1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chuong 3 Nuoc va su song

16 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệt độ bay hơi của nước cao là tính chất mới xuất hiện gây ra bởi các liên kết hydro, trong đó cần phải phá vỡ các liên kết giữa các phân tử nước trước khi có chúng có[r]

Trang 1

3.1 Phân cực trong phân tử nước, khái niệm

về liên kết hydro

3.2 Bốn đặc tính nổi bật của nước góp phân

tạo nên sự sống trên Trái Đất

3.3 Tính axit và bazo ảnh hưởng tới sự sống

của sinh vật

PHÂN TỬ HỖ TRỢ TOÀN BỘ SỰ

SỐNG

hư các nhà thiên văn học nghiên cứu

hành tinh mới được phát hiện quanh

quanh các ngôi sao ở xa, họ hy vọng

sẽ tìm thấy bằng chứng của nước trên các thiên

thể xa xôi, nước là chất tạo ra sự sống như

chúng ta đã biết về nó trên Trái Đất Tất cả các

sinh vật quen thuộc với chúng ta hoạt động

được chủ yếu là nhờ nước Nước là môi trường

sinh học trên Trái Đất, và có thể có trên các

hành tinh khác là một điều rất tốt

Ba phần tư bề mặt của trái đất chìm trong

nước (Hình 3.1) Mặc dù hầu hết nước đều ở

trạng thái lỏng, nhưng nước trên Trái Đất còn

ở dạng băng và hơi Nước là chất thông thường

chỉ tồn tại trong môi trường tự nhiên ở cả ba

trạng thái của vật chất: rắn, lỏng, khí Sự

phong phú của nước là một trong những lý do

chính tạo nên sự sống trên Trái Đật Trong một

cuốn sách cổ có tên: Sự thích hợp của môi

trường, nhà sinh thái học Lawrence Henderson

nhấn mạnh tầm quan trọng của nước đối với sự

sống Trong khi thừa nhận rằng sự sống thích

nghi với môi trường của nó thông qua chọn lọc

tự nhiên, Lawrence Hénderson nhấn mạnh

rằng môi trường tồn tại ở mọi nơi, môi trường phải là nơi thích hợp nhất

Cuộc sống trên Trái Đất bắt đầu trong nước

và phát triển trong 3 tỉ năm trước khi lan rộng vào đất Cuộc sống hiện đại, trên mặt đất thậm chí cả ở trong đất cuộc sống vẫn còn gắn liền với nước Một sinh vật sống cần nhiều nước hơn so với bất kỳ chất nào khác Ví dụ, con người có thể sống sót trong một vài tuần mà không có thức ăn, nhưng chỉ có thể sống trong một tuần hoặc lâu hơn nến không có nước Phân tử nước tham gia trong nhiều phản ứng hóa học cần thiết để duy trì sự sống Hầu hết các tế bào được bao quanh bởi nước, và bản thân các tế bào đó chứa khoảng 75% là nước

Những thuộc tính đó có phải cho phép nó dễ dàng thực hiện các chức năng như là sự hỗ trợ cho tất cả các sinh vật ? Trong chương này, bạn sẽ tìm hiểu cấu trúc của một phân tử nước như thế nào mà cho phép nó tương tác với các phân tử khác, bao gồm cả các phân tủ nước khác Khả năng này dẫn đến hình thành các tính chất độc đáo hỗ trợ và duy trì cơ thể sống trên hành tinh của chúng ta

3.1

PHÂN CỰC TRONG PHÂN TỬ NƯỚC, KHÁI NIỆM VỀ LIÊN KẾT HYDRO

Nước đã trở nên rất phổ biến điều đó làm nó

dễ dàng bị bỏ qua thực tế cho rằng nó là một chất đặc biệt với nhiều tính chất phi thường Kết thúc chương này thì các đặc tính sẽ hiện

ra, chúng ta có thể phát hiện ra các cấu trúc

N

CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH

TỔNG QUAN

 Hình 3.1: Tại sao sự phong phú của nước cho phép sự sống tồn tại được trên Trái Đất?

KHÁI NIỆM

Trang 2

đặc biệt của nước và sự tương tác giữa các

phân tử của nó

Nghiên cứu ở sự cách ly, các phân tử nước

có cấu trúc thật đơn giản Đó là một cái gì đó

giống hình chữ V rộng với hai nguyên tủ hydro

liên kết với các nguyên tử oxi bằng liên kết

cộng hóa trị Nguyên nhân là do độ âm điện

của oxi cao hơn của hydro, các electron của

các liên kết hóa trị lệch về phía oxi nhiều hơn

hydro, nói cách khác là chúng liên kết cộng

hóa trị phân cực ( xem hình 2.13) Do sự phân

bố không đồng điều của các điện tử làm cho

phân tử nước bị phân cực, có nghĩa là hai đầu

của phân tử nước có sự tích điện: Đầu oxi của

phân tử nước tích điện âm (-), và phân tử

hydro của phân tử nước tích điện dương (+)

Các tính chất đặc biệt của các phân tử nước

phát sinh tử sự hấp dẫn giữa các phân tử của

nó: hydro trong phân tử nước tích điện dương

hút oxi mang điện tích âm của các phân tử gần

đó

Hai phân tử nước liên kết với nhau bằng một

liên kết hydro ( hình 3.2) Khi nước ở trạng

thái lỏng, nước hình thành các liên kết hydro, các liên kết hydro của nước rất dễ bị gãy , lực liên kết chỉ bằng 1/20 lực liên kết cộng hóa trị Các liện kết hydro hình thành từ sự phá vỡ và liên kết lại vởi tần số rất lớn Mỗi liên kết chỉ kéo dài một phần ngàn tủ trên một giây, nhưng các phân tử nước liên tục hình thành các liên kết hydro với một loạt các phân tử khác Vì vậy, ngay sau đo phần lớn các phân tử nước lại liên kết hydro với các phân tử xung quanh Những tính chất độc đáo của nước đã hiện ra

từ liên kết giữa các phân tử lớn hơn so với trình tự cấu tạo của nó

BỐN ĐẶC TÍNH NỔI BẬT CỦA NƯỚC GÓP PHẦN TẠO NÊN SỰ SỐNG TRÊN TRÁI ĐẤT

Chúng ta tìm hiểu bốn thuộc tính đặc trưng của nước đóng góp vào sự phù hợp cho môi trương sống trên Trái Đất: khả năng gắn kết,

có nhiệt độ ổn định, tan chảy sau khi bị đóng băng và linh hoạt như một dung môi

Khả năng gắn kết

Các phân tử nước ở gần nhau là một kết quả của liên kết hydro Mặc dù sự sắp xếp các phân

tử trong một mẫu nước ở dạng lỏng luôn thay đổi liên tục, tại bất kỳ thời điểm nào, trong phân tử nước có nhiều liên kết hydro trái dấu

Hình: 3.2: Liên kết trái dấu giữa các phân

tử nước Những nơi tích điện của phân tử

nước phân cực sẽ hút các phần điện trái dấu

của các phân tử xung quanh Mỗi phân tử có

thể liên kết với nhiều phân tử khác bằng liên

kết hydro và sự kết hợp này thay đổi liên tục

KHÁI NIỆM 3.2

Trang 3

Nhưng mỗi liên kết này làm cho nước có cấu

trúc hơn so với hầu hết các chất lỏng khác Nói

chung, liên kết hydro giữ cho các chất liên kết

lại với nhau, hiện tượng đó gợi là sự liên kết

Nhờ sự gắn kết của liên kết hydro đã góp

phần vào việc vận chuyển nước và chất dinh

dưỡng hòa tan có thể chống lại được trọng lực

ở trong thực vật (hình 3.3) Nước vận chuyển

từ rễ lên lá nhờ một mạng lưới các tế bào dẫn

nước Khi nước bay hơi từ lá, các liên kết

hydro gây ra một lực kéo rất mạnh lên các

phân tử nước có trong gân lá, các phân tử xa và

kéo mước lên trên qua hoạt động của các tế

bào nhờ các con đường ở rễ Độ dính bám, sự

đeo bám của một chất khác, cũng đóng vai trò

quan trọng Sự bám dính của các phân tử nước

lên thành tế bào bằng liên kết hydro giúp

chống lại sự hút lại của lực hấp dẫn ( xem hình

3.3)

Sự gắn kết liên quan đến sức căng bề mặt,

một phương pháp khó làm sao để có thể kéo

dài và phá vỡ bề mặt của một chất lỏng Nước

có sức căng bề mặt lớn hơn so với hầu hết các

chất lỏng khác Nơi tiếp xúc giữa không khí

và nước là một sự sắp xếp có trật tự các phân

tử nước, liên kết hydro gắn kết các phân tử nước xung quanh và các phân tử nước ở phía dưới Điều này làm cho nước như thể được phủ một lớp màng Bạn có thể quan sát sức căng bề mặt của nước Một số ví dụ sinh học, một số loài động vaakt có thể đứng, đi bộ, chạy trên mặt nước mà không làm vỡ sức căng bề mặt

Nước điều hũa nhiệt độ khụng khớ bằng cỏch hấp thụ nhiệt độ cao trong khụng khớ và giải phỳng hơi nỳng lưu trữ để làm mỏt khụng khớ Nước cỳ hiệu quả như một nhà chứa nhiệt bởi vỡ nỳ cỳ thể hấp thụ hoặc tỏa ra một lượng nhiệt tương đối lớn trong sự thay đổi nhỏ nhiệt

độ riờng của nỳ Để hiểu được chức năng này của nước, trước hết chỳng ta phải xem xột sự nỳng và nhiệt độ trong một thời gian ngắn

Sự nóng và nhiệt độ

Bất cứ vật gì khi di chuyển sẽ tạo ra động năng, dạng năng lượng trong chuyển động Nguyên tử và phân tử có năng lượng động năng vì chúng là vật luôn chuyển động cho dù không cần thiết phải theo một hướng cụ thể nào Phân tử nào chuyển động nhanh hơn động

Hình: 3.3: Vận chuyển nước trong cây Sự

bay hơi từ lá kéo nước lên từ rễ nhờ các tế bào

thực hiện Bởi vì các tính chất gắn kết, bám

dính Cây cao cần vận chuyển nước lên hơn

100m, khoảng ¼ chiều cao của tòa nhà Empire

tại thành phố New York

Hình: 3.4: Đi bộ trên nước Sức căng bề mặt

là kết quả từ liên kết hydro trong phân tử nước

cho phép Nhện nước có thể đi bộ trên ao

Trang 4

năng của nó cao hơn Nhiệt là một dạng năng

lượng Đối với một vật của vật chất, lượng

nhiệt là thước đo năng lượng động lực của vấn

đề do chuyển động của các phân tử, do đó

nhiệt phụ thuộc một phần vào khối lượng của

vật chất Mặc dù sự nóng có liên quan đến

nhiệt độ, chúng không phải là điều giống nhau

Nhiệt độ là một cách đại diện cho cường độ

năng lượng trung bình động năng của các phân

tử bất cứ ở một khối lượng nào, Khi nước được

đun nóng trong máy pha cà phê, tốc độ trung

bình của các phân tử tăng lên và nhiệt kết ghi

lại điều này thể hiện sự gia tăng nhiệt độ của

chất lỏng Nhiệt lượng cũng tăng lên trong

trường hợp này Lưu ý, mặc dù bình cà phế có

nhiệt độ cao hơn nhiều so với trong bể bơi tuy

nhiên ta vẫn nói rằng: bể bơi có chứa nhiều

nhiệt hơn vì khối lượng của nó lớn hơn rất

nhiều

Khi ta cho hai vật nào có nhiệt độ khác nhau

đưa gần nhau thì sự nóng truyền từ ấm hơn

sáng các vật mát hơn cho tới khi hai vật có

nhiệt độ cúng nhau Các phân tử trong vật mát

hơn tăng tốc độ nhờ sử dụng động năng của

các vật âm hơn Một cục đá làm mát một đồ

uống không phải bằng cách thêm cái lạnh vào

chất lỏng, mà bằng cách hấp thụ nhiệt từ chất

lỏng để làm tan chảy nó

Trong cuốn sách này, chúng tôi sẽ dùng

thước đo độ C cho biết nhiệt độ ( nhiệt độ celciu

viết tắt là o C ) Mức nước biển, nước đóng băng

tại 0oC và sôi ở 100oC Nhiệt độ trung bình của

cơ thể người là 37.5oC và nhiệt độ dễ chịu

trong phòng là 20-25oC

Một đơn vị nhiệt khác thuận tiện được sử

dụng trong cuốn sách này là calorie (calo)

Calo là lượng nhiệt mà nó cần để tăng nhiệt độ

của 1g nước lên 1oC Ngược lại, lượng calo

cũng là lượng nhiệt mà 1 g làm nguội đi 1oC

1 kilocalo (kcalo) = 1000 calo, là lượng nhiệt

cần thiết để có thể tăng nhiệt độ của 1kg nước

nên 1oC ( Đơn vị ‘calo’ trên bao bì thực phẩm

trên thực tế là kilocalo) Một đơn vị năng

lượng khác dùng trong cuốn sách này là Jun

(J)

1 Jun(J) = 0.239 calo ; 1 calo = 4.184

Jun(J)

Nhiệt dung riêng của nước cao

Khẳ năng của nước để điều hòa nhiệt độ bắt nguồn từ nhiệt dung riêng của nó tương đối cao Nhiệt dung riêng của một chất được định nghĩa là lượng nhiệt cần thiết phải được hấp thụ hoặc mất đi ở 1g chất để làm thay đổi nhiệt

độ đến 1oC Chúng tôi đã xác định nhiệt dung riêng của nước bởi vì chúng tôi đã xác định được lượng calo là lượng nhiệt cần thiết để gây thay đổi nhiệt độ lên 1oC Vì vậy, nhiệt dung riêng của nước là 1calo trong 1 gam chất trong

1oC viết tắt là 1calo/g/oC So với hầu hết các chất khác nước có nhiệt dung riêng cao hơn hẳn Ví dụ, rượu, các loại đồ uống có cồn có nhiệt dung riêng cụ thể là 0.6 calo/g/oC, có nghĩa là chỉ cần 0.6 gam là lượng nhiệt cần thiết để tăng nhiệt độ của 1g cồn lên 1oC

Do nhiệt dung của nước ảnh hưởng đến các chất khác, nhiệt độ của nước thay đổi ít hơn khi nó hấp thụ hoặc làm mất một lượng nhiệt nhất định Lý do bạn có thể bị bỏng ngón tay của bạn khi chạm vào bề mặt của một nồi kim loại trên bếp, khi nước trong nồi vẫn còn ấm thì nhiệt dung của nước lớn gấp 10 lần so với

sắt Nói cách khác, cùng cùng một lượng nhiệt

sẽ làm tăng nhiệt độ của 1g thanh sắt nhanh hơn nhiều so với nhiệt độ của 1g nước Nhiệt dung riêng có thể được coi như là một cách tốt như thế nào đó giúp chống lại sự thay đổi nhiệt đổi nhiệt độ của một chất khi nó hấp thụ hoặc giải phóng nhiệt Nước chống lại sự thay đổi nhiệt độ, khi nước thay đổi nhiệt độ bằng

Hình 3.5: Ảnh hưởng lớn của nước đến phân bố khí hậu Bằng cách hấp thụ hoặc tỏa

nhiệt, đại dương điều hòa khí hậu ven biển Đây là một ví dụ, một ngày trong tháng 8 ở miền Nam California, đại dương làm giảm nhiệt độ làm không khí tương đối mát mẻ bằng

cách hấp thụ nhiệt

Trang 5

cách hấp thụ vào hay làm mất đi một lượng

nhiệt tương đối lớn ở mỗi mức độ của sự thay

đổi đó

Chúng tôi có thể biết được nhiệt dung riêng

của nước caonhư nhiều đặc tính khác của nó,

liên kết hydro Phải hấp thụ bao nhiêu nhiệt để

có thể phá vỡ liên kết hydro, và lượng nhiệt

cần để hình thành một liên kết hydro Một calo

nhiệt gây ra sự biến đổi tương đối nhỏ trong sự

biến đổi nhiệt độ của nước, vì phần lớn nhiệt

được sử dụng để phá vỡ các liên kết hydro

trước khi các phân tử nước có thể bắt đầu di

chuyển nhanh hơn Và khi nhiệt độ của nước

giảm xuống một chút, nhiều liên kết hydro tạo

ra một lượng đáng kể dưới dạng nhiệt

Nhiệt dung riêng liên quan tới sự sống trên

Trái đất là gi? Một lượng nước lớn có thể hấp

thụ và lưu trữ rất lớn lượng nhiệt từ mặt trời

vào mùa hè và ban ngày trong khi nhiệt độ

nóng lên chỉ có vài độ Và vào ban đêm và

trong suốt mùa đông, nước bị lạnh từ từ làm

cho không khí dần ấm hơn Đây là lý do vì sao

khu vực ven biển thường có khí hậu ôn hòa

hơn so với trong lục địa ( hình 3.5) Nhiệt dung

riêng của nước có xu hướng giữ ổn định nhiệt

độ đại dương, tạo ra một môi trường thuận lợi

cho sinh vật biển Như vậy, bởi vì nước có

nhiệt dung riêng cao, mà nước bao bọc phần

lớn bề mặt Trái Đất nên nước giữu ổn định sự

dao động nhiệt trên đất liền và trong nước ở

giới hạn nhất định để tồn tại sự sống Ngoài ra,

do các sinh vật làm việc được chủ yếu nhờ

nước, chúng có thể có nhiều khả năng chống

lại những thay đổi nhiệt độ cơ thể mình hơn

nếu như chúng được cấu tạo từ một chất lỏng

có nhiệt dung riêng thấp hơn

Làm mát bằng bay hơi

Các phân tử của chất lỏng ở gần nhau được

bởi vì chúng được liên kết với nhau Các phân

tử chuyển động nhanh để vượt qua sức hút để

có thể rời khỏi chất lỏng và nhập vào không

khí như một chất khí Quá trình chuyển đổi từ

dạng lỏng sang dạng khí gọi và sự bốc hơi

hoặc bay hơi Nhớ lại rằng tốc độ chuyển động

của các phân tử làm thay đổi nhiệt độ đó là

động năng trung bình của các phân tử Ngay cả

ở nhiệt độ thấp, các phân tử chuyển động

nhanh có thể bay vào không khí Bay hơi xảy

ra ở một nhiệt độ bất kỳ, ví dụ: một cốc nước ở nhiệt độ phòng cuôi cùng sẽ bay hơi Nếu một chất lỏng được đun nóng, động năng trung bình của các phân tử tăng và chất lỏng bốc hơi nhanh hơn Nhiệt độ bay hơi là lượng nhiệt một chất lỏng phải hấp thụ để cho 1g nước được chuyển từ thể lỏng sang thể khí Cùng với một lý do rằng nước có nhiệt dung riêng cao, nước cũng có nhiệt độ bay hơi cao hơn hầu hết các chất lỏng khác Để bay hơi 1g nước tại 25o C, cần khoang 580 calo nhiệt là

đủ, gần gấp đôi sô lượng nhiệt cần để bốc hơn 1g rượu hoặc amoniac Nhiệt độ bay hơi của nước cao là tính chất mới xuất hiện gây ra bởi các liên kết hydro, trong đó cần phải phá vỡ các liên kết giữa các phân tử nước trước khi có chúng có thể thoát khỏi chất lỏng

Số năng lượng cao cần thiết để làm bay hơi tạo ra một loại các hiệu ứng Ví dụ, Trên trái đâí nó điều hòa khi hậu Một số lượng lớn nhiệt từ mặt trời bị hấp thụ tại các vùng biển nhiệt đới và được tiêu hao trong quá trình bay hơi nước ở bề mặt Sau đó khi không khi ở nhiệt đới lưu thông dần về cực nó giải phóng nhiệt và ngưng tụ lại tạo thành mưa Ở thể sinh vật, nhiệt độ nước cao tạo sự bay hơi là nguyên nhân gây ra những vết bỏng hơi nước nghiêm trọng Những vết bỏng này được gây ra bởi sự nhưng tụ thành nước trên bề mặt da Như là một chất lỏng bay hơi, bề mặt của chất lỏng ở lại sẽ mát xuống Làm mát do bay hơi xảy ra ở các phân tử “ nóng nhất”, nhưng phân tử có động năng lớn nhất có thể tạo thành hơi Cũng như là nếu hàng trăm người chạy nhanh nhất của một trường Đại học chuyển sang trường khác thì tốc độ trung bình của học sinh còn lại trong trường đó sẽ bị giảm

Làm mát do bay hơi của nước cũng góp phần cho sự ổn định nhiệt độ trong hồ, ao và cung cấp một cách ngăn ngừa ảnh hưởng quá nóng từ mặt đất lêncác sinh vật Ví dụ, bốc hơi nước từ lá cây giúp cho các mô trong lá không trở nên quá nóng dưới ánh sáng mặt trời Sự bay hơi của mồ hôi từ da người giúp giải phóng nhiệt của cơ thể và giúp ngăn sự quá nóng vào một ngày nóng hoặc khi nhiệt thừa

do hoạt động vất vả Độ ẩm cao vào một ngày nóng làm tăng sự khó chịu bởi vì nồng độ cao

Trang 6

của hơi nước trong không khí tạo ức chế sự

bay hơi của mồ hôi từ cơ thể

những tảng băng.

Nước là một trong những chất ít ở dạng

đông đặc như một chất rắn hơn là ở dạng lỏng

Nói cách khác, nước đá trôi nổi trong nước

lỏng Trong khi các chất khác đều co rút lại khi

chúng đông đặc còn nước thì dãn ra Nguyên

nhân của sự kỳ lạ này lại một lần nữa do liên

kết hydro Ở nhiệt độ trên 4oC, nước hoạt động

như các chất lỏng khác, nở ra khi nó bị nóng

lên và co lại khi nó nguội đi, nước bắt đầu

đóng băng khi các phân tử của nó không còn

chuyển động mạnh mẽ đủ để phá vỡ liên kết

hydro giữa chúng Khi nhiệt độ xuống

dưới 0 oC, nước trở nên bị khóa chặt vào một

mạng tinh thể, mỗi phân tử nước liên kết hydro

với bốn phân tử xung quanh (hình 3.6) các liên

kết hydro giữa các phân tử “ duỗi tay” tạo

khoảng cách đủ xa để làm nước đá ít dày đặc

hơn 10 % ( ít hơn 10% số phân tử ở cùng khối

lượng) so với nước ở dạng lỏng tại 4oC Khi

băng hấp thụ đủ nhiệt cho nhiệt độ của nó vượt

lên trên 0oC, liên kết hydro giữa các phân tử bị

gián đoạn Khi tinh thể bị phá vỡ, băng tan, các phân tử tự do có thể di chuyển lại gần nhau hơn Nước đạt đến mất độ phân tử lớn nhất ở nhiệt độ 4oC và sau đó lan rộng ra, các phân tử chuyển động nhanh hơn Tuy nhiên, hãy nhớ ngay cả lúc nước ở dạng lỏng, nhiều phân tử được gắn với nhau bởi liên kết hydro, du chỉ thoáng qua nhưng các liên kết hydro liên tục bị phá vỡ và hình thành

Khả năng băng nổi vì sự dãn rộng của nước đông đặc là một yếu tố vô cùng quan trọng trong với sự thích hợ của môi trường

Nếu băng chìm, sau đó các ao , hồ thậm chí

cả đại dương cuối cùng tất cả sẽ bị đóng băng rắn, làm cho sự sống như chúng ta biết sẽ không tồn tại trên Trái Đất Trong suốt mùa hè, chỉ vài inch trên bề mặt của đại dương sẽ tan băng Thay vào đó, là cả một khối nước sâu để làm mát, băng nổi cách ly nước lỏng bên dưới ngăn không cho nó đóng băng và cho phép tồn tại sự sống dưới bề mặt đóng băng, như thể hiện trong hình 3.6

Những dung môi trong cuộc sống

Một viên đường hình lập phương được đặt trong một cái ly nước sẽ bị hòa tan Trong ly nước đó sẽ chứa một hỗn hợp đồng nhất của

Hình 3.6: Băng: Cấu trúc tinh thể và lớp

chắn nổi Trong băng mỗi phân tử nước liên

kết hydro với 4 phân tử nước xung quanh

trong một mạng tinh thể ba chiều Bởi vì tinh

thể rộng, trong băng có nhiều phân tử hơn so

với trong chất lỏng ở cùng một khối lượng

bằng nhau Nói cách khác nước đá nhẹ hơn

nước lỏng Băng trở thành một lớp

ngăn để bảo vệ nước bên dưới không bị lạnh từ không khí Sinh vật biển được biến đến ở đây là một loài tôm được gọi và loài nhuyễn thể

Nếu nước không hình thành các liên kết hydro Điều gì sẽ xảy ra đối với môi trường sống của tôm?

Trang 7

đường và nước, nống độ đường hòa tan sẽ như

nhau ở mọi nơi trong hỗn hơp Một chất lỏng

đó là một hỗn hợp hoàn toàn đồng nhất của hai

hay nhiều chất được gọi là dung dich Những

chất hòa tan trong một dung dich là dung môi,

và các chất bị hòa tan gọi là chất tan Trong

trường hợp này, nước là một dung môi còn

đường là một chất tan Một dung dich hòa tan

được nhờ dung môi là nước Các nhà luyện

đan thời tring cổ đã cố gắng tim thây một dung

môi tổng quát mà có thể hòa tan được bất cứ

chất gì Họ đã cho rằng không có gì có thể hòa

tan tốt hơn nước Tuy nhiên, nước không phải

là một dung môi tổng quát; nếu là nó, nó sẽ

hòa tan mọi thùng chứa đựng nó, và bao gồm

cả các tế bào trong chúng ta Nhưng nước lại là

một dung môi rất linh hoạt, chất lượng để

chúng tôi có thể biết được sự phân cực của

phân tử nước

Ví dụ, giả sử cho một thìa muối ăn, hợp

chất ion clorua (NaCl), vào trong nước ( Hình

3.7) ở bề mặt của mỗi hạt hoặc tinh thể muối,

các ion natri và clorua được tiếp xúc với dung

môi Nhưng ion và các phân tử nước có liên hệ

với nhau do sự hút giữa các điện tích xung

quanh Phía oxi của phân tử nước được tích điện âm nên chúng bám vào cation Natri Các phía của nguyên tử hydro tích điện dương nên hút được các anion clorua Kết quả là, các phân

tử nước bao quanh tách riêng natri và Clo và liên kết với chúng từ những ion khác Bề mặt cầu của các phân tử nước xung quanh mỗi ion hòa tan được gọi là vở của sự hydrat hóa Tác động vào xâu bên trong bề mặt của các tinh thể muối, nước hòa tan hết tất cả các ion Kết quả

là hòa tan được cả hai chất, các cation natri và anion clorua đồng nhất hòa tan trong dung môi nước Hợp chất ion khác cũng hòa tan trong nước Ví dụ, nước biển có chứa rất nhiều các ion hòa tan, giúp cho các tế bào sống được Một hợp chất không nhất thiết phải là ion hòa tan được trong nước, có nhiều hợp chất tạo thành các phân tử không phân cực như đường cùng hòa tan được trong nước Hợp chất này khi hòa tan các phân tử nước bao lấy mỗi chất tan hình thành nên các liên kết hydro với chúng Ngay cả các phân tử lớn như protein có thể hòa tan trong nước nếu chúng có phần ion

và vùng cực trên bề mặt của chúng ( hình 3.8) Nhiều chất khác trong các hợp chất phân cực ( cùng với các iom) được hòa tan trong nước của các chất lỏng như máu, nhựa cây, mọi chất lỏng khác trong tế bào Nước là một dung môi của sự sống

Chất ưa nước và chất kỵ nước

Bất kỳ hợp chất có ái lực với nước được

cho là ưa nước hydrophilic ( từ “hydro” tiếng

Hy Lạp có nghĩa là nước và từ “philios” có

nghĩa là ưa thích) Trong một số trường hợp, các chất có thể thấm nước nhưng không thực

sự bị hòa tan Ví dụ, một số phân tử trong tế bào là quá lớn mà nước không thể hòa tan Thay vào đó, chúng vẫn còn lơ lửng trong dung dịch chất lỏng của tế bào Hỗn hợp dung dịch keo là một ví dụ, Các hạt min được treo ổng định trong một chất lỏng Một ví dụ khác của một chất ưa nước không hòa tan là cây bông, một sản phẩm của cây bông Côt-tông bao gồm nhiêu các phân tử xelulozo không lồ, một hợp chất chứa rất nhiều các vùng mà một tích điện âm tích cực và một phần có thể hình thành các liên kết hydro với nước Nước bám chặt vào các sợi xenlulozo Như vậy, một chiếc

Hình 3.7: Muối hòa tan trong nước Bề mặt

cầu của các phân tử nước được gọi là vỏ

hydrat hóa, bao quanh mỗi ion chất tan

? Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn đun nóng thí

nghiệm này trong một thời gian dài?

Trang 8

khăn bông làm công việc tuyệt vời là làm khô

cơ thể, nhưng không bị hòa tan trong máy giặt

Xenlulozo cũng có mặt trong thành của các tế

bào dẫn nước ở thực vật, bạn đã đọc trước đó

đã biết nước bám dính như thế nào vào thành

thấm nước cho phép vận chuyển nước xảy ra

Tất nhiên, có các chất không có sự ái lực với

nước Các chất không chứa ion và không phân

cực ( hoặc vì một lý do nào đó mà không thể

hình thành các liên kết hydro) trên thực tế

dường như chúng đẩy nước, các chất đó được

gọi là chất kỵ nước hydrophobic ( Từ “phobic”

Hy Lạp, có nghĩa là sợ) Ví dụ, một sản phẩm

trong bếp lá dầu thực vật, như bạn đã biết

chúng không kết hợp ổn định với nước trên

nền các chất như giấm Các hành vi kỵ nước

của phân tử dầu là kết quả của một tỉ lệ tương

đối liên kết không phân cực, trong trường hợp

này các iên kết cacbon và hydro chúng chia sẻ

điện tích là gần như bằng nhau Các phân tử kỵ

nước có liên quan đế các loại dầu là thành

phần chinh của màng tế bào (Thử tưởng

tượng những gì sẽ xảy ra cho màng tế bào nếu

chúng bị hòa tan!)

Nồng độ các chất hòa tan trong

nước

Sinh hóa là hóa học “ẩm ướt” Hầu hết các

chất phản ứng trong sinh vật liên quan đến chất

hòa tan trong nước Để hiểu được các phản

ứng đó, chúng ta phải biết làm thế nào nhiều nguyên tử và phân tử đang tham gia và có thể tính toán nồng độ của các chất tan trong dung dich (số lượng các phân tử chất tan trong một thể tích dung dịch)

Khi thực hiện thí nghiệm, chúng tôi sử dụng khối lượng để tính toán số lượng phân tử Chúng ta biết khối lượng của mỗi nguyên tử tring một phân tử lớn nhất, vì vậy chúng tôi có thể tính toán khối lượng phân tử của chúng, mà đơn giản chỉ là tổng khối lượng của tất cả các nguyên tử trong một phân tử Ví dụ, chúng ta hãy tính toán khối lượng đường sacazo, có công thức phân tử là C12H22O11 Trong đơn vị dalton, khối lượng của một nguyên tử C là 12, khối lượng của một nguyên tử H là 1 và khối lượng của nguyên tử oxi là 16 Như vậy, sacazo có khối lượng phân tử là 342 dalton Tất nhiên, trong lượng của các phân tử nhỏ là không thiết thực cho lý do này, chúng ta thường do lường chất trong một đơn vị là mol Cũng như một tá luôn luôn có nghĩa là 12 vật, một mol đại diện cho số chình xác của đại lượng 6 x 1023 còn được gọi là số Avogadro Bởi vì thế mà số Avogadro và các đơn vị trong dalton ban đầu được xác định là có 6 x 1023 dalton trong 1g Điều này có ý nghĩa quan trọng bởi vì khi chúng ta xác định phân tử khối của phân tử saccazo , hoặc 1 mol sacazo ( điều này đôi khi được gọi là khối lượng phân tử )

Để có thể hiểu được 1 mol saccazo trong phòng thí nghiệm, trước đó chúng tôi đã cân 342g

Ưu điểm thực tế của đo lường một số lượng hóa chất trong mol điều này là 1 mol của một chất có cùng chính xác số lượng phân tử như ở bất kỳ 1mol chất nào khác Nếu khối lượng

Hình 3.8: Một loại protein tan trong nước

Hình ảnh này cho thấy lizozim ở người, một

loại protein tìm thấy trong nước mắt và nước

bọt và có độ kháng khuẩn

Trang 9

phân tử là của chất A là 342 dalton và chất B là

10 daton, thì 342g chất A sẽ có cùng số lượng

phân tử như trong 10g chất B Một mol rượu

etilic (C2H6O) có chứa 6,02 x 1023 phân tử

nhưng khối lượng của nó chỉ là 46g vì khối

lượng của 1 phân tử của rượu etilic ít hơn số

phân tử trong 1 phân tử sacazo Sự đo lường

trong mol làm cho nó thuận tiện với các nhà

khoa hoc làm trong phòng thí nghiệm khi kết

hợp các chất trong tỉ lệ cố định của các phân

tử

Làm thế nào chúng ta chúng ta có thể cho 1

lit (l) của dung dịch sacazo bao gồm 1 mol của

sacazo hòa tan trong nước? Chúng ta sẽ lấy

342 g và sau đó dần dần cho thêm nước, khuấy

đều cho đến khi đường được hòa tan hoàn

toàn Sau đó chúng ta sẽ thêm nước đủ để có

được tổng khối lượng của 1 dung dịch lên tới 1

lít Tại thời điểm đó, chúng ra sẽ có 1 mol (M)

dung dịch sacazo Nồng độ số mol cửa chất tan

mỗi lit dung dịch là đơn vị thường được các

nhà sinh học sử dụng cho dung dịch hòa tan

TÍNH AXIT VÀ BAZO ẢNH HƯỞNG

ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA SINH VẬT

Đôi khi, Một nguyên tử hydro tham gia vào

một liên kết hydro giữa các phân tử nước

chuyển từ phân tử này sang phân tử khác Khi

điều này xảy ra, các nguyên tử hydro để lại ở

phía sau điện tích của nó và những gì thực tế

chuyển là một hydro (H+), một proton duy nhất

với điện tích (1+) Các phân tử nước bị mất đi

một proton là một hydroxit (OH-), trong đó một proton chuyển đi liên kết với phân tử nước khác tạo ra phân tử ion oxoni ( H3O+) Chúng

ta có thể hình dung ra phản ứng hóa học theo cách này:

Như đã nêu ra bởi các mũi tên đôi, đây là

phản ứng thuận nghịch đạt đến trạng thái cân bằng khi động năng của các phân tử nước phân tách ở mức tương đối mà chúng hình thành được H+ và OH- Tại thời điểm cân bằng, nồng

độ của phân tử nước vượt qua rất nhiều nồng

độ của H+ và OH- Trong nước tinh khiết, chỉ

có 1 phân tử nước trong tất cả 554 triệu phân

tử điện ly Nồng độ của mỗi ion trong 1 phân

tử nước tình khiết là 10-7 M (25 oC) Điều này

có nghĩa là chỉ trong mười phân triệu của 1 mol của các ion hydro cho mỗi lít nước tinh khiết và số lượng bằng nhau của các ion hydroxit

Mặc dù, sự phân ly của phân tử nước có thể bị đảo ngược và thông qua các thống kê hiếm gặp, nó là cực kỳ quan trọng trong hóa học của sự sống H+ và OH- là rất họat tính Những thay đổi về nồng độ mạnh có thể ảnh hưởng đến các protein của tế bào và phân tử phức tạp khác Như chúng ta đã thấy, nồng độ của H+ và OH- là bình đẳng trong nước tinh khiết, nhưng thêm một số loại chất hòa tan, được gọi là axit hoặc bazo thì sẽ phá vỡ sự cân bằng này Các nhà sinh học sử dụng một cái gì

đó gọi là thanh pH để mô tả tính axit hay bazo ( đối ngược với tính axit) trong một dung dịch Trong phần còn lại của chương này bạn sẽ tìm hiểu về tính axit, bazo và pH, lý do tại sao thay đổi độ pH ảnh hưởng bất lợi đến sinh vật

pH

Trước khi thảo luận về độ pH, chúng ta hãy xem những gì axit và bazo và làm thế nào chúng tương tác được với nước

Tính Axit và bazo

KHÁI NIỆM 3.3

Trang 10

Điều gì sẽ xảy ra khi dung dịch nước mất

cân bằng nồng độ H+ và OH-? Khi axit hòa tan

trong nước, chúng làm tăng thêm H+ cho dung

dịch Một axit là một chất làm tăng nồng độ

ion hydro cho dung dịch Ví dụ, khi axit

clohidric (HCl) được cho vào nước, các ion

phân tách ra từ các ion clorua:

Đây là nguồn gốc của H+ (phân ly trong nước

là nguồn góc khác) kết quả là trong dung dịch

có tính axit, có nồng độ H+ nhiều hơn nồng độ

OH- Một chất làm giảm ion hydro của dung

dịch được gọi là một bazo Một số bazo làm

giảm nồng độ H+ trực tiếp bằng cách nhận các

ion H Ví dụ, amoniac ( NH3) hoạt động như

một bazo khi gặp điện tử không được chia sẽ

trong vỏ hóa trị của Nito hút một hydro từ

dung dịch , kết quả là tạo ra ion NH4+:

Bazo làm giảm nồng độ H+ một cách gián

tiếp bằng cách tách ra để tạo nhiều các ion

hydroxit, kết hợp với ion hydro để tạo thành

nước Một trong số những bazo là dung dịch

natri hydroxit (NaOH), mà trong nước chúng

phân ly cacion của nó:

Trong cả hai trường hợp, bazo đều làm giảm

nồng độ của H+ Dung dịch có nồng độ OH-

cao hơn nhiều so với H+ được gọi là dung dịch

bazo Một dung dịch trong đó nồng độ H+ và

OH- bằng nhau đượng gọi là dung dịch trugn

hòa

Chú ý rằng các mũi tên một chiều sử dụng

cho các phản ứng HCl và NaOH Những hợp

chất phân ly hoàn toàn khi trộn với nước thì

được gọi là axit clohydric (axit mạnh) và dung

dịch hydroxit một bazo mạnh Các mũi tên hai

chiều trong phản ứng của amoniac chỉ sự liên

kết và giải phóng của các ion hydro là phản

ứng thuận nghịch Mặc dù ở trạng thái cân

bằng sẽ có một tỉ lệ cố định của NH4+ tới NH3 Ngoài ra, còn có các axit yếu, không giải phóng và chấp nhận ở lại các ion hydro Một ví

dụ là axit cacbonic:

Cân bằng chuyển dịch về bên trái khi axit cacbonicđược cho vào nước, chỉ có 1% của các phân tử liên kết tại bất kỳ một thời gian cụ thể Tuy nhiên, đó là đủ để có thể thay đổi cân bằng của H+ và OH- ở trạng thái trùng hòa

Thang pH

Trong bất kỳ dung dịch nước nào ở 25oC, nồng độ sản phẩm H+và OH- là không đổi và bằng 10-14 điều đó có thể được viết:

[H+][OH-] = 10-14 Trong phương trình như thế, khung cho thấy nồng độ phân tử trong một dung dịch trung hòa phân tử ở nhiệt dộ phòng (25oC), [H+] = 10-7 và [OH-] =10-7, vì vậy trong trường này 10-14 là sản phẩm của 10-7 x 10-7 Nếu axit

đủ được thêm vào một dung dịch để tăng [H+]

= 10-5 M, sau sản phẩm [OH-] sẽ giảm một lượng tương đương [OH-] = 10-9 ( l ư u ý

1 0- 5x 1 0- 9= 1 0- 1 4 mối quan hệ này liên quan đế các sản phẩm của axit và bazo hoạt động trong một dung dịch nước Một axit không chỉ bổ sung sản phẩm là các ion hydro đến một mức độ, mà còn loại sản phẩm là các ion hydroxit vì xu hướng cho H+ kết hợp với

OH- tạo thành nước Bazo có tác dụng ngược lại, tăng [OH-] mà còn giảm [H+] của nước bởi

sự hình thành nước Nếu đủ để thêm bazo vào

để nâng cao [OH-] = 10-14 M, nó sẽ làm cho [H+] giảm xuống còn 10-10 M Bất cứ khi nào chúng ta biết nồng độ của một trong hai [OH-] hay [H+] trong dung dịch, chúng ta có thể suy

ra được nồng độ của các ion khác Bởi vì [H+]

và [OH-] của các dung dịch có thể khác nhau bởi một nhân tố của 100 nghìn tỉ hoặc nhiều hơn, các nhà khoa học đã tìm ra một cách để thể hiện biến đổi thuận tiện hơn so với các mol/l Thang pH ( hình 3.9) chuyển phạm vi của [H+] và [OH-] bằng sử dụng số lô-ga-rit

HCL  H+ + Cl-

NH3 + H+  NH4+

NaOH  Na+ + OH-

H2CO3  HCO3 + + H+

(cacbonic) (bicacbonate) (hydrogen ion)

Ngày đăng: 25/05/2021, 21:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w