên ngoài)

 Có một tập hợp nguồn tài nguyên thông tin với các đặc điểm sau:

+ Lớn và luôn ổn định

+ Được tổ chức và quản trị tốt, chủ yếu bằng máy tính và mạng truyền thông đa dịch vụ

+ Có nhiều khổ mẫu, khuôn dạng khác nhau

+ Có nhiều đối tượng số, bao gồm các đối tượng được trình bày và không được trình bày trên màn hình máy tính

+ Bao gồm cả các đối tượng được số hóa không thuộc quyền sở hữu của thư viện

+ Bao gồm cả các đối tượng được số hóa từ các nguồn tin gốc dạng phi

số

Có thể nói rằng “TVS hay thư viện trực tuyến là thư viện mà ở đó các bộ sưu tập được lưu trữ dưới dạng số (tương phản với các định dạng in, vi dạng, hoặc các phương tiện khác) và có thể truy cập bằng máy tính Nội dung số có thể được lưu trữ

Trang 7

cục bộ hoặc truy cập từ xa qua mạng máy tính TVS là một loại hệ thống truy hồi thông tin - Information Retrieval System.”

Có thể nói TVĐT là một hệ thống thông tin tự động hoá mà ở đó người ta có thể thu thập, xử lý, lưu trữ, tìm kiếm và phổ biến các tài liệu dưới dạng số hoá thông qua các phương tiện của công nghệ thông tin và truyền thông

1.1.2 Cấu trúc của TVĐT

Các TVĐT đều được thiết kế trên một trang Web, mà ở đó ngoài các mục giới thiệu chung như giới thiệu về cơ quan, về thư viện, về các công cụ trợ giúp thì phần chủ là nội dung, tức là giới thiệu tới các nguồn tài nguyên thông tin

Tài nguyên thông tin này thường bao gồm:

 Các thông tin chuyên đề

 Các cơ sở dữ liệu

 Các nguồn tài nguyên thông tin liên kết trên mạng

Các thông tin chuyên đề được thể hiện dưới dạng một danh mục các chủ đề Từ mỗi chủ đề này ta có thể vào những mục, tiểu mục với các thông tin là những bài viết

đề cập đến những vấn đề mà người dùng tin quan tâm Các xuất bản phẩm điện tử (tạp chí, bản tin, kỷ yếu ) thường được tổ chức sắp xếp theo kiểu này Những nội dung thông tin này có mối liên kết nhiều chiều với nhau theo kiểu kết nối siêu văn bản, tạo thuận lợi cho người sử dụng có thể tiếp cận dễ dàng

Các CSDL bao gồm các CSDL nội sinh của thư viện và cả những CSDL nhập

từ bên ngoài Các CSDL này được sắp xếp trong một danh mục theo vần chữ cái Để tìm tin trong CSDL nào đó, người sử dụng chỉ việc kích chuột vào tên CSDL tương ứng Một giao diện tìm kiếm sẽ hiện ra và người sử dụng có thể thực hiện các thao tác tìm trên đó Người dùng tin có thể tiếp cận các CSDL này theo nhiều mức độ: từ thư mục tới toàn văn

Các nguồn tài nguyên thông tin liên kết trên mạng là các nguồn thông có được trong sự hợp tác với các cơ quan thông tin, các TVĐT khác Chúng được tích hợp vào

hệ thống và được khai thác trong một thể thống nhất Để truy cập tới các thông tin này cần có sự hỗ trợ của các công cụ tìm kiếm (search engine)

Tóm lại, cấu trúc của TVĐT là cấu trúc của một trang Web có liên kết đến các nguồn thông tin số hoá, trong đó quan trọng nhất là các CSDL toàn văn Các nguồn tài liệu số hoá này được sưu tầm và được tổ chức theo một cơ chế thống nhất sao cho có thể dễ dàng truy cập, sao chép trên các mạng thông tin viễn thông

Trang 8

1.1.3 Cơ sở hạ tầng của TVĐT

TVĐT đòi hỏi phải có cơ sở hạ tầng kỹ thuật đủ mạnh, bao gồm:

 Mạng Intranet có tốc độ kết nối nhanh với Internet

 Hệ thống máy chủ lớn thực hiện các chức năng quản trị khác nhau như: web, mail, truyền tệp, lưu và bảo trì dữ liệu

 Hệ thống máy trạm để cập nhật và khai thác thông tin

 Các thiết bị công nghệ chuyên dụng như: máy quét, máy in, máy sao CD, thiết bị

in và đọc mã vạch

1.1.4 Xây dựng kho tài liệu số hóa

Phần cốt lõi của TVĐT là kho tài liệu số hoá Vì vậy xây dựng kho tài liệu số

hoá được coi là công việc quan trọng hàng đầu trong xây dựng TVĐT

Quy trình để xây dựng kho tài liệu số bao gồm:

 Lựa chọn tài liệu đầu vào

 Lựa chọn công nghệ thực hiện

 Số hóa nguồn tài liệu

 Tạo siêu dữ liệu liên kết

Kho tài liệu này có thể xây dựng theo ba cách sau đây:

 Chuyển đổi một phần tài liệu của thư viện sang dạng số bằng phương pháp quét hay nhập lại thông tin từ bàn phím Việc số hoá toàn bộ tài liệu của thư viện là một việc làm ảo tưởng Vì vậy cần xác định mức độ ưu tiên của tài liệu cần chuyển đổi, như: tài liệu có giá trị sử dụng cao, tài liệu quý hiếm, tài liệu mới

 Sưu tầm các nguồn tài liệu điện tử mới bằng cách mua, trao đổi các tài liệu điện tử

đã xuất bản, hoặc tải về từ Web Trong trường hợp sau phải lưu ý đến vấn đề bản quyền

 Xây dựng các liên kết, tạo khả năng truy nhập đến các nguồn thông tin trên Internet, nhất là nguồn của các cơ quan có cùng dạng chuyên đè bao quát Tạo lập

và phát triển kho tài liệu số hoá là vấn đề đề lớn nhất trong xây dựng TVĐT công việc nay đòi hỏi phải có đầu tư lớn về công sức và tài chính

Trang 9

1.2 Đặc điểm của TVĐT

Ngày nay cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và kỹ thuật số, chúng

ta không chỉ được học tập kiến thức tại lớp mà còn có thể dung nạp kiến thức trên Internet Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng tìm kiếm được những kiến thức cần thiết phục vụ cho việc học tập Với những ưu điểm vượt trội, Thư viện điện tử ITC sẽ mang đến những kiến thức cần thiết, trọng tâm phục vụ cho việc học tập và phát triển các kỹ năng của sinh viên ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường

Những đặc điểm của TVS bao gồm:

• Khả năng lưu trữ khối lượng lớn tài nguyên thông tin khác nhau;

• Khả năng lưu trữ và chuyển giao tài nguyên thông tin bằng nhiều phương tiện khác nhau;

• Khả năng chuyển giao tài nguyên thông tin qua mạng;

• Khả năng quản lý tài nguyên thông tin phân tán;

• Khả năng chia sẻ thông tin ở cấp độ chuyên biệt cao;

• Có công nghệ tìm kiếm và truy xuất thông minh;

• Cung cấp dịch vụ thông tin không giới hạn thời gian và không gian

1.3 Tình hình phát triển TVĐT trên thế giới

Thư viện là kho tàng tri thức của xã hội, trên thế giới thư viện đã hình thành từ lâu đời và nó đã lưu giữ kho tàng tri thức quý báu của nhân loại, có người còn cho rằng thư viện là đền đài của văn hóa và sự uyên thâm Được hình thành trong thời kỳ nông nghiệp thống trị trong tư duy của nhân loại, thư viện đã trải nghiệm qua một cuộc hồi sinh với việc phát minh ngành in trong thời kỳ phục hưng, và thực sự bắt đầu khi cuộc cách mạng công nghiệp bùng phát với hàng loạt những phát minh cơ giới hóa quy trình in ấn Theo thời gian thì thư viện cũng ngày càng được phát triển và hiện đại

từ các thư viện truyền thống thủ công hiện nay thư viện đã dần chuyển sang loại hình TVS với sự đóng góp chủ đạo là ứng dụng công nghệ thông tin vào các công tác quản

lý nghiệp vụ chuyên ngành, nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong công tác thư viện TVS là một khái niệm khá phổ biến hiện nay trên thế giới được biết đến với các khái niệm như: số hóa tài liệu, phần mềm TVS, dữ liệu và siêu dữ liệu

Từ đầu những năm 1990, cộng đồng TVS thế giới bước vào một thập kỷ bùng

nổ của nghiên cứu và phát triển TVS dựa trên nền tảng Internet và công nghệ Web (được phát triển rộng từ 1990) vào giữa thập kỷ này xuất hiện các dự án xây dựng TVS như:

Trang 10

❖ Nghiên cứu thư viện ở Mỹ

Dự án sáng kiến TVS ở Mỹ được thực hiện dưới sự điều phối của sáng kiến HPPC – High Perforrmance Computing Comunication Dự án sáng kiến TVS là một sáng kiến nghiên cứu phát triển của Mỹ Dự án gồm 2 giai đoạn với tổng số vốn đầu

tư là 68 triệu USD (giai đoạn 1 từ 1994 – 1998, giai đoạn 2 từ 1999 -2004) tập trung nghiên cứu các lĩnh vực sau:

✓ Thu nhận dữ liệu và siêu dữ liệu dưới mọi dạng (toàn văn, hình ảnh, âm thanh…), phân loại và tổ chức chúng

✓ Phần mềm và thuật toán cao cấp cho tra cứu, tìm kiếm, lọc dữ liệu, tóm tắt, kết hợp mọi dạng dữ liệu

✓ Phần mềm và thuật toán cao cấp cho tra cứu, tìm kiếm, lọc dữ liệu, tóm tắt, kết hợp mọi dạng dữ liệu

✓ Sử dụng các CSDL phân tán

✓ Phối hợp nghiên cứu TVS quốc tế

Đây là chương trình nghiên cứu TVS liên thông giữa nhiều trường đại học khác nhau ở Mỹ Nó bao gồm nhiều chủ đề và nhiều phương phương tiện, nhiều dạng sưu tập và nhiều công nghệ mới đã được ứng dụng

Ngoài dự án sáng kiến TVS, ở Mỹ còn thành lập nhiều trung tâm nghiên cứu TVS sau: Trung tâm tìm kiếm thông tin thông minh – CIIR; Trung tâm nghiên cứu TVS – CSDL; Trung tâm văn bản điện tử tạ đại học Virginia – ETC; Dựa án hạ tầng thông tin Harvard – HIIP; Trung tâm quản trị, tích hợp, kết nối thông tin Rutger – CIMIC

❖ Dự án nghiên cứu TVS ở Anh

Bước sang những năm 90 của thế kỷ XX, các nguồn tin điện tử có vai trò quan trọng trong các trường đại học và có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các thư viện

Do đó, các chương trình nghiên cứu TVS ở Anh chủ yếu tập trung vào khu vực giáo dục đại học

Dự án Elib do ủy ban hệ thống thông tin liên kết thông tin điện tử (JSC) điều hành được đầu tư 15 triệu bảng cho 3 năm đầu tiên (1995-1997) nhằm ứng dụng CNTT để đáp ứng nhu cầu chuyển đổi của thư viện đại học, giai đoạn 3 để hình thành

dự án

✓ Giai đoạn 1 của dự án tập trung vào 7 chương trình nghiên cứu sau: Truyền phát thông tin điện tử; Lưu trữ tài liệu điện tử dạng sách và dạng báo (số hóa); Báo điện tử; Xuất bản theo yêu cầu và sách điện tử; Nhận thức và đào tạo; Các công

cụ định hướng (truy cập tới các tài nguyên thông tin trên mạng); Hỗ trợ học tập

✓ Giai đoạn 2 bao gồm: Thông tin trước khi in ấn; Quản lý chất lượng; Mượn tài liệu điện tử; Ảnh số

✓ Giai đoạn 3 tập trung vào 4 vấn đề chính sau: Các thư viện lai; Phát hiện nguồn tin; Bảo quản; Phát triển dịch vụ TVS với sự tham gia của 21 tổ chức

Trang 11

Ngoài ra, ở Anh còn có hàng loạt các dự án nghiên cứu TVS khác như CDLR, ASPECT, BUBLE, EBONNI, SCONE

1.4 Tình hình phát triển TVĐT ở Việt Nam

Trên thế giới TVS được hình thành và phát triển từ những năm 90 của thế kỷ

XX Tại Việt Nam TVS vẫn chưa hoàn toàn được chú tâm phát triển, có thể nói Việt Nam chưa có một TVS hoàn toàn Thư viện lai vẫn là mô hình hoạt động chủ đạo của toàn bộ các hệ thống thư viện đại học, công cộng Ở Việt Nam người ta biết đến khái niệm TVĐT nhiều hơn là khái niệm TVS Trong gần một thập kỷ nay việc nghiên cứu TVS bắt đầu được quan tâm chú ý Rất nhiều thư viện lớn trên khắp cả nước đã bắt tay vào triển khai dự án TVS như dự án TVĐT trường Đại học Bách Khoa - 200 tỷ đồng bao gồm cả xây dựng TVĐT – thư viện Hà Nội 10 tỷ đồng, thư viện đại học Thái Nguyên 14 tỷ đồng, TVĐT trường Đại học Khoa học Tự nhiên thành phố Hồ Chí Minh Tại miền trung có 2 trung tâm lớn đó là trung tâm học liệu – Đại học Huế và trung tâm thông tin tư liệu đại học Đà Nẵng Trung tâm thông tin tư liệu đại học Đà Nẵng với dự án xây dựng TVĐT hiện đại nhất Việt Nam nhằm giúp sinh viên không những truy cập tới TVĐT của trường mà còn vươn tới 10.000 TVĐT, TVS trên toàn thế giới Các TVS này là bước đi khởi đầu để tiến tới hình thành các TVS cho các trường đại học và các thư viện lớn khác trên toàn quốc

Qua 2 thập kỷ có thể thấy hai giai đoạn chính của sự phát triển TVS Việt Nam:

✓ Giai đoạn 1990 – 2000: xây dựng hạ tầng phần cứng bao gồm tự động hóa hoạt động biên mục, tạo lập, quản trị CSDL thư mục và toàn văn cung cấp dịch vụ tìm tin (ứng dụng phần mềm CDS/ISIS), xây dựng hệ thống mạng LAN – WAN và kết nối mạng Internet vào năm 1997

✓ Giai đoạn 2000 – 2001: Xây dựng hạ tầng phần mềm, bắt đầu phát triển nội dung số bao gồm tự động hóa toàn bộ chu trình hoạt động thư viện, chuyển đổi CSDL thư mục và toàn văn qua mạng Internet

Đặc biệt ở giai đoạn sau, các thư viện Việt Nam đã triển khai được một số nội dung như sau:

✓ Chính sách phát triển TVS đã được cụ thể hóa bằng văn bản của nhà nước và chính phủ như: Pháp lệnh thư viện ngày 28/12/2000, Nghị định 72/2002 NĐ-

CP ngày 6/8/2002; Quyết định 33/2002/QĐ/TTG; Thông tư liên tịch 04/2002/TTLT/BVHTT-BTC; Quyết định 10/2007/QĐ-BVHTT…

✓ Kinh phí: một số thư viện đã nhận được khoản kinh phí lớn của nhà nước, vốn vay và tài trợ nước ngoài cho các dự án TVS như cục thông tin và Khoa học và Công nghệ quốc gia (NASATI), Thư viện quốc gia Việt Nam và hệ thống thư viện công cộng, thư viện đại học Quốc gia Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh và hệ thống thư viện đại học, các trung tâm học liệu Đà Nẵng, Huế, Thái Nguyên, Cần Thơ

Trang 12

✓ Hạ tầng phần cứng: với kinh phí đầu tư cơ sở vật chất, hệ thống máy tính được nối mạng Internet tốc độ cao đã được trang bị cho tất cả các hệ thống thư viện cũng như các thiết bị số hóa tài liệu

✓ Cung cấp CSDL thư mục và toàn văn cho người dùng tin

✓ Đào tạo người dùng tin sử dụng các dịch vụ thư viện

Nhìn chung TVS ở Việt Nam đã bước đầu hình thành được nền tảng và trên đà hình thành phát triển Với sự tiếp thu các thành tựu khoa học thư viện của thế giới, TVS Việt Nam đã bước đầu áp dụng thành công các thành tựu khoa học thư viện vào việc xây dựng cơ sở vật chất, số hóa vốn tài liệu, tạo lập các dịch vụ thư viện, đào tạo nguồn nhân lực và người dùng tin Đặc biệt các thư viện đã đầu một khoản kinh phí khá lớn cho việc mua các phần mềm TVS để xây dựng các nghiệp vụ thư viện, số hóa tài liệu và phục vụ người dùng tin Ngoài sự đầu tư phấn đấu nỗ lực của các cán bộ thư viện thì TVS được xây dựng cũng là một phần có sự đóng góp sự chỉ đạo đầu tư tài chính của đảng nhà nước ta Đảng và nhà nước đã chỉ đạo các thư viện phát triển theo tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác – Lê Nin Ngoài ra còn phải kể tới sự đóng góp của các tổ chức nước ngoài về đầu tư tài chính và sự đóng góp về kinh nghiệm xây dựng TVS Nói chung TVS ở Việt Nam đã hình thành đang và sẽ ngày càng phát triển hơn nữa trong tương lai không xa

Trang 13

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TẠI HỌC

VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

2.1 Giới thiệu chung về TVĐT Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông 2.1.1 Trung tâm thông tin thư viện Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn

thông (Cơ sở Hà Đông - Hà Nội)

Hình 2.1: Giao diện Trung tâm thông tin thư viện

Tên giao dịch bằng tiếng Anh: Information and Library Center - Posts and Telecommunications Institute of Technology (ILC - PTIT)

 Địa chỉ: Km10, Nguyễn Trãi, Hà Đông, Hà Nội

2.1.1.1 Lịch sử hình thành và chức năng nhiệm vụ của Trung tâm Thông tin

Thư viện - HVCNBCVT

❖ Lịch sử hình thành

 Trung tâm Thông tin - Thư viện HVCNBCVT thành lập theo Quyết định số 397/TCCB ngày 30/5/2006 của Giám đốc Học viện trên cơ sở sáp nhập bộ phận Thư viện của Phòng Quản lý đào tạo, Trung tâm Internet Plaza và Trung tâm Internet A3 thuộc Khoa Công nghệ Thông tin 1

 Từ năm 2009, Trung tâm quản lý cả phòng Thí nghiệm - Thực hành của Học viện ở Cơ sở Hà Đông, Hà Nội

❖ Chức năng của Trung tâm

Trang 14

 Quản lý chuyên môn, nghiệp vụ về thông tin - thư viện trong toàn Học viện; tổ chức và quản lý công tác thông tin - thư viện phục vụ hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học tại Cơ sở Hà Đông

 Quản lý, tổ chức khai thác, sử dụng trang thiết bị thí nghiệm - thực hành do Học viện giao phục vụ hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học tại Cơ sở Hà Đông

 Xây dựng, quản lý và phát triển hệ thống mạng Internet, các ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ cho công tác quản lý, đào tạo và nghiên cứu khoa học tại Khối Quản lý và Đào tạo phía Bắc (Khối)

Hà Đông; xây dựng, quản lý và phát triển cơ sở hạ tầng hệ thống mạng Internet, các

ứng dụng công nghệ thông tin tại Khối

 Xây dựng kế hoạch bổ sung, sửa chữa, bảo dưỡng trang thiết bị, các ứng dụng

công nghệ thông tin, sách, giáo trình, tạp chí, vv tại Cơ sở Hà Đông

 Tổ chức, quản lý tài sản theo sự phân cấp của Giám đốc Học viện; bảo quản, kiểm kê định kỳ vốn tài liệu, trang thiết bị và tài sản khác; tiến hành thanh lọc, thanh

lý các tài liệu lạc hậu, hư nát, các trang thiết bị đã hết khấu hao theo quy định

 Nghiên cứu ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến và công nghệ

thông tin vào công tác thư viện, công tác thí nghiệm - thực hành

 Thực hiện báo cáo tình hình hoạt động hàng năm và báo cáo đột xuất khi có

yêu cầu của các cơ quan có thẩm quyền và Học viện

 Xây dựng các quy định quản lý theo chức năng, nhiệm vụ được giao Tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, tổng kết đánh giá, xử lý vi phạm văn bản quản lý đã

được ban hành

2.1.1.2 Đội ngũ cán bộ

Hiện số cán bộ của Trung tâm thông tin thư viện là 08 người Phần lớn cán bộ Trung tâm có trình độ Đại học trở lên: 01 thạc sỹ chuyên ngành thông tin thư viện, 01 thạc sỹ Quản trị kinh doanh, 02 cử nhân chuyên ngành thông tin thư viện, 04 đại học chuyên ngành khác, đã được học lớp nghiệp vụ thông tin thư viện

2.1.1.3 Trang thiết bị và cơ sở vật chất

Trang 15

Trung tâm thông tin thư viện có tổng diện tích là hơn 600 m2 gồm: các phòng Đọc, Mượn và kho sách; phòng Nghiệp vụ và Văn phòng tại tầng 1 nhà A3; phòng Internet Plaza tại nhà A1 cơ sở Hà Đông

❖ Các thiết bị tin học gồm có:

 Hệ thống máy chủ sử dụng chung tại Data Center của Học viện

 Trung tâm Internet Plaza: 50 máy tính

 Phòng đọc, phòng mượn Thư viện: 10 máy tính

 Phòng Nghiệp vụ và Văn phòng:4 máy tính

 Trung tâm đã tham gia mạng VinaREN từ năm 2009

Tất cả các máy tính đều được nối mạng LAN và Internet

❖ Sơ đồ vị trí các phòng chức năng thuộc Trung tâm thông tin thư viện

2.1.1.4 Nguồn lực thông tin

Trung tâm thông tin thư viện luôn chú trọng bổ sung các tài liệu tập trung sâu vào các chuyên ngành Viễn thông, Công nghệ thông tin, Quản trị kinh doanh phù hợp các chương trình đào tạo của Học viện

Thư viện hiện có 5.126 tên tài liệu với 42.200 bản trong đó:

 Sách tiếng Việt: 1.405 tên với 18.887 bản;

 Sách ngoại văn: 2.005 tên sách với 2.536 bản

 Tạp chí Tiếng Việt có 37 tên, tạp chí Ngoại văn có 12 tên

 Các bài giảng điện tử dạng Slide và toàn văn; các CD-ROM luận án và luận văn

2.1.1.5 Sản phẩm của thông tin thư viện

Trang 16

Trung tâm thông tin thư viện đã tạo lập được hệ thống các sản phẩm và dịch vụ thông tin phù hợp với các đối tượng dùng tin trong Học viện Bao gồm các sản phẩm sau:

❖ Bộ máy tra cứu truyền thống:

 Hệ thống mục lục truyền thống: gồm mục lục chữ cái và mục lục phân loại

 Thư mục sách mới: Giới thiệu các sách mới nhập về Thư viện

❖ Sản phẩm thông tin thư viện hiện đại:

 Mục lục truy nhập công cộng trực tuyến (OPAC – Online Public Access Catalog): Hỗ trợ bạn đọc tìm kiếm thông tin về các ấn phẩm có trong thư viện

 Cơ sở dữ liệu thư mục: hơn 3.300 biểu ghi, được xây dựng trên phần mềm Libol 6.0 với các chuẩn AACR2, DDC14, MARC21

 TVS: các slide bài giảng, tóm tắt luận văn ThS, luận án TS đã bảo vệ thành công tại Học viện; các bài báo khoa học đã công bố

2.1.2 Tra cứu OPAC

2.1.2.1 Giới thiệu về OPAC

Hình 2.2: Giao diện phân hệ OPAC Thư viện HVCNBCVT

OPAC (Online Public Access Catolog) – Mục lục công cộng truy cập trực

tuyến – Là cổng thông tin chung cho mọi đối tượng bạn đọc để khai thác tài nguyên

và dịch vụ thư viện theo cách riêng phù hợp với nhu cầu của từng cá nhân Là môi trường giao tiếp và trao đổi thông tin giữa bạn đọc với nhau, giữa bạn đọc với thư viện

và giữa bạn đọc với các thư viện khác

OPAC có khả năng tìm kiếm nhanh, hỗ trợ đa ngôn ngữ theo bảng mã và font chữ Unicode Ngoài ra, OPAC còn cho phép bạn đọc kiểm tra về tình trạng mượn của

Ngày đăng: 27/05/2021, 22:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Lân Trung (2004), Đổi mới phương pháp giảng dạy, nhu cầu cấp bách để nâng cao chất lượng đào tạo: Tham luận tại Hội thảo “Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam – Hội nhập và thách thức” - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp giảng dạy, nhu cầu cấp bách để nâng cao chất lượng đào tạo: Tham luận tại Hội thảo “Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam – Hội nhập và thách thức”
Tác giả: Nguyễn Lân Trung
Năm: 2004
[2] Đỗ Trung Tá (2004), Ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông để đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam: Tham luận tại Hội thảo “Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam – Hội nhập và thách thức” - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông để đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam: Tham luận tại Hội thảo “Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam – Hội nhập và thách thức”
Tác giả: Đỗ Trung Tá
Năm: 2004
[4] Giải pháp tìm kiếm và khai thác thông tin cho các thư viện trong kỷ nguyên Internet – bài đăng trên tạp chí Thông tin thư viện, số 3/2015, trang 15-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp tìm kiếm và khai thác thông tin cho các thư viện trong kỷ nguyên Internet
[5] Xu hướng phát triển Thư viện đại học trên thế giới và quá trình đổi mới hoạt đọng tại trung tâm thông tin thư viện trường Đại học Quốc gia Hà Nội (Kỷ yếu Hội thảo khoa học và thực tiễn Thông tin – Thư viện lần 2, tháng 2/2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng phát triển Thư viện đại học trên thế giới và quá trình đổi mới hoạt đọng tại trung tâm thông tin thư viện trường Đại học Quốc gia Hà Nội
[3] Nguyễn Hoàng Sơn, TVS: Hai thập kỷ phát triển trên thế giới, bài học kinh nghiệm và định hướng phát triển cho Việt Nam Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w