1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá của nhà tuyển dụng và sử dụng lao động đối với các sinh viên tốt nghiệp ngành Kinh tế thuộc các mô hình đào tạo trong nước, liên kết quốc tế và du học nước ngoài

77 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 7,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các bạn sinh viên đi du học nước ngoài và liên kết làm hoạt động xã hội rất tốt vì nó n m trong chương trình học và môn học, tuy nhiên các bạn sinh viên đi du học khi về Việt Nam các bạn[r]

Trang 1

Đ ề tài

ĐÁNH GIÁ CỦANHÀ TUYỂN DỤNG VÀ s DỤNG LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI CÁC SINH VIÊN TỐT NGHIỆP NGÀNH KINH TỂ THUỘC CÁC MÔ HÌNH ĐÀO TẠO TRONG NƯỚC, LIÊN KÉT

QUỐC TẾ VÀ DU HỌC NƯỚC NGOÀI

Nhóm tác giả: Cao Thị Thanh Xuần - VISK2010C

Nguyễn Thị Thùy Linh - VISK2010C Nguyễn H ồng Anh - VISK2010C Chu Thanh H iền - VISK2010C Nguyễn Diệu Linh - VISK2010C

L ê H ồng Vân - CB BM.KHXH, NV&KT

Trần Ngọc Trung - K6AH3

Trang 2

Kỷ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tể - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

LỜI CẢM ƠN

Trie c hết, chímg tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Bộ môn KHXHNV

& KT, Phòng QLĐT & NCKH đã tổ chức Hội nghị Nghiên cínt khoa học sinh viên Khoa Quốc tế lần thít IV, t o điều kiện cho chúng tôi có cơ hội đieợc tham, gia nghiên cím khoa học, để đóng gó nh ng bài nghiên cím có chat lượng cho thành tựu nghiên cứii khoa học của Khoa Quốc tế - ĐHQG Hà Nội nói riêng và nền khoa học nư c nhà nói chung Chúng tôi cũng xin gửi lời tri ân chân thành đến giáo viên hư ng dẫn đề tài - TS Đào Tùng, người đã theo sát, giú đỡ và hic ng dẫn tận tình cho chúng tôi từ nh ng ngày đầu ỉàm bảng khảo sát cho đến khi một bài nghiên cíni khoa học được hoàn chmkChimg tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các nhà tuyển dụng và sứ dụng lao động đã hợ tác giíi đỡ chúng tôi trong quá trình làm khảo sát cho bài nghiên cínt Cuối cùng, xin kính chúc t t cả sức khỏe, thành đ t và công tác tốt.

Hà Nội, tháng 12, năm 2011

Nhóm SVNCKH

Trang 3

MỞ ĐẦU

Dựa trên những mô hình đào tạo trong nước, liên kết quốc tế và đào tạo nướcngoài; rất nhiều sinh viên đã tốt nghiệp với những chuyên ngành kế toán - kiểmtoán, khoa học quản lý và kinh doanh Câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là với cácchuyên môn, kỹ năng, ngoại ngữ, thái độ làm việc và kiến thức hiểu biết xã hội màcác sinh viên tích lũy được trong quá trình học ở các mô hình đào tạo trong nước,liên kết quốc tế và đào tạo quốc tế được nhà tuyển dụng đánh giá như thế nào?Theo kinh nghiệm tuyển dụng và sử dụng lao động của những đối tượng nghiêncứu, các sinh viên tốt nghiệp từ ba loại hình đào tạo đại học trong nước, liên kếtquốc tế và du học nước ngoài sẽ có được những lời khuyên thế nào đối với từng môhình đào tạo?

Nghiên cứu này nh m trả lời hai câu hỏi nêu trên Kết quả của nghiên cứu sẽgiúp các sinh viên có định hướng tốt hơn trong việc trang bị các nhóm kỹ năng phùhọp với yêu cầu của nhà tuyển dụng Mặt khác nó cũng cung cấp các thông tintham khảo quan trọng cho các đơn vị đào tạo trong quá trình thiết kế chương trìnhđào tạo gắn với thực tiễn nhu cầu xã hội và nhu cầu học của sinh viên Kết quả củanghiên cứu cũng có nhiều hữu ích cho các nhà tuyển dụng trong việc thiết kếchương trình tuyển dụng, đào tạo, huấn luyện và phát triển nhân viên của mình

Trang 4

CH ƠNG 1 C ơ S LÝ LUẬN VỀ CÁC MÔ HÌNH ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC1.1 CÁC MÔ HÌNH ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC HIỆN NAY

Hệ thống giáo dục đại học Việt Nam hiện nay đa dạng về hình thức đào tạo,

từ chính quy, tại chức, văn b ng hai cho tới các mô hình liên thông, liên kết đàotạo Mối quan tâm của nghiên cứu này tập trung tìm hiểu đánh giá của người sửdụng lao động đối với chất lượng đầu ra của ba mô hình đào tạo đại học phổ biến làđào tạo trong nước, liên kết quốc tế và du học nước ngoài

1.1.1 Mô hình đào tạo đại học trong nước

Đây là 1 1Ôhình đào tạo thông dụng nhất đối với sinh viên Việt Nam Học đạihọc trong nước có nghĩa sinh viên sau khi tốt nghiệp THPT sẽ phải tham dự kì thiĐại học để có thể vào được trường Đại Học, Cao Đẳng hoặc Trung cấp cũng nhưngành học mà mình lựa chọn theo tiêu chu n của nhà nước và được các trường đạihọc trong nước cấp b ng Đào tạo đại học trong nước đưọ'c chia làm 2 loại: Cônglập vói vốn hỗ trợ đa phần tù' chính phủ và Dân lập với vốn đầu tư từ tư nhân dânhay một cá thể độc lập Sinh viên Việt Nam có khá nhiều thuận lợi lchi tham gia họctập và nghiên cứu ở trong nước

Với sinh viên theo học ở trong nước, họ được đào tạo bài bản về cả chuyênmôn chung lẫn chuyên ngành b ng chính thứ tiếng mẹ đẻ của mình Vì thế, sinhviên sẽ ko phải gặp quá nhiều khó khăn trong việc tiếp thu, trao đổi kiến thức vầgóp ý với giáo viên Từ đó họ sẽ dễ dàng nâng cao và bổ sung nhũng kiến thức, kĩ?năng cần thiết cho mình Bên cạnh đó, sinh viên theo học đại học ở trong nướchoàn toàn có thể chủ động được tài chính cho gia đình, thậm chí nếu thuộc đốitượng chính sách, sinh viên có thể được hưởng hỗ trợ từ ngân sách nhà nước

Sau khi tốt nghiệp Đại Học, sinh viên có thể xin việc ở bất cứ địa phươngnào trên đất nước của mình mà không gặp sự bất đồng về ngôn ngữ hay văn hóa

Có thể nói sinh viên trong nước không phải mất thời gian để tập thích nghi lại tù'đầu về lối sống cũng như phong cách, tác phong làm việc như sinh viên liên kết và

Kỷ yểu Hội nghị KHSVKhoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Trang 5

du học sinh ở nước ngoài Với kiến thức chuyên môn và những kĩ năng có sẵn, họ

có thể hiểu và đáp ứng một cách nhanh chóng được những tiêu chí mà các banngành tổ chức các công ty đang cần

ở một khía cạnh khác, sinh viên thuộc loại hình đào tạo trong nước cũng cómột số nhược điểm do môi trường học của mình Sinh viên ít có cơ hội được cọ xát

mở rộng tầm nhìn và giao lưu với nền giáo dục quốc tế đang ngày một hiện đại vàđổi mới Ngoại ngữ cũng là một vấn đề nan giải với sinh viên trong nước hiện nay

Đa phần họ đều rất ngại phải giao tiếp với người nước ngoài và điều đó làm chovốn ngoại ngữ của họ không thể phát triển đồng thời kéo theo nhiều hệ lụy khác.Mặt khác sinh viên trong nước chưa thực sự chủ động trong lĩnh hội kiến thứctrong khi đỏ là việc cần thiết của sinh viên liên kết và du học sinh Vì thế dễ dàngnhận thấy sinh viên học liên kết và du học thường năng động và tự tin hơn sinhviên trong nước vì họ sớm được tiếp cận với nền giáo dục độc lập

1.1.2 Mô hình đào tạo liên kết quốc tế

Ngày nay loại hình đào tạo liên kết quốc tế đã trở nên rất quen thuộc khi màcàng ngày xu hướng hội nhập của giới trẻ vào quá trình toàn cầu hóa ngày càngcao Chương trình đào tạo quốc tế là chương trình liên kết giữa một trường đại học

ở nước ngoài với một trường đại học ở Việt Nam và do ĐH nước ngoài cấp b ng

Vì đây là loại hình đào tạo chỉ mới du nhập vào nước ta khoảng 10 năm nay, nênbên cạnh những thuận lợi mang lại thì loại hình này vẫn gặp không ít khó khăn.Những thuận lợi của chương trình này bao gồm giảm chi phí tài chính chogia đình và cơ hội được tiếp xúc với một luồn văn hóa mới

Đầu tiên phải kể đến mặt tài chính, chương trình liên kết giúp sinh viên giảmđược một khoản học phí đáng kể so với du học sinh Theo thông tin từ BritishUniversity Vietnam, chi phí học tập ở Vietnam chỉ b ng 1/3 ở Anh còn b ng cấptương đương Cũng cùng ý kiến trên, lãnh đạo của trường ĐH Quốc tế RMIT chobiết cùng chung một chương trình học nhưng chi phí học tại Việt nam chỉ b ng 1/4

ở ức Ví dụ học phí theo ngành thương mại tại RMIT Việt nam mất khoảng 14000

Trang 6

Kỷ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 c12/2011)

USD cho toàn bộ khộa học Trong khi với một du học sinh học tại RMITMelbourne, chỉ riêng tiền học phí đã lên đến trên 30.000 USD Ngoài ra sinh viênliên kết còn có thể giảm được các khoản phí phát sinh như tiền ăn ở, vé máy bay.Một đặc điểm rất quan trọng khác đó là sinh viên liên kết không phải mất quá nhiềuthời gian để làm quen với việc hòa nhập cộng đồng, giao lưu văe hóa hay phongtục tập quán

về nền giáo dục, sinh viên thuộc loại hình đào tạo liên kết lại được tiếp xúcvới một môi trường hoàn toàn mới lạ đó họ được trau dồi ngoại ngữ cũng nhưcách học cách suy nghĩ độc lập, tự chủ với máy móc trang thiết bị hiện đại phục vụtối đa cho việc học tập Sau khi tốt nghiệp họ có thể dễ dàng áp dụng kiến thứcđược học vào thực tiễn ở Việt nam, tránh được tình trạng chảy máu chất xám Cóthể nói lực lượng sinh viên chương trình liên kết là một nhân tố quan trọng trongquá trình đưa nền giáo dục Việt nam từng bước lên cao nhờ tiếp cận được với nềngiáo dục quốc tế

Tuy nhiên, 111Ôhình đào tạo liên kết quốc tế còn có những vấn đề bất lợi Bởivốn đầu vào của các loại hình này khá dễ dàng nên sinh viên thường bị đuối trongviệc tiếp thu kiến thức ngoại ngữ để chu n bị cho các môn chuyên ngành Nhữngnăm đầu sinh viên vẫn phải học song ngữ để có thệ nắm được kiến thức một cáchchắc chắn Bên cạnh đó là nỗi lo hổng các kiến thức về lịch sử xã hội Việt nạm, vìsinh viên không được học về những qúan điểm chính trị lí luận như Triết,.Mac-; Lênin để có một cái nhìn tổng quan hơn Cuối cùng là sự trục lợi của những nhàđầu tư nh m vào chương trình này Họ quảng cáo liên kết với những trường chấtlượng ở nước ngoài nhưng sự thật lại khôg phải như vậy gây ra sự thiệt thòi và mấtlòng tin cho sinh viên và phụ huynh

1.1.3 Du học nưóc ngoài

Du học là một hình thức học tập tại nước ngoài ngày nay rất phổ biến tronggiới trẻ và nó đã trở thành ước mơ của biết bao người ham muốn tìm đến một chântrời mới của học thức với những tìm tòi, học hỏi, khám phá Du học không phải là

Trang 7

một hình thức mới, nó xuất hiện ở Việt Nam đã từ rất lâu, điểm lại như các cán bộcấp cao cốt cán của Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại thì có rất nhiều người đãtừng học tập tại Liên Xô ( Liên bang Nga ) (1) Nhưng mãi cho đến gần mười nămtrở lại đây thì tỉ lệ du học sinh Việt Nam tại các quốc gia khác trên thế giới tăng độtbiết kể như: "Số lượng sinh viên Việt Nam học tại các trường đại học, cao đẳng

Mỹ trong năm học 2010-2011 tăng từ 13.112 người lên 14.888 người Việt Namhiện xếp thứ tám trong các quốc gia nhiều du học sinh tại Mỹ" - (2) "Tại Triển lãm

du học Pháp diễn ra ngày 9/1 ở Hà N ộ i, Đại sứ Pháp tại Việt Nam A Pouillieutecho bỉết: năm 2002- 2003, số lượng sinh viên Việt Nam sang Pháp du học là 2.500

sv, tăng 40% so với những năm trước đây" - (3) Du học tại nhật bản số lượng họcsinh Việt Nam tăng cao nhất trên thế giới - (4) Những con số trên cho thấy sốlượng học sinh Việt Nam tại các quốc gia trên thế giới tăng một cách đột biếnchứng tỏ việc du học ngày này của học sinh - sinh viên Việt Nam rất được quantâm

Sự thể hiện rõ nét nhất của "bùng nổ" du học mà ta dễ nhận biết đó chính làtần suất bắt gặp các công ty tư vấn du học trên các trang báo mạng và các vănphòng bên ngoài Công việc PR, quảng cáo trở nên cạnh tranh hon khi mỗi công tyiạrđưa~cácsựiựa-chọn-ldiáe-rò

- sinh viên nh m tăng doanh số và lợi nhuận của công ty đồng thời cũng làm giatăng theo tỉ lệ du học sinh Việt Nam tại các nơi

Du học là một hình thức học tập tại và gặp những cơ hội trong giáo dục tạimột quốc gia khác quốc gia mà bạn sinh sống Nó bao gồm các bậc học khác nhaunhư: tiểu học, trung học và sau trung học (5) Và có hai hình thức du học chính, đóchính là : du học theo học bổng và du học tự túc

Số lượng du học sinh Việt Nam tăng cao theo từng năm một phần chứng tỏviệc du học mang lại nhiều lợi ích cho người học và được nhận được nhiều sự đồngthuận giữa cả phụ huynh học lẫn học sinh Những gì mà một sinh viên nhận đượckhi đi du học đó chính là sự khác biệt giữa hệ thống giáo dục trong và ngoài nước,

Trang 8

đặc biệt là họ được học tập, giao tiếp trong môi trường đào tạo hiện đại và nhiều cơhội hơn ở tại nước họ sinh sống Đặc thù của việc du học là học sinh đồng thời vừanhận được phong cách giáo dục mới vừa nhận được sự giúp đỡ từ nước sở tại ví dụnhư ở Mỹ thì du học sinh được sự hỗ trợ cho sinh viên quốc tế, khu kí túc xá hiệnđại, tiện nghi, thêm vào đó là cơ hội chuyển tiếp là lên các trường khác (6) ở Hoa

Kỳ, sinh viên đôi khi học tại một trường trong một khoảng thời gian nào đó và sau

đó "chuyển" sang học tại một trường khác để hoàn thành việc học lấy b ng cửnhân Một số sinh viên lại chuyển từ hệ cao đẳng hai năm sang các trường đại họctổng họp; một số khác chuyển từ một trường đại học tổng họp này sang một trườngđại học tổng họp khác Có thể chuyển một số môn học từ các trường của Việt Namsang một vài trường đại học hoặc đại học tổng họp ở Hoa Kỳ Nhưng đó có lẽ vấn

đề ăn ở chỉ là một vấn đề phụ cho phụ huynh - học sinh khi quyết định đi du học.Theo một nghiên cứu của tờ báo Study overseas global cho thấy phần lớn các sinhviên khi đi du học họ sẽ lựa chọn ngành học trước, sau đó sẽ chọn trường và tiếpđến mới là các phương án về ăn ở, sinh hoạt

Bên cạnh sự phát triển và tiếp thu cái hay, cái mới từ môi trường du học, các

du học sinh còn có thêm cơ hội để học hỏi, hiểu biết hơn về các nền văn hóa khácnhau trên thế giới thông qua bạn bè của họ Có thêm bạn bè để chia sẻ, để tìm hiểulẫn nhau đó là điều thủ vị mà việc du học mang lại cho học sinh - sinh viên mà họkhông thể tìm thấy đưọ'c khi học tại đất nước của họ Sự giao thoa giữa các nền vănhóa, tôn giáo, màu da khác nhau khiến cho các bạn trẻ cảm thấy có rất nhiều điều

họ cần phải khám phá, tìm hiểu để trau dồi thêm vốn hiểu biết của mình Ngôn ngữ

về ban đầu có thể là một rào cản lớn dành cho họ nhưng sau đó, qua quãng thờigian học tập, làm quen với môi trường thì chính ngôn ngữ lại là một thế mạnh cạnhtranh của du học sinh so với các sinh viên học trong nước Điều này rất có lợi cho

họ khi quay trở lại Việt Nam với khả năng nói được nhiều ngôn ngữ khác nhau vàtiếp thu được nhiều cái hay, cái lạ từ chính những bạn bè của họ, làm giàu thêm vốnsống

Kỷ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Trang 9

Sự tự lập là một trong những điều có lẽ các phụ huynh hài lòng nhất khi nhận

ra sự khác biệc khi cho con đi du học Việt Nam có thể đứa trẻ được sự đùm bọc,chăm sóc từ gia đình nên sự tự lập dường như khó tỉm thấy ở một thanh niên ViệtNam từ khi họ còn ngồi trên ghế nhà trường Nhưng trái lại, du học sẽ là thử tháchỉớn dành cho họ để thấy rõ nét nhất sự trưởng thành, tự lập Du học sinh sẽ phải đốimặt với mọi vấn đề trong cuộc sống ngoài việc học, đó chính là cách chi tiêu saocho hợp lí, cách tự chăm sóc bản thân khi không có người thân bên cạnh Điều đó

sẽ khiến các du học sinh chủ động hơn trong cuộc sống của mình và rèn luyện tinhthần tự giác

Cơ hội là điều quan trọng mà hầu hết các học sinh- sinh viên của chúng tamong đợi trong suốt quá trình học của mình Khi nhận được tấm b ng họ sẽ cónhững cơ hội thế nào khi quay trở về Việt Nam hoặc tiếp tục công tác, làm việc tạicác nước khác Lợi thế về kiến thức sách vở lẫn cuộc sống thêm vào đó là vốnngoại ngữ tốt, một sinh viên khi mới ra trường sẽ gặp nhiều cơ hội thăng tiến trong

sự nghiệp sau này

Nhưng trái lại, bên cạnh những lợi ích đem lại thì du học cũng có những hạnchế không mong muốn Một trong các lí do đó là hiện tượng chảy máu chất xám,một số bộ phận học sintv-^sinEvTenTsau Hĩĩhọc xong tạínữớcTrglĩàrthrkhông-có-ý-định quay về Việt Nam sinh sống và cống hiến Đây là vấn đề khiến gây nhiều câuhỏi cho toàn xã hội Việt Nam nói chung Những người tài giỏi và nó năng lực, nhờ

su học mà họ có nhiều kiến thức, cơ hội, chính vỉ đố mà họ có thể kiếm đượcnhững công việc tốt hơn, điều kiện sinh sống tốt hơn, đảm bảo cho tương lai củagia đình và chính bản thân họ nên việc chọn ở lại nước ngoài chiếm tỉ lệ cao

Bên cạnh đó, cuộc sống tự lập, không có người quản lí, chăm sóc, cũng làmột lí do khiến một bộ phận du học sinh trở nên xa ngã, không chuyên tâm vào họctập, chỉ lo chơi bời và dẫn đến những hệ quả xấu không thể lường trước được.Những trường hợp này thường rơi vào những học sinh đi du học quá sớm (cấptrang học) khi mà họ vẫn ở độ tuổi vị thành niên, dễ bị dụ dỗ, iội kéo, chưa đủ bản

Trang 10

lĩnh đối mặt với các thử thách trong cuộc đời mà không có người lớn bên cạnh.Ngày nay, tỉ lệ học sinh đi du học khi độ tuổi còn rất nhỏ đang gia tăng, phụ huynhcho r ng việc đưa con đi du học khi còn nhỏ để cho trẻ có cơ hội tiếp xúc vói nềngiáo dục tiên tiến hơn, trẻ có thể phát huy được nhiều khả năng Nhưng họ cũngchưa thể nào lường trước được những vấn đề có thể xảy ra đối với đứa trẻ khichúng sống rời xa gia đình tù rất sớm.

Một vấn đề nữa liên quan đến chính việc du học sinh sau khi trở về nước họtrở nên kém nhạy bén với phong cách làm việc và môi trường ở trong nước Họquen và hình thành lối sống tại nước mình theo học trong quãng thời gian dài nênkhi trở về Việt Nam, nên các du học sinh của chúng ta cần phải bổ sung rất nhiềukiến thức ví dụ như về luật pháp, văn hóa Trong những trường hợp này khì kiếnthức và ngoại ngữ không phải là tất cả, để thành công còn cần rất nhiều yếu tố khácnữa trong cuộc sống mà họ cần khắc phục, trau dồi

1.2 VAI TR CỦA TỪNG NGÀNH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP

1.2.1 Vai trò của ngàeh kế toám-kiểm toáe

Ngành kế toán đào tạo những kế toán viên có khả năng sử dụng thành thạocác công cụ hỗ trợ và thuần thục các kỹ năng nghiệp vụ kế toán doanh nghiệp nh m

hỗ trợ tốt nhất để doanh nghiệp phát triển Kế toán giữ vị trí then chốt trong sựthành bại của mỗi doanh nghiệp bởi lẽ kế toán đóng vai trò tham mưu, cung cấpthông tin kinh tế-tài chính quan trọng cho lãnh đạo nh m phục vụ cho việc ra quyếtđịnh và đảm bảo về mặt tài chính để doanh nghiệp vận hành một cách liên tục, lànhmạnh

Một số vai trò chủ chốt của kế toán đối với doanh nghiệp:

Ke toán giúp cho doanh nghiệp theo dõi thường xuyên tình hình hoạt độngsản xuất kinh doanh của mình (quá trình sản xuất, theo dõi thị trường )- Nhờ đó,các nhà quản lý có thể điều hành trôi chảy các hoạt động của doanh nghiệp cũngnhư kiểm soát tình hình nội bộ một cách tốt nhất

Kỷ yếu Hội nghị KHSVKhoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Trang 11

Kế toán cung cấp tài liệu cho doanh nghiệp làm cơ sở hoạch định chươngtrình hành động cho từng giai đoan hay từng thời kỳ Nhờ đó, các nhà quản lý cóthể tính được hiệu quả eông việc, vạch ra hướng hoạt động cho tương lai.

Kế toán giúp cho các nhà quản lý điều hoà tình hình tài chính của doanhnghiệp, đưa ra các quyết định phù hợp (quản lý hạ giá thành, quản lý điều hoàdoanh nghiệp)

Kế toán giúp đưa ra các cơ sở pháp lý để giải quyết tranh tụng khiếu nại, với

tư cách là b ng chứng về hành vi thương mại và b ng chứng cho sự giao dịch buônbán

1.2.2 Vai trò của ngành khoa học quản i (quản l nhân sự, quản l tổ chức)Ngành Khoa học quản lý đào tạo những người có kỹ năng về quản lý; cótrình độ tốt về chuyên môn, nghiệp vụ quản lý; có kỹ năng tốt về trình bày, giaotiếp và cộng tác trong công việc Theo học ngành này, sinh viên được cung cấp hệthống các kiến thức về lý luận và phương pháp quản lý, lãnh đạo; kiến thức về khoahọc quản lý và những ngành khoa học liên ngành khác

Ngoài ra, sinh viên còn có thể phát huy năng lực phân tích và đánh giá; có

-1chả-năìig-tồ-xfíức.-huy đQng V-à-thuyết-phuc_quầii_,chủngthưc hiên muc tiêu của tồchức Sinh viên tốt nghiệp có thể đáp ứng được yêu cầu của các vị trí công tác quản

lý ở cấp phòng, ban, phân xưởng, xí nghiệp và các vị trí tác nghiệp quản lý trongcác cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương hoặc địa phương, các tổ chức,doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nước hoặc tư nhân

Sinh viên tốt nghiệp ngành quản lý có cơ hội để trở thành những nhà lãnhđạo doanh nghiệp trong tương lai Lãnh đạo doanh nghiệp là những người đứng đầudoanh nghiệp (người đứng ra thành lập doanh nghiệp và đảm nhận vai trò quảnh lýdoanh nghiệp, hoặc người được thuê để điều hành doanh nghiệp) Họ có tráchnhiệm xây dựng tầm nhìn tương lai cho doanh nghiệp; tập hợp, khuyến khích mọingười hành động, thực hiện tầm nhìn đó Trên hết, những nhà lãnh đạo có trách

Trang 12

nhiệm tìm kiếm cơ hội và thực hiện những thay chiến lược mang đến sức cạnhtranh cao và phát triển bền vững cho doanh nghiệp Là người đứng đầu doanhnghiệp nên vai trò của lãnh đạo là vô cùng quan trọng, có ảnh hưởng quyết định tới

sự sống còn, thành bại của doanh nghiệp

1.2.3 Vai trò của ngành kinh doanh (chiến lược kinh doanh, marketing)

Ngành kinh doanh đào tạo ra các nhân viên kinh doanh (marketer), là nhữngngười vạch ra chiến lược kinh doanh, quảng bá hình ảnh của doanh nghiệp thôngqua những sản ph m cụ thể đến với người tiêu dùng một cách hiệu quả nhất Trongmarketing còn nhiều chuyên ngành nhỏ và chuyên môn hoá hơn quảng cáo như:nghiên cứu, khảo sát thị trường, PR, bán hàng, phát triển thị trường Với chuyênmôn về marketing, khi ra trường, sinh viên có thể làm việc trong các doanh nghiệpsản xuất (bộ phận nghiên cứu và phát triển thị trường, phòng chăm sóc kháchhang ) các doanh nghiệp thương mại, dịch vụ cũng như các cơ quan tổ chức philợi nhuận

Nhân viên marketing đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanhthành công Vai trò chính của marketing xoay quanh việc tìm hiểu và đáp ứng nhucầu của người tiêu dùng Việc phát triển thị phần và doanh số bán hàng cũng là mộtnhiệm vụ đầy thử thách của bộ phận này trong một môi trường cạnh tranh như hiệnnay Marketing quyết định và điều phối sự kết nối các hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp với thị trường Đảm bảo cho hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp hướng theo thị trường, biết lấy thị trường, nhu cầu và thị hiếu củakhách hàng làm chỗ dựa vững chắc nhất cho mọi quyết định kinh doanh Chuyênviên marketing sẽ tạo ra tầm nhìn hấp dẫn và thú vị cho các thương hiệu và việchoạch định dựa trên các hoạt động marketing tổng họp bao gồm truyền thong tiếpthị thương hiệu, đổi mới và tái đổi mới cũng như đề nghị các kênh thông tin cụ thể

Họ cũng có trách nhiệm quản lý các mối quan hệ của công ty với các nhà phânphối, bán lẻ và bán sỉ, làm việc theo kế hoạch dài hạn và giải quyết những cơ hội vàthách thức hàng ngày

Kỷ yếu H ội nghị KHSVKhoa Quốc tể - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Trang 13

Công việc quan trọng nhất của marketing là tạo ra các giá trị cho khách hàng,thực hiện các cam kết, đem lại sự hài ỉòng và tạo ra lòng trang thành của kháchhàng Ngoài ra, marketing ngày nay giữ vai trò trung tâm trong việc dịch chuyểnthông tin khách hàng thành các sản ph m dịch vụ mới và sau đó định vị những sản

ph m này trên thị trường Các sản ph m/dịch vụ mới là câu trả lời của doanhnghiệp trước sự thay đổi sở thích của khách hàng và cũng là động lực cạnh tranh.Các chuyên viên marketing cần phải nhảy bén trước sự thay đổi nhu cầu liên tụccủa khách hàng để giúp doanh nghiệp cải tiến, đổi mới làm hài lòng và đáp ứng sựthay đổi đó

1.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪNG NGÀNH TRONG THỜI KỲ MỞ CỬA

1.3.1 Ngành kinh tế

Qua khảo sát của các trường, nhất là các hội nghị tổ chức cấp quốc gia vàkhu vực trong vài năm gần đây, lĩnh vực kinh tế luôn được xem là ngành có nhucầu cao về nhân lực trong hiện tại cũng như trong tương lai Trong những năm qua,nhiều trường ĐH, CĐ đã được phép Bộ GD-ĐT mở thêm các ngành thuộc lĩnh vựckinh tế, chứng tỏ nhu cầu của xã hội rất cao đối với ngành đào tạo này

1.3v2N gànhkếtoán-idểm

toán -Là chuyên ngành sâu hơn thuộc lĩnh Yực kinh tế, ngành kế toán, kiểm toáncũng luôn luôn có nhu cầu rất cao, bởi trong bất cứ dự án công việc nào dù nhỏ dùlớn, tò phạm vi kinh doanh cá thể cho tới quy mô công ty lớn hoặc các tập đoànkinh tế, hay ngay cả những cơ quan hành chính sự nghiệp sử dụng ngân sách củanhà nước, đều cần đến bộ phận kế toán và kiểm toán Tầm quan trọng của nghềnày thể hiện trước hết ở phổ lương rất cao, nó trở thành một nghề rất đáng mơ ướccủa nhiều người trẻ tuổi Ngoài ra có thể thấy các trường đào tạo nghề mở ra liêntục trong những năm gần đây, trường nào cũng có chương trình đào tạo chuyênngành kế toán

Trang 14

Kỷ yểu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tể - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

1.3.3 Ngành qụảe lí '

Với tư cách là một tổ chức kinh tế, xã hội, doanh nghiệp nào cũng có nhu cầutuyển dụng ngành quản lý Những công ty với quy mô lớn thường tuyển dụng nhiềuquản lý ở nhiều khâu khác nhau

Tại những công ty nhỏ hay một nhà hàng cũng có nhu cầu tuyển dụng nhânviên quản lý Có những khái niệm mới về quản lý tòa nhà, quản lý tầng ở các khuchung cư hay trung tâm thương mại, khu văn phòng thuộc những tòa nhà cao tần.Cũng có những vị trí quản lý nhỏ hơn như tổ trưởng, nhóm trưởng, đặc biệt là khi

mô hình làm việc nhóm đang là xu thế phổ biến Hiện nay, đội ngũ quản lý chiếmmột con số không nhỏ Đôi khi một công ty những có đến trên 10 nhân viên quản lývới nhiều trách nhiệm khác nhau Một nhà hàng cũng có từ 2 đến 3 quản lý để điềuhành hoạt động của nhà hàng Vì vậy có thể nhận thấy thị trường tuyển dụng nhân

sự quản lý và cơ hội việc làm quản lý hiện nay rất cao

1.4 MỤC TIÊU ĐÀO TẠO•

Bài nghiên cứu này muốn nhấn mạnh vào việc tìm hiểu đánh giá của người

sử dụng lao động đối với chất lượng đầu ra của sinh viên Bởi vì sinh viên khi ratrường có những kĩ năng tốt thì sẽ được tuyển dụng nhiều hơn và thành công hơntrong môi trường làm việc mới Theo các nguồn thông tin chúng tôi thu thập vànghiên cứu, có rất nhiều kĩ năng mà các nhà tuyển dụng hiện nay yêu cầu Chúngtôi tổng họp được 15 tiêu chí và phân chia thành 5 nhóm chính Nhóm 1 là yêu cầu

về chuyên môn Nhóm này gồm các tiêu chí rất quan trọng để nhà tuyển dụng đánhgiá được những kiến thức, những kĩ năng nghề nghiệp mà sinh viên tiếp nhận trongquá trình học đại học Nhóm 2 với 6 tiêu chí được xếp vào nhóm kĩ năng mềm.Nhóm này bao gồm những kĩ năng cơ bản nhưng là điều kiện cần để được tuyểndụng Vì hiện nay nhiều nhà tuyển dụng đánh giá cao những yêu cầu này ở sinhviên mới tốt nghiệp Nhóm 3 là yêu cầu về ngoại ngữ gồm 2 kĩ năng chính là giaotiếp và đọc viết Đây cũng là những tiêu chí mà các nhà tuyển dụng rất quan tâm

Trang 15

hiện nay Nhóm 4 - Kĩ năng và thái độ làm việc - yêu cầu về ý thức và tác phongcủa mỗi sinh viên mới vào làm Nhóm 5 là những kiến thức hiểu biết Xã hội.

Dưới đây là bảng phân loại các nhóm kĩ năng và các tiêu chí chi tiết hơn vềcác nhóm này

Bans 1: Phân loại các tiêu chí đánh giá sinh viên của nhà tuyển dụng

+ Làm việc nhóm, tinh thân tậpthể

+ Khả năng hoạt động xã hội

3 Ngoại ngữ + Giao tiêp

+ Đọc-Viêt

4 K năng và th i độ làm việc

+ Tác phong công việc+ Tuân thủ kỉ luật+ Thái độ làm việc

Trước hết, chúng tôi tìm hiểu lí dọ tại sao các nhà tuyển dụng lại quan tâmđến những kĩ năng này

Trang 16

Kỷ yểu Hội nghị KHSVKhoa Quốc tể - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

1.4.1 Nhóm 1: Kỹ năng nghiệp vụ

Kĩ năng nghiệp vụ hay còn gọi kĩ năng chuyên môn chính là kiến thức mỗisinh viên được trang bị khi còn ngồi trên ghế nhà trường Có rất nhiều loại hìnhchuyên môn đáp ứng với từng nghành nghề trong xã hội hiện tại Do đề tài nghiêncứu khoa học của chúng tôi chủ yếu tập trung vào lĩnh vực kinh tế, chúng tôi xinđưa ra một số ví dụ trực tiếp liên quan đến các chuyên nghành Ví dụ như nghành

kế toán, sinh viên sẽ được học toàn bộ các lĩnh vực liên quan đến kế toán trong mộtdoanh nghiệp, công ty như kế toán quản trị, kế toán tài chính, Tuy nhiên, theonhư đánh giá cùa các nhà kinh tế học, Việt Nam hiện đang là đất nước đang trên đàphát triển cả về kinh tế- kĩ thuật, cũng như hệ thống đào tạo giáo dục; nói một cách

rõ ràng hơn, nguồn nhân lực trẻ Việt Nam với xuất phát điểm từ nhiều nguồn giáodục đa dạng đã tạo nên nhiều nguồn nhân lực với kĩ năng, trình độ, vốn hiểu biếtsâu rộng, thành thạo về kĩ năng chuyên môn khác nhau Dựa theo ba nguồn nhânlực chúng tôi đề cập trong đề tài nghiên cứu khoa học này, bao gồm: nguồn nhânlực sinh viên tốt nghiệp tù mô hình đào tạo trong nước, nguồn nhân lực sinh viêntốt nghiệp từ mô hình đào tạo liên kết quốc tế và nguồn nhân lực sinh viên tốtnghiệp từ mô hình đào tạo nước ngoài, chúng tôi chia làm ba khái niệm về kỹ năngnghiệp vụ như sau:

Thứ nhất, vói nguồn nhân lực được đào tạo theo mô hình giáo dục trongnước, không xét những nhân tố tiêu cực, chúng ta chỉ xét những lớp nhân lực cóhọc vấn cao, được đào tạo tại những ngôi trường đại học có uy tín tại Việt Nam,như Đại học Ngoại Thương, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Kinh tế quốc dân,Đại học Bách khoa, vói đa đạng các nghành nghề trong nước Khó có thể phủnhận r ng, nguồn nhân lực được đào tạo chính quy b ng tiếng Quốc ngữ có một lợithế vô cùng lớn, bên cạnh đó lối tư duy thực tiễn vào nền kinh tế Việt Nam của lớpnhân lực này cũng sát sao hơn bởi phần lớn giảng viên đại học đang giảng dạy cókinh nghiệm giảng dạy trong nhiều năm trong nước, tất yếu giảng viên sẽ nắm rõtin tức tình hình lcinh tế trong nước, từ đó đưa vào bài giảng những ví dụ thực tế.Hơn thế nữa một bộ phận cán bộ viên chức nhà nước cao cấp cũng được mời về

Trang 17

trường giảng dạy các môn chuyên nghành, nh m nâng cao khả năng cọ sát và kiếnthức thực tế cho sinh viên Thực tế ghi nhận r ng, với các giảng viên đã có kinhnghiệm cọ sát thực tế như vậy sẽ dễ dàng hướng dẫn cho sinh viên kiến thức thựchành tại môi trường làm việc công sở hơn Các bạn sinh viên cũng có thể thamkhảo thêm những những kiến thức bổ ích bên ngoài sách vở.

Thứ hai, nguồn nhân lực được đào tạo theo mô hình liên kết quốc tế ngàycàng phát triển mạnh mẽ trong nhiều trường đại học, cao đẳng có tiếng tại ViệtNam, điển hình như trường Đại học Quốc Gia Hà Nội, trường Bách Khoa, trườngKinh doanh công nghệ, trường Đại học Ngoại thương, Mô hình đào tạo này đượcchia thành các dạng chính: thứ nhất, đào tạo toàn phần tại Việt Nam và cấp b ngcủa trường đối tác nước ngoài; thứ hai là đào tạo tại Việt Nam và cấp b ng củatrường Việt Nam, hoặc đào tạo bán phần tại cả Việt Nam và nước ngoài theo thờigian phân chia Loại mô hình này ngày càng được phụ huynh cũng như các sinhviên yên tâm về chất lượng đầu ra cũng như chất lượng dạy và học Không nhữngthế, mô hình này cũng cung cấp khóa học cho hệ sau đại học, đáp ứng nhu cầu vềchất lượng chuyên môn đạt chu n quốc tế Nhờ mô hình đào tạo này mà chỉ số hộinhập quốc tế về mặt giáo dục của Việt Nam tăng lên đáng kể Kiến thức truyền đạt

-GhQ-sinh-v-ịên-tò-hệ-thống-g-iáo

lượng đầu ra cho sinh viên rất lớn, nhất là trong thời kì đất nước hội nhập WTO.Việc mở mang nền giáo dục cũng là bước tiến quan trọng đối với công tác xâydựng phát triển đất nước

Cuối cùng là nguồn nhân lực được đào tạo toàn phần tại nước ngoài Mộtcách rõ ràng có thể nhận thấy đó là chất lượng đào tạo của các nước Anh, Mỹ, úc,Pháp,., đạt tiêu chu n quốc tế về hầu hết các nghề nghiệp Sinh viên được giao lưuhọc hỏi trong môi trường quốc tế, sử dụng tiếng nước ngoài thành thạo, kỹ năngmềm được phát huy tối đa bên cạnh việc học tập kiến thức văn minh từ các nướctiên tiến phương Tây Khác với mô hình đào tạo trong nước, mô hình đào tạo toàn

ph n tại nước ngoài hướng đến việc định hướng đào tạo đa nghành đa nghề cho

Trang 18

sinh viên Sau khi tốt nghiệp, sinh viên có thể hoạt động đa lĩnh vực với vốn kiếnthức đa dạng của mình không có gì là khó khăn.

1.4.2 Nhóm 2: Kĩ năng mềm

Hiện nay các doanh nghiệp trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài cũngtuyển dụng sinh viên dựa trên những kĩ năng mềm mà họ tích lũy được như ứng xử,giao tiếp, làm việc nhóm Vì vậy, sinh viên có chuyên môn tốt cũng chưa đủ điềukiện để được tuyển chọn Có thể dễ dàng nhận ra r ng chuyên môn có thể tiếp tụcđào tạo trong suốt quá trình làm việc nhung kĩ năng mềm thì không thể đào tạo vì

nó phụ thuộc vào khả năng của từng người Khoảng 80% nhà quản lý và nhà tuyểndụng than phiền nhân viên trẻ quá yếu kỹ năng mềm, lơ ngơ, không đáp ứng đượcyêu cầu công việc dù có b ng cấp rất tốt Cũng có nhà quản trị cho r ng 80% sựthành công của một cá nhân là nhờ vào kỹ năng mềm chứ không phải “kỹ năngcứng” (kiến thức)

Trong môi trường làm việc ở ngân hàng, hay bất kì một doanh nghiệp nàokhác, nhiều vị trí cần phải thường xuyên tiếp xúc với khách hàng Vì vậy, kĩ nănggiao tiếp và thuyết phục cần thiết Chị Trang- một nhà tuyển dụng chia sẻ “Kỹ năngmềm ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự thành công của nhân viên Vàtrong số các kỹ năng mềm, tôi đánh giá cao nhất kỹ năng giao tiếp của ứng viên”

Kĩ năng giao tiếp, ứng xử được coi như là bản năng của con người, chỉ có bản thânbiết cách tụ' tích lũy kĩ năng cho mình

Bên cạnh đó là làm việc theo nhóm Phó phòng tuyển dụng VP Bank- ChịTrần Diễm Phương khẳng định: “Thực tế, công việc ở doanh nghiệp đều yêu cầulàm việc theo nhóm Không một bạn nào có thể làm ngay một công việc dù giảnđơn hay quan trọng của doanh nghiệp, nhất là ngân hàng, một mình được Giaotiếp, thuyết phục và làm theo nhóm là ba kĩ năng các doanh nghiệp luôn hướngtới” Các ứng viên giao tiếp được thì khả năng làm việc nhóm cũng tốt hơn Họ dễdàng trong việc trình bày, giảng giải các ý tưởng của mình cho các đồng nghiệp đểcùng nhau thực hiện

Kỷ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Trang 19

Sử dụng máy tính là một tiêu chí không thể thiếu đối với các ứng viên trongngành tài chính, kế toán; kinh doanh ( các ngành mà chúng tôi muốn nghiên cứu).Công nghệ thông tin ngày càng phát triển mạnh, yêu cầu Hầu hết các doanh nghiệp

sử dụng máy tính là công cụ chính để làm việc các ngành chúng tôi điều tra, họ

có thể không yêu cầu trình độ cao siêu về công nghệ thông tin nhưng cũng phải biếtcác chương trình căn bản như Word, Excel,và biết cách sử dụng, áp dụng nhữngphầm mềm chuyên dụng của mỗi doanh nghiệp ví dụ như: phần mềm kế toándoanh nghiệp, các phần mềm chuyên dụng của ngân hàng hay các công ty tàichính, Những phần mềm này các ứng viên khi vào làm đều được hướng dẫn vàđào tạo nhưng nếu họ biết sử dụng máy tính thì việc tiếp thu những kiến thức mớinày thì không phải là một khó khăn

Các tiêu chí khác như tính sáng tạo, kĩ năng giải quyết tình huống, kĩ nănghoạt động xã hội cũng được chú trọng Nhiều nhà tuyển dụng xem những kinhnghiệm mà các sinh viên có được qua các hoạt động tình nguyện, các buổi thựchành ở trường và qua những việc làm part - time như là những kinh nghiệm liênquan rất có giá trị Vì thế nó cũng là một trong những tiêu chí để đánh giá sinh viên.Bên cạnh đó, sự sáng tạo của nhân viên cũng rất cần thiết Những nhân viên có tínhsáng-tạo caorhọ4uôn4uôn-đón^

phú

1.4.3 Nhóm 3: Ngoại ngữ

Trong nền kinh tế hội nhập hiện nay, ngoại ngữ là một kĩ năng đang đượcxem trọng bởi các doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty đa quốc gia, công ty liênkết với nước ngoài Tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến nhất toàn cầu Bên cạnh đó,tiếng Trung, Nhật, Hàn cũng khá phổ biến hiện nay Có thể nhận thấy r ng sốlượng sinh viên lựa chọn học thêm tiếng nước ngoài là rất nhiều Một phần họmuốn biết thêm các thứ tiếng khác nhưng phần lớn là để đáp ứng được nhu cầutuyển dụng từ các công ty, doanh nghiệp lớn hay yêu cầu ngoại ngữ Không thể phủnhận r ng trong thời đại nền kinh tế mở như hiện nay, sự đầu tự từ các công ty

Trang 20

nước ngoài tại Việt Nam ngày càng nhiều nên việc sử dụng thành thạo ngoại ngữdường như là một lợi thế Theo như trước đây, việc biết tiếng Anh hay ngoại ngữnói chung là một lợi thế thì ngày nay dường như là điều kiện cần để xin được mộtcông việc tốt ở các doanh nghiệp lớn, công ty đa quốc gia.

Ngoại ngữ bao gồm 4 kĩ năng là nghe, nói, đọc và viết nhung chúng tôi chỉchia làm 2 nhóm lớn: Nghe- nói và đọc- viết Các kĩ năng này đi liền với nhau, cácứng viên nghe và hiểu được các tiếng nước ngoài thì ắt hẳn phải nói, giao tiếpđược Trong một số môi trường doanh nghiệp, các ứng viên cần phải sử dụng ngoạingữ như một ngôn ngữ chính để giao tiếp Vì vậy, các ứng viên không biết hoặcthành thạo ngoại ngữ dễ bị đào thải hay không được tuyển dụng vào các vị trí mongmuốn, làm đúng ngành đúng nghề Họ không có khả năng giao tiếp b ng ngôn ngũ'yêu cầu thì họ không thể tồn tại trong môi trường đó được

Ngài Howard Low, phó tổng giám đốc VP Bank, nhận định: “sinh viên họctại môi trường quốc tế sẽ có khả năng thăng tiến nhanh hơn những sinh viên khácbởi họ có lợi thế về ngoại ngữ và cách tư duy” Những sinh viên này được làm quenvới môi trường giao tiếp và học tập b ng ngôn ngữ nước ngoài Họ được làm quenvới cách tư duy và văn hóa giao tiếp từ các giảng viên nước ngoài Khi cần giaotiếp, họ không ngần ngại sử dụng những gì họ đã học và thực hành

1.4.4 Nhóm 4: Kĩ năng và thái độ làm việc

Ke đến nhóm này, chúng ta có thể thấy điểu quan trọng nhất đó chính là “thái

độ, tinh thần làm việc” Tại sao có nhiều người thăng tiến rất nhanh trên con đường

sự nghiệp, trong khi một số khác cứ "giậm chân tại chỗ"? Có thể nhiều người nghĩ

r ng lý do thành công là vì họ thông minh, tài năng, có người đỡ đầu Tuy nhiên,còn một điều quan trọng mà mọi người có thể không nghĩ đến, đó chính là thái độlàm việc Nó là kết quả của lòng quyết tâm và sự đam mê, nó cũng góp phần quantrọng cho không khí và môi trường làm việc Điều mà các nhà tuyển dụng cần làtuyển một nhân viên có nhiệt huyết, có thái độ làm việc tích cực, và có khả năngthúc đấy các đồng nghiệp hoàn thành công việc chứ không phải là một người có tài

Kỷ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Trang 21

năng chỉ muốn ngồi và“ chỉ tay năm ngón” Khi được giao phó một công việc, dùlớn hay nhỏ, các công ty hay doanh nghiệp đều muốn nhân viên hoàn thành tốt vớitinh thần làm việc thoải mái Vì vậy, nếu nhân viên của mình không nhiệt huyết,không đam mê, chắc chắn kết quả công việc sẽ không được mong muốn Một nhânviên thành công luôn làm việc với một tình yêu đối với công việc, một sự nhiệt tìnhcho dù đó là việc gì Việc lựa chọn đúng người sẽ mang lại cho doanh nghiệp sựthành công và thăng tiến Bà H ng Nga - Trưởng phòng Tổ chức nhân sự - hànhchính TT Thương mại Biti s miền Bắc - cho biết: “Trên thực tế, người giỏi chưachắc đã làm việc tốt Một người giỏi chuyên môn nhưng lười biếng, thiếu tráchnhiệm, không nghiêm túc trong công việc thì năng lực đó cũng không đem lại giátrị cho công ty Vì vậy, khi tuyển dụng, chúng tôi rất chú ý tới thái độ, cách ứngxử của ứng viên, coi đó là tiêu chu n quan trọng không kém năng lực chuyênmôn” Qua đó,có thể thấy r ng các nhà tuyển dụng rất quan tâm đến tiêu chí này.Thứ hai, đó chính là khả năng chịu áp lực của công việc và tác phong làmviệc bởi điều đó chứng tỏ được nhân viên có biết cách sắp xếp được công việc củamình không Làm việc có kế hoạch, tinh thần trách nhiệm, chuyên tâm đối với côngviệc là những yêu cầu mà nhà tuyển dụng muốn tìm ở các ứng viên Khối lưạng-công-việe-eủa-mỗi-người k^

không biết lập kế hoạch và dự tính thời gian hoàn thành thì họ không thể giải quyếtnhanh và hoàn thành tốt công việc

Thứ ba là tuân thủ kỉ luật Mỗi công ty đều đặt ra những quy tắc mà các nhânviên buộc phải tuân theo Họ muốn nhân viên mới cũng cần phải tôn trọng và chấphành nội quy về giờ giấc, cung cách nơi làm việc Một nhân viên chuyên nghiệpkhông thể có hành vi tự làm theo ý mình, không thực hiện đúng chức trách, nhiệm

vụ được phân công, làm việc tùy tiện, không theo quy định của tổ chức, công tỵ

1.4.5 Nhóm 5: Kiến thức hiểu biết Xã hội

Theo đánh giá của khá nhiều nhà tuyển dụng từ phiếu điểu tra chúng tôi thuthập được, khá nhiều sinh viên sau khi ra trường với tấm b ng khá, giỏi nhưng

Trang 22

thiểu hiểu biết xã hội trầm trọng, từ đó dẫn đến hiệu quả công việc không nhưmong muốn, về mảng này chúng tôi xin đưa ra ý kiến sau, có dựa theo đánh giá sơ

bộ từ các nhà tuyển dụng

Sự am hiểu kiến thức chung của kinh tế, xã hội, chính trị của nhân lực mới ratrường là vô cùng yếu Đa phần các sinh viên trẻ đều không theo dõi thường xuyênbản tin thời sự, báo chí, đồng nghĩa với việc họ không nắm được chính xác sự kiệnchính trị nào đang diễn ra, tình hình kinh tế tài chính có nhiều biển đổi như thế nào.Hiểu rõ được thời cuộc là yếu tố vô cùng cần thiết cho mỗi nhà làm kinh tế, bởi từnhững thông tin từ nền kinh tế thị trường chung của toàn cầu, họ sẽ xây dựng chiếnlược kinh doanh hiệu quả vào đúng thời gian nhu cầu của con người tăng cao Vậymột sinh viên mới khởi nghiệp càng cần hiểu biết sâu rộng tới mọi khía cạnh củatình hình thế giói đang tác động lên Việt Nam như thế nào

Kỳ yểu Hội nghị KHSVKhoa Quốc tể - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Trang 23

CHƯƠNG 2: NGHIÊNc ứ u THựC TẾ

2.1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

Những phân tích trên cho thấy về mặt đánh giá chung thì mỗi kỹ năng đề cónhững điểm mạnh và những hạn chế Để giúp sinh viên và các đơn vị đào tạo cóđược cái nhìn cập nhật nhất và khách quan nhất thì tiếng nios của các nhà tuyểndụng là một nguồn rất quan trọng Mục tiêu của nghiên cứu là tìm hiểu sự đánh giácủa nhà tuyển dụng về các khía cạnh của nhà tuyển dụng về ba mô hình đào tạonày Một cách cụ thể, nghiên cứu hướng tới hai mục tiêu:

Mục tiêu thứ nhất: Nắm bắt được các điểm mạnh, điểm yếu của mỗi loạihình đào tạo theo nhận định của các nhà tuyển dụng

Mục tiêu thứ hai: Có được lời khuyên của nhà tuyển dụng với sinh viên mới

ra trường, vừa giúp sinh viên biết tự trang bị những gì cần thiết trong quá trình học

và giúp các đơn vị giảng dạy xây dựng chương trình phù họrp, hiệu quả hơn

2.2 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU:

Câu hỏi 1: Nhà tuyển dụng đánh giá ra sao về các khía cạnh chuyên môn, kỹnăng, ngoại ngữ, thái độ làm việc và kiến thức hiểu biết xã hội mà sinh viên tíchiũy~đơợctrong~quá-trmhhọc-ởcá^

đào tạo quốc tế?

Câu hỏi 2: Theo kinh nghiệm tuyển dụng và sử dụng lao động của những đốitượng nghiên cứu, các sinh viên tốt nghiệp từ ba loại hình đào tạo đại học trongnước, liên kết quốc tế và du học nước ngoài sẽ có được những lời khuyên thế nàođối với từng mô hình đào tạo?

2.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

Bài nghiên cứu khoa học này được khảo sát trên 80 nhà tuyển dụng và sửdụng lao động có thâm niên, nhiều kinh nghiệm ở các loại hình kinh doanh và loạihình doanh nghiệp khác nhau bao gồm: tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, dầu khí.v.v

và các loại hình doanh nghiệp bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ

Trang 24

phần, Doanh nghiệp tư nhân, Công ty nhà nước, Công ty liên doanh, và Doanhnghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam Nghiên cứu còn được tập trung vào cáccông ty, tập đoàn hàng đầu Việt Nam như VIB Bank, Agribank, Tập đoàn dầu khíViệt Nam.v.v.

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u

2.4.1 Phương pháp xây dựng bản hỏi:

Bân hỏi được xây dựng bởi các thành viên trong nhóm nghiên cứu cùng với

sự hỗ trợ của giáo viên hướng dẫn Trước khi được gửi cho các nhà tuyển dụng (đốitượng chính của nghiên cứu) thì nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm bản hỏi trên haimẫu nhỏ: một mẫu là sinh viên và một mẫu là nhà tuyển dụng Sau khi việc chọnmẫu thử nghiệm sinh viên giúp việc xây dụng nội dung bản hỏi hoàn chỉnh hon.Việc chọn mẫu nhà tuyển dụng giúp khẳng định tính rõ ràng, dễ hiểu của các câuhỏi với nhà tuyển dụng Bản khảo sát được hoàn chỉnh khâu cuối cùng b ng việcđánh giá và điều chỉnh của các nhà tuyển dụng và sử dụng lao động cho phù họpvới tình hình thực tế cũng như tính chất công việc khác nhau của người lao động.2.4.2 Thu thập dữ iiệu:

Nhóm nghiên cứu triển khai thu thập dữ liệu theo hai kênh: kênh trực tiếpvới bản câu hỏi đã in sẵn và kênh online (http://tinyurl.com/survey-CLSV2011).Kết quả thu được là 80 bản trả lòi đạt yêu cầu để phân tích, số lượng 80 bản chưaphải là nhiều, song do đối tượng nghiên cứu là nhà tuyển dụng (quản lý) cấp trung

và cao nên việc tiếp cận gặp khó khăn

2.4.3 Phương pháp phân tích:

Nghiên cứu sử dụng phân tích định lượng với các kỹ thuật cơ bản: phân tích

mô tả, phân tích tần xuất, phân tích so sánh mẫu không độc lập (Paired - Sample TTest), mẫu độc lập (T - Test Student) Các phân tích được thực hiện với phần mềmSPSS

Kỷ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tể - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Trang 25

2.5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:

2.5.1 Đánh giá chung của nhà tuyển dụng về chất lượng của ba mô hình đào

-Trước khi làm sáng tỏ câu hỏi nghiên cứu về đánh giá của nhà tuyến dụng,chúng tôi đã phân tích đánh giá chung về chất lượng của nhà tuyển dụng về ba loạihình đào tạo trong nước, liên kết quốc tế, và du học nước ngoài như sau:

Bảng 2: Đánh giá của nhà tuyển dụng về chất lượng đào tạo của ba loại hìnhđào tạo: (1 - rất kém; 2 - kém; 3 - trung bình; 4 - tốt; 5 - rất tốt)

Qua kết quả thống kê của bảng 2, đánhg giá chung của nhà tuyển dụng về chất

lượng của ba mô hình đào tạo như sau: Loại hình du học nước ngoài được đánh giá

ở khá tốt với điểm trung bình là 4.3250/5 Trong khi đó hai mô hình đào tạo đại họctrong nước và liên kết quốc tế chỉ được các nhà tuyển dụng đánh giá ở mức độ trêntrung bình với đánh giá trung bình lần lượt là 3.250/5 và 3.9500/5

Tiêu chí

Học toànphần tạiViệtNam

Học cácchươngtrìnhliên kết

Du họcnướcngoài

(1) (2) (3)

(D-(2) sig

(3) sig

(2)-(1) sig

Trang 26

K ỷyén Hội nghi KHSV Khoa Quéc té - ĐHQGHN lần thủ 4(12/2011)

Đánh giá về chất lượng đào tạo của

Hình 1: giá về chất lượng đào tạo của chương trình đào tạo trong nước

Đối vói chương trình đào tạo trong nước, dựa trên 5 mức độ đánh giá trongbản khảo sát, kết quả thu được đều thể hiện rõ cả 5 mức độ này, cụ thể như sau Có54% nhà tuyển dụng đánh giá sinh viên tốt nghiệp trong nước là tốt, tiếp theo làmmức độ trang bình được 39% đánh giá Phần trăm còn lại đu'Ọ'c chia cho các mức

độ rất tốt, kém và rất kém Ịần lưọt là 2%, 4% và 1 % Sợ r ng các đáng giá chungnày bị ảnh hướng bỏ'i sự hiểu biết của nhà tuyển dụng, chúng tôi đã thông kế đươc

r ng, tính trung bình tất cả các nhà tuyển dụng đều đánh giá chương trình đào tạotrong nước ở mức độ trên trung bình

Group Statistics

Q1TN Numbers Mean Std Deviation std ErrorMean Sig (2-tailed)

Trang 27

Bảng 3: Sự hiểu biết của nhà tuyển dụng về mô hình đào tạo trong nước ảnhhưởng lên đánh giá chung chất lượng của đào tạo trong nước

Trong đó 82.50 % nhà tuyển dụng biết rất rõ về loại hình đào tạo này đánhgiá trung bình cho loại hình đào tạo này là ở mức trên trung bình với 3.4848/5 vàđối với 17.50% nhà tuyển dụng ở nhóm biết một chút và không biết về loại hìnhđào tạo này đánh giá mức độ trên trung bình của loại hình đào tạo trong nước caohơn với 3.7143/5 Giả thuyết được đặt ra là khi các nhà tuyển dụng được đã biết rất

rõ về chương trình đạo tạo này rồi nên đánh giá của họ được suy xét chặt chẽ hơnnhững người biết một chút hoặc chưa biết gì

Đánh giá về chát lượng đào tao của

chương trình đào liên kêt

Hình 2: Đánh giá về chất lượng đào tạo của chương trình đào tạo liên kếtKhông giống như đánh giá chung của nhà tuyển dụng lên chương trình đàotạo trong nước với 5 mức đánh giá khác nhau, ở chương trình đào tạo liên kết quốc

tế chỉ có 3 mức độ được đánh giá cụ thể như sau Phần nhiều nhất là 54% đượcđánh giá mô hình đào tạo này là tốt, với mức trung bình liên kết quốc tế dành được24% sự đánh giá và chỉ số cuối cùng là mức độ rất tốt với 19%

Trang 28

Kỷ yểu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tể - ĐHQGHN lần thủ 4 (12/2011)

Group Statistics Q1LK N Mean Std Deviation

Std Error Mean

Đánh giá v chất Iupợng đào tạo của du I

hoc nước ngoài

Trang 29

Kết quả phần đánh giá chung của nhà tuyển dụng đối với mô hình đào tạonước ngoài khá tốt cũng chỉ với 3 mức độ đánh giá, trung bình, tốt và rất tốt nhưchương trình đào tạo liên kết quốc tế Cụ thể trong đó, 48% là số phần trăm nhàtuyển dụng đánh giá chung chương trình đào tạo du học nước ngoài với mức độđánh giá là tốt, số phần trăm nhà tuyển dụng đánh giá mô hình đào tạo này ở mứcrất tốt là 45%, và ở mức độ đánh giá trung bình chỉ số này khá khiêm tốn với chỉ7% nhà tuyển dụng đánh giá.

Group Statistics Q1NN N Mean Std Deviation

Std Error Mean

biết về mô hình đào tạo chiếm 61.25% đánh giá trung bình r ng mức độ chất lượngcủa đào tạo du học nước ngoài là 4.2449/5

2.5.2 Đánh giá của nhà tuyển dụng về sinh viên tốt nghiệp ở ba loại hình đàotao

Kết quả phân tích dữ liệu định lượng đã làm sáng tỏ câu hỏi nghiên cứu vềđánh giá của nhà tuyển dụng đối với sinh viên tốt nghiệp ở ba loại hình đào tạotrong nước, liên kết quốc tế và du học nước ngoài, cụ thể như sau:

Bảng 6: Đánh giá của nhà tuyển dụng cho tòng tiêu chí đối với 3 loại hìnhđào tạo (5-Rất tốt, 4- Tốt, 3- Trung bình, 2- Kém, 1- Rất kém)

Trang 30

Kỷ yếu Hội nghị KHSVKhoa Quốc tể - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Tiêu chí

HọctoànphầntạiviệtNam

Họccácchươn

g trìnhliênkết

Du họcnưócngoài-1 -2 -3 (l)-(2) sig (2)-(3) sig (3)-(l) si

sáng

tạo

2.487

5 3.825 4.2625 1.3375 000 0.4375 000 1.775 000

Trang 31

thủ kỉ

ỉuật

3.487

5 3.8375 4.15 -0.35 000 0.3125 0.004 0.6625 00.0+ Thái

Trang 32

về kinh nghiệm làm việc và tuân thủ tiến độ công việc, cả hai tiêu chí này được cácnhà tuyển dụng đánh giá có kết quả tương đồng, các chương trình liên kết đào tạovới các trường nước ngoài được đánh giá là có sinh viên tốt nghiệp với kinhnghiệm và biết tuân thủ tiến độ công việc được giao tốt hơn hai loại hình còn lại.

Có thể việc vận dụng cáe kiến thức mới và kỷ năng trong quá trình học liên kếtđược áp dụng thích hơp vào thực tế môi trường làm việc Việt Nam làm cho sinhviên các chương trình liên kết được đánh giá cao

2.5.2.2 Kỹ năng mềm:

về khía cạnh sử dụng máy tính, các nhà tuyển dụng cho r ng ở hai mô hìnhđào tạo liên kết và du học nước ngoài sinh viên thành thạo sử dụng máy ví tính hơngiáo dục đại học trong nước Áp dụng khoa học công nghệ vào vào học đường luônđược các nhà giáo dục nước ngoài quan tâm đầu tư, hơn nữa các môn học có thểđược học trên máy tính nên sinh viên liên kết quốc tế và du học nước ngoài đượcđánh giá cao hơn Với kết quả phân tích lần lượt là 3.9375/5 và 4.225/5 dành chosinh viên trong môi trường đào tạo liên kết và du học ở kỹ năng giao tiếp/ thuyếttrình, chỉ số này khá cao so vói mức độ khiêm tốn 3.0375/5 của sinh viên học trongnước Các chương trình học nước ngoài có những môn học về kỹ năng giao tiếp,đàm phản, giao tiếp công chúng.V.V cũng như các môn học thiên về lý thuyết đềuphải làm thuyết trình thường xuyên trong suốt quá trình học không như các trườngđại học Việt Nam, chính điều này đã dẫn đến sự khác đánh giá như thế Kỹ nănggiải quyết tình huống ở ba loại hình đều không được đánh giá cao, cụ thể mức độtrên trung bình dành chương trình du học và liên kết; và chương trình đại học trongnước ở mức kém hơn với 2.8125/5 Sự không tương đồng có thể giải thích với đặcthù đào tạo mở, giao thoa văn hóa, cũng như chỉ số giao tiếp được đánh giá cao nênviệc giải quyết tình huống của đào tạo liên kết và du học được đánh giá cao hơnmột bật so với đào tạo trong nước Tính sáng tạo được đánh giá khá tốt 4.2625/5với chương trình đào tạo nước ngoài, và chương trình liên kết quốc tế và đào tạotrong nước lần lượt là trung bình 3.825/5 và kém 2.4875/5 Điều này được thể b ng

Kỷ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quắc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Trang 33

việc tư duy của người nước ngoài thường tốt hơn người Việt Nam, hơn nữa cácgiáo viên nước ngoài thường khuyết khích khơi dậy tính sáng tạo trong sinh viên

b ng nhiều hình thức khác nhau Một ví dụ điển hình là cuộc thi sáng tạo logo dànhcho sinh viên cho chương trình liên kết quốc tế giữa Khoa Quốc tế - ĐHQG Hà Nội

và đại học Keuka, Hoa Kỳ Khía cạnh làm việc nhóm/tinh thần tập thể, sinh viênđào tạo liên kết và du học vẫn được đánh giá cao hơn chương trĩnh trong nướcnhưng chỉ ở mức độ trên trang bình và chương trình trong nước ở nước ở mức kém.Trong quá trình học từ năm nhất, thậm chí là dự bị đại học đến khi ra trường cácchương trình đạo tạo liên két và du học sinh viên đều được chia thành nhóm đểthuyết trình nhóm, làm bài tập nhóm, làm dự án nhóm đó là lý do sinh viên ViệtNam học các chương trình trong nước rất khó làm việc nhóm khi đi làm về khảnăng hoạt động xã hội, cả ba mô hình đều ở mức độ trên trung bình, tuy nhiênchương trình đào tạo liên kết được đánh giá cao hơn hai chương trình còn lại Cácbạn sinh viên đi du học nước ngoài và liên kết làm hoạt động xã hội rất tốt vì nó

n m trong chương trình học và môn học, tuy nhiên các bạn sinh viên đi du học khi

về Việt Nam các bạn thường khó phát huy được như thế, đó lả lý do các bạn họcchượng trình liên kết được đánh giá cao hơn, có thể lấy ví dụ về môn họcExperimental Learning II của Khoa Quốc tế với chương trình liên kết dào tạo Cửnhân Khoa học Quản lý

Trang 34

chương trình liên kết đào tạo vềkỹ năng đọc và viết sinh viên đào tạo trong nướcchỉ ở mức độ kém so với hai chương trình đào tạo còn lại được đánh giá tốt hơn vìcác bạn ấy trong quá trình học chỉ sử dụng ngoại ngữ để học nên việc đọc và viếtngoại ngữ tốt hơn là điều tất nhiên.

2.5.2.4 Th i độ làm việc:

v ề tác phong trong công việc, sinh viên du học nước ngoài và liênk đượcđánh giá tốt hơn các bạn sinh viên đào tạo trong nước mặc dù cùng ở mức độ trungbình Các chương trình liên kết và đào tạo du học có các môn học về văn hóa công

sở và văn hóa doanh nghiệp như Business Ethics, cũng như bị ảnh hưởng nhiều vềvăn hóa và tác phong nước ngoài nên các bạn có tác phong tốt hơn về hai khíacánh tuân thủ kỷ luật và thái độ làm việc, chương trình đào tạo nước ngoài đượcđánh giá khá tốt trong khi hai chương trình còn khác chỉ dừng lại ở mức độ trêntrung bình Kết quả này có thể là kết quả tù' việc kỷ luật và thái độ học tập nghiêmkhắc trong khi đi học nước ngoài đã hình thành cho các bạn sinh viên khi về nướcvẫn biết chấp hành nghiêm túc kỷ luật và có thái độ làm việc tích cực và hợp táchon

2.5.2.5 Kiến thức hiểu biết về xã hội:

Các nhà tuyển dụng đã đánh giá sinh viên đi du học nước ngoài có Yốn hiểubiết xã hội cao hơn cụ thế là ỏ' mức độ khá tốt so vói các bạn du học tại chỗ và đàotạo trong nước chỉ mức độ trên trung bình Môi trường đào tạo nước ngoài hìnhthành cho các bạn sinh viên chúng ta thói quen đọc sách, ham hiểu biết và thích thúnghiên cứu, tìm tòi, học hỏi cái mới; hơn nữa việc đi nhiều nơi sẽ cho các bạn nhiềukiến thức xã hội hơn hai loại hình đào tạo còn lại

2.5.3 Lời khuyên của nhà tuyển dụng:

Theo kinh nghiệm tuyển dụng và sử dụng lao động của những đối tượngnghiên cứu, các sinh viên tốt nghiệp từ ba loại hình đào tạo đại học trong nước, liênkết quốc tế và du học nước ngoài sẽ có được những lời khuyên thế nào đối với từng111Ôhình đào tạo?

Kỷ yểu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Trang 35

2.5.3.1 C c điểm yếu sinh viên mới tốt nghiệp cần tr nh

Dựa trên những đánh giá của nhà tuyển dụng chúng tôi đã tổng họp và đưa ranăm điểm yếu chính của sinh viên mới ra trường dựa trên ba loại hình đào tạo trongnước, liên kết quốc tế, đào tạo nước ngoài

Bảng 7: Thống kê những điểm yếu chính của sinh viên mới tốt nghiệp

Kỹ năng công việc

1 Thiêu kinh nghiệm (78/80 người)

2 Khả năng thích nghi với môi trường

công sở kém (67/80 người)

3 Ngại học hỏi (34/80 người)

4 Lười nghiên cứu (32/80 người)

5 Không có mục tiêu công việc (21/80

người)

6 Chưa có mối quan hệ xã hội (05/80

người)

7 Ảo tưởng về công việc (7/ 80 người)

8 Thái độ làm việc (04/80 người)

Kỹ năng khác1) Thiêu kỹ năng mêm (64/80người)

2) Thụ động (35/80 người)3) Không sáng tạo (24/80 người)4) Kỹ năng làm việc nhóm kém(37/80 người)

5) Ngoại ngữ không tốt (31/80người)

6) Thiếu kiến thức xã hội (39/80)7) Kỹ năng thuyết trình kém(18/80 người)

8 r TffiỀrldềĩTnlĩẫrr(23780 ngươi)9) Thiếu tự tin (38/80 người)10) Yêu cầu quá cao so với thực lực(42/80 người)

Trên đây là bảng kêt quả dựa theo phiêu điêu tra vê ý kiên của các nhà tuyêndụng về năm điểm yếu chính của sinh viên khi mới ra trường chúng tôi đã thu nhậnđược Sau khi phân tích kiểm kê, dựa theo số lượng người chọn nhiều nhất, tính từtrên xuống dưới, chúng tôi đưa ra kết quả về năm điểm yếu chính của nguôn nhânlực trẻ mới ra trường như sau:

1 Thiếu kinh nghiệm (78/80 người - 97.50%)

Trang 36

Kỷ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

2 Khả năng thích nghi với môi trường công sở kém (67/80 người - 83.75%)

3 Thiếu kỹ năng mềm (64/80 người - 80.00%)

4 Yêu cầu quá cao so với thực lực (42/80 người - 52.50%)

5 Thiếu kiến thức xã hội (39/80 người - 48.75%)

2.5.3.1.1 Thiếu kinh nehiêm:

Đầu tiên, việc thiếu kinh nghiệm chuyên môn là vấn đề không còn quá xa lạđối với cả nhà tuyển dụng lẫn sinh viên mới ra trường khi ngày nay chương trìnhgiảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng còn quá xa lạ với thực tế công việc Hầuhết sinh viên học tập trong nước đều có chung phản hổi sau khi đi thực tập, nghiêncứu, khảo sát hoặc khoảng thời gian làm việc tại các cơ quan nhà nước, tư nhân,

r ng lý thuyết trong giảng đường rất khác so với kỹ năng chuyên môn họ được biếttrong thực tế công việc Họ hoàn toàn bị động trong vấn đề áp dụng lý thuyết vàothực tế, nói cách khác họ rơi vào tình trạng nắm lý thuyết rất vững nhưng không thể

áp dụng vào công việc chuyên môn Một số ý kiến khác về chương trình liên kết ởmột số trường tại Việt Nam cũng cho r ng còn quá nhiều lí thuyết trong chươngtrình học và vẫn xem nhẹ việc thực hành tại môi trường bên ngoài nhà trường.Cũng có ý kiến về nguồn nhân lực được đào tạo tại nước ngoài, về vấn đề mô hìnhlàm việc tại Việt Nam vẫn còn chưa hội nhập quốc tế hoàn toàn, chính vì vậy, duhọc sinh nước ngoài về cũng chưa thực sự hiểu rõ cơ chế làm việc của các cơ quanđoàn thể tại Việt Nam Chưa kể, một bộ phận lớn sinh viên ra trường đi làm khôngđúng nghành nghề được đào tạo trong nhà trường, họ bắt buộc phải tụ- học từ thực

tế làm việc với cấp trên, đồng nghiệp

Không chỉ khó cho nhà tuyển dụng khi xét kinh nghiệm làm việc của sinhviên mà bản thân nguồn nhân lực trẻ này cũng khá khó khăn khi đi tìm việc ởnhững công ty, doanh nghiệp, tổ chức yêu cầu đáp ứng kinh nghiệm làm việc từ hainăm trở lên Xét về ldiía cạnh của nhà tuyển dụng, không dễ dàng để giao việc chonhân viên chưa có kinh nghiệm thực hiện thao tác hoặc ứng dụng kỹ thuật chuyênmôn trong những công việc đòi hỏi sự từng trải, kỹ năng thao tác tốt, nhanh nhẹn,

Trang 37

C n thận, chính xác về khía cạnh của nguồn nhân lực trẻ này, họ thiếu kinhnghiệm, họ thiếu luôn cơ hội cạnh tranh với những ứng viên ra trường trước, đượcđào tạo từ thực tế nhiều hơn Hiếm cơ quan nhà nước, doanh nghiệp tư nhân nhậnsinh viên còn đang đi học đảm nhiệm vị trí nhân viên của mình khi kiến thức hay kĩnăng của ứng viên trẻ còn chưa đủ đáp ứng với tiêu chí chọn lựa nhân viên Vậyviệc lấy kinh nghiệm từ thực tế trong môi trường công sở với sinh viên hầu nhưdừng lại ở tần xuất thấp nhất.

2.5.3.1.2K hả n ă n s thích ngh i m ô i trường:

Vấn đề này khá là rõ ràng trong các cơ quan hoạt động kinh doanh, doanhnghiệp tư nhân khi một nhân viên mới nhận việc, nhất là một nhân viên non kém về

kỹ năng chuyên môn, cần phải được đào tạo, học hỏi tích cực Các nhà tuyển dụng

là những người nắm rõ nhất về khả năng này của nhân viên Nhân viên mới vềthường có rất nhiều sai sót và thiếu kiến thức về vấn đề họ sẽ phải đương đầu trongmôi trường công sở Họ thiếu hòa nhập với các nhân viên cũng như cấp trên Họkhó nắm bắt công việc được giao, thường xuyên mắc lỗi trong những công việc đơngiản nhất, thậm chí cũng không nắm rõ quy trình thực hiện công việc Điều này đặcbiệt quan trọng trong những cơ quan đòi hỏi thao tác hệ thống xử lí công việc trênìnãyYiTínirvalĩộTtlung soạn tMõìrong mộWărrldỆrrtìrcỡ~baĩrđếrrpliức'tạp:

Lý do để 67 người trên tổng số 80 người phản hồi phiếu điều tra “Năm điểmyếu của sinh viên mới ra trường” về khả năng thích nghi với môi trường của sinhviên không hẳn không chính đáng khi chúng ta nhìn vào thực trạng của sinh viênhiện tại Nếu trong môi trường học tập, sinh viên chỉ quen với việc học tập, trau dồikiến thức, thì trong môi trường công sở, nhân viên phải cạnh tranh dưới áp lực nặngtrong guồng máy công việc phức tạp Thêm vào đó, kinh nghiệm chuyên môn nonyếu cũng làm giảm khả năng thích nghi với môi trường của các cựu sinh viên tìmviệc làm

Trang 38

2.5.3.1.3 Thiếu kỹ năns mềm:

Kỹ năng mềm có thể coi là một trong những tiêu chí quan trọng vô cùng củamột nhân viên tiềm năng cũng như nhân viên thâm niên Đa phần sinh viên mới ratrường đều yếu kém các phần kỹ năng mềm, như khả năng tin học, khả năng thuyếttrình trước đám đông, khả năng giao tiếp, khả năng sáng tạo.v.v

v ề mảng tin học, nếu với khối nghành nghề sử dụng các công cụ hỗ trợnghiệp vụ yêu cầu chế độ bảo mật và tính chính xác cao như kế toán, ngân hàng, tàichính, kiểm toán, mỗi công ty, doanh nghiệp đều sử dụng những phần mềm dànhriêng cho nghiệp vụ chuyên môn của cơ quan mình Một điều chắc chắn đối vớinhân viên mới vào làm chính là việc học cách sử dụng những loại phần mềm này.Nếu sinh viên không làm quen những thao tác căn bản với máy vi tính từ trước thìthực sự rất khó cho họ thao tác những bước đòi hỏi trình độ nâng cao về tin học.Đối với mảng thuyết trình trước đám đông và mảng giao tiếp đặc biệt kháquan trọng khi một nhân viên được nhận vào làm tại một môi trường mới Họ cầntạo sự thân thiện, tinh thần ham học hỏi, kính trên nhường dưới đối với mọi cấp bậctại công ty, doanh nghiệp công tác Tuy nhiên, nếu họ không thể hòa nhập với môitrường làm việc ở đây, không điều gì đảm bảo họ có thể tiếp tục làm việc và họchỏi những kiến thức chuyên môn cần thiết cho bản thân Thuyết trình trước đámđông sẽ trở nên thật đáng sợ đối với những người không thực sự chu n bị cỊb.0 bàidiễn thuyết của mình, hoặc không nẵm vững đề tài cần phát biểu, xây dựng, hoặckhông thể tiết chế đưọ'c cảm xúc của bản thân, quá căng thẳng dẫn đến nói lắp,quên nội dung Đối với những sinh viên chưa từng tham gia các hoạt động ngoạikhóa của trường sẽ không đơn giản để tự tin thể hiện mình trước đám đông Hơnthế nữa, chương trình học tại một số trường đại học trong nước không hề áp dụnghình thức giạng dạy và thực hành kỹ năng thuyết trình, v ề vấn đề này, các chươngtrình liên kết và chương trình giáo dục của rurác ngoài khá chú trọng khi đề ra mộtmôn giảng dạy về kỹ năng giao tiếp và thuyết trình trước đám đông

Kỷ yến Hội nghị KHSV Khoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Ngày đăng: 14/05/2021, 18:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w