1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn tốt nghiệp tổng hợp zeolite naa từ silica tro trấu nghiên cứu khả năng hấp thụ của silica và naa

94 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận Văn Tốt Nghiệp Tổng Hợp Zeolite Naa Từ Silica Tro Trấu Nghiên Cứu Khả Năng Hấp Thụ Của Silica Và Naa
Tác giả Hoàng Thị Ngọc Nữ
Người hướng dẫn TS. Phan Thị Hoàng Oanh
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm TP HCM
Chuyên ngành Hóa Vô Cơ
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 4,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • BÌA

  • LỜI TRI ÂN

  • MỤC LỤC

  • MỤC LỤC BẢNG

  • MỤC LỤC HÌNH

  • LỜI MỞ ĐẦU

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

    • 1.1. Silica tro trấu

      • 1.1.1. Giới thiệu silica

      • 1.1.2. Cấu trúc silica

      • 1.1.3. Tính chất silica

      • 1.1.4. Ứng dụng silica

      • 1.1.5. Điều chế silica từ vỏ trấu

      • 1.1.6. Thành phần silica trong tro trấu

    • 1.2. Zeolite

      • 1.2.1. Giới thiệu zeolite

      • 1.2.2. Khái niệm zeolite

      • 1.2.3. Cấu trúc zeolite

      • 1.2.3. Phân loại zeolite

      • 1.2.4. Tính chất zeolite

      • 1.2.5. Ứng dụng zeolite [1]

      • 1.2.6. Tổng hợp zeolite [1]

      • 1.2.7. Giới thiệu về zeolite NaA

    • 1.3. Cơ sở lý thuyết hấp phụ

      • 1.3.1. Hiện tượng hấp phụ

      • 1.3.2. Hấp phụ trong môi trường nước

      • 1.3.3. Cân bằng hấp phụ - Các phương trình đẳng nhiệt hấp phụ

  • CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    • 2.1. Nội dung nghiên cứu

      • 2.1.1. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình điều chế silica tro trấu

      • 2.1.2. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp phụ màu metylen xanh của silica tro trấu

      • 2.1.3. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp zeolite NaA

      • 2.1.4. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp phụ màu metylen xanh của zeolite NaA

    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu

      • 2.2.1. Phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD: X-ray Diffraction) [2]

      • 2.2.2. Phương pháp kính hiển vi điện tử quét (SEM: Scanning Electron Microscope) [2]

      • 2.2.3. Phương pháp xác định diện tích bề mặt riêng (BET: Brunauer – Emmett - Teller) [8, 9]

      • 2.2.4. Phương pháp xác định thành phần nguyên tố (XRF: X-ray Fluorescence) [38]

      • 2.2.5. Phương pháp trắc quang xác định nồng độ (UV – VIS) [6]

  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

    • 3.1. Điều chế silica tro trấu

      • 3.1.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình điều chế silica tro trấu

      • 3.1.2. Phân tích thành phần silica tro trấu

      • 3.1.3. Phương pháp nhiễu xạ tia X

      • 3.1.4. Phương pháp chụp ảnh SEM

    • 3.2. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp phụ metylen xanh của silica tro trấu

      • 3.2.1. Đường chuẩn xác định nồng độ metylen xanh

      • 3.2.2. Ảnh hưởng của thời gian hấp phụ đến khả năng hấp phụ của silica tro trấu

      • 3.2.3. Ảnh hưởng của pH đến khả năng hấp phụ của silica tro trấu

      • 3.2.4. Ảnh hưởng của lượng chất hấp phụ đến khả năng hấp phụ của silica tro trấu

    • 3.3. Tổng hợp zeolite Na A

      • 3.3.1. Pha dung dịch

      • 3.3.2. Quy trình tổng hợp zeolite NaA tổng quát

      • 3.3.3. Ảnh hưởng của tỉ lệ SiO2/Al2O3

      • 3.3.4. Ảnh hưởng của tỉ lệ Na2O/SiO2

      • 3.3.5. Ảnh hưởng của chế độ thủy nhiệt và thời gian già hóa

    • 3.4. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp phụ metylen xanh của zeolite Na A

      • 3.4.1. Ảnh hưởng của thời gian hấp phụ đến khả năng hấp phụ của zeolite NaA

      • 3.4.2. Ảnh hưởng của pH đến khả năng hấp phụ của zeolite NaA

      • 3.4.3. Ảnh hưởng của lượng zeolite đến khả năng hấp phụ của zeolite NaA

  • CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

    • 4.1. Kết luận

    • 4.2. Đề xuất

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • PHỤ LỤC

Nội dung

Silica tro tr ấu

Silica hay silic dioxide là thành phần chủ yếu trong vỏ trái đất, kết hợp với các oxit khác như magie, nhôm, canxi và sắt, tạo thành khoáng silicat có mặt trong đá và đất.

Hàng triệu năm trước, silica dưới dạng thạch anh đã được tách ra từ đá silicat thông qua quá trình rửa bằng nước Ở một số khu vực trên trái đất, silica còn tồn tại dưới dạng vô định hình, chẳng hạn như khoáng opan.

Cấu trúc silica được mô tả bằng mô hình khối tứ diện SiO4, trong đó nguyên tử silicon (Si) nằm ở trung tâm và liên kết hóa trị với bốn nguyên tử oxy (O) ở các đỉnh của tứ diện, như minh họa trong hình 1.1.

Hình 1.1: C ấu trúc mô phỏng của tứ diện SiO 4 [11]

Ion oxi lớn hơn nhiều so với ion Si 4+, dẫn đến việc 4 nguyên tử oxi trong phân tử SiO4 tiếp xúc với nhau xung quanh ion silic ở trung tâm Kết quả là cấu trúc tứ diện hình thành, trong đó các đơn vị tứ diện SiO4 chứa các lỗ trống, được gọi là cấu trúc “lỗ rỗng tứ diện”.

Silica trong tự nhiên có thể tồn tại ở dạng tinh thể như thạch anh, cristobalite, tridymite, coesite và stishovite hoặc vô định hình như opan [11]

Tính đa hình của silica dựa trên các liên kết khác nhau của đơn vị tứ diện

[SiO 4 ] 4- , được mô phỏng như Hình 1.2

Hình 1.2: C ấu trúc mô phỏng cách thức liên kết trong silica [12]

Silica vô định hình có cấu trúc khác biệt so với silica tinh thể, được đặc trưng bởi sự sắp xếp ngẫu nhiên của các đơn vị [SiO4] 4- Hình 1.3 mô phỏng kết quả này.

Hình 1.3: C ấu trúc mô phỏng trật tự sắp xếp các đơn vị tứ diện của silica [11]

(a) Dạng vô định hình (b) Dạng tinh thể

Vỏ trấu có cấu trúc tổ ong, chủ yếu gồm silica và hợp chất hữu cơ Khi nung vỏ trấu đến khi cháy hoàn toàn, các hợp chất hữu cơ bay hơi và tro trấu chuyển từ màu xám sang trắng; màu sắc của tro phụ thuộc vào mức độ hoàn thành của quá trình nung Để thu được silica tinh khiết, vỏ trấu cần được xử lý bằng axit để loại bỏ tạp chất.

Theo dữ liệu XRD (Hình 1.4), silica tro trấu sẽ cho pic đặc trưng ở dạng pic tù ở 2θ = 22 o với cường độ pic thấp < 25 Cps, đó là dạng silica vô định hình [16, 17, 19,

Hình 1.4 trình bày gi ản đồ XRD của silica từ tro trấu, cho thấy cấu trúc vô định hình của silica Hình 1.5 là ảnh SEM của silica tro trấu, cho thấy sự không đồng nhất về hình dạng và kích thước hạt, xác nhận đặc tính vô định hình của silica.

Hình 1.5: Ảnh SEM của silica tro trấu [21]

Silica vô định hình có kích thước nhỏ, hoạt tính cao và diện tích bề mặt lớn, do đó nó được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như chất xúc tác, hấp phụ và là nguyên liệu lý tưởng để tổng hợp zeolite.

Với hoạt tính cao, trữ lượng lớn, silica tro trấu được sử dụng nhiều trong nhiều lĩnh vực:

Phụ gia hoạt tính cho xi măng giúp cải thiện độ ổn định thể tích và tăng cường độ bền nước của sản phẩm.

Silica được sử dụng làm chất độn trong nhiều ngành công nghiệp như giấy, cao su, sơn, thủy tinh, keo dán, thuốc trừ sâu và phân bón Việc thêm silica vào các vật liệu này giúp cải thiện đáng kể các tính chất của chúng.

Chất xúc tác được sử dụng để tăng tốc độ phản ứng oxi hóa các hợp chất hữu cơ, đồng thời nâng cao hiệu suất của quá trình này.

 Dùng làm nguyên liệu tổng hợp những vật liệu ưu việt, đắt tiền, nhiều tính năng hơn như:

Aerogel là một vật liệu nổi bật với đặc tính nhẹ, khả năng cách điện tốt, độ xốp cao và diện tích bề mặt lớn Nhờ những ưu điểm này, aerogel được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, bao gồm vật liệu cách điện, cách nhiệt, hàng không vũ trụ, kính chống đạn và các thiết bị phát hiện.

• Tổng hợp zeolite – một vật liệu có nhiều ứng dụng với những tính năng vượt trội [24, 25] (chi tiết trong phần 1.2)

1.1.5 Điều chế silica từ vỏ trấu

Silica tro trấu được điều chế bởi hai quy trình sau:

Trấu được rửa sạch và sấy khô, sau đó được xử lý bằng cách đun hồi lưu với dung dịch axit như HCl, HNO3 hoặc H2SO4 ở nhiệt độ 373K trong thời gian ngắn Sau khi lọc lấy trấu, sản phẩm được sấy khô và xử lý nhiệt bằng cách nung ở nhiệt độ cao.

Trấu được rửa sạch và sấy khô, sau đó ngâm trong dung dịch axit như HCl, HNO3, H2SO4 trong 24 giờ để loại bỏ tạp chất Sau khi lọc và sấy khô, trấu sẽ được xử lý nhiệt bằng cách nung ở nhiệt độ cao.

Trong khóa luận này, chúng tôi điều chế silica tro trấu thực hiện theo quy trình

2, vì điều kiện này ít tốn kém năng lượng, có thể điều chế lượng tro nhiều, áp dụng được với quy mô lớn, nhằm giảm giá thành sản phẩm

1.1.6 Thành phần silica trong tro trấu

Cấu trúc vỏ trấu bao gồm lớp màng polymer và silica, với khoảng 20% tro thu được khi nung ở nhiệt độ cao Tro trấu chứa 87÷97% silica vô định hình dạng, tương tự như bột silica gel.

Phân tích thành phần các nguyên tố trong vỏ trấu và thành phần các oxit trong tro trấu thể hiện trong Bảng 1.1 và 1.2

B ảng 1.1: Thành phần các nguyên tố trong vỏ trấu [34]

Zeolite

Vật liệu zeolite được khám phá đầu tiên bởi nhà khoáng học Thụy Điển, Axel

Fredrik Cronstedt vào năm 1756 Do bị mất nước khi nung nên nó có tên là “zeolite”

Cronstedt phát hiện ra rằng khi nung nóng khoáng chất này bằng đèn xì, nó phát ra âm thanh kêu rít và sủi bọt giống như đang sôi, vì vậy ông đã đặt tên cho nó là zeolite Tên gọi này xuất phát từ tiếng Hy Lạp, trong đó "zeo" có nghĩa là sôi và "lithos" có nghĩa là đá.

Zeolite đã được phát hiện từ lâu, nhưng chỉ đến thập niên 60 của thế kỷ trước, nó mới được nghiên cứu một cách sâu rộng và phát hiện nhiều ứng dụng hữu ích đa dạng.

Trong tự nhiên, có khoảng 56 loại zeolite lớn, chủ yếu được sử dụng làm vật liệu xây dựng nhẹ và chất hấp phụ trong xử lý nước thải.

Zeolite đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu nhờ vào những tính năng vượt trội của nó Nhiều công trình nghiên cứu và phát minh đã được công bố về tổng hợp zeolite, hiện nay đã có hơn 150 loại zeolite tổng hợp khác nhau.

Trong số các loại zeolite hiện có, nhiều loại zeolite tự nhiên và tổng hợp như zeolite A, zeolite X, zeolite Y, và zeolite ZSM-5 đã được nghiên cứu kỹ lưỡng về thành phần, tính chất, ứng dụng và cấu trúc tinh thể.

Zeolite là một nhóm vật liệu khoáng vô cơ aluminosilicate với cấu trúc mạng lưới anion cứng chắc, có các lỗ xốp và kênh mao quản Các khoang trống trong zeolite chứa các ion kim loại có khả năng trao đổi (như Na+, K+) và có thể giữ lại hoặc trao đổi với các phân tử bên ngoài Kích thước của các khoang trống này khoảng 0,2÷2 nm, vì vậy zeolite được phân loại là vật liệu vi mao quản.

Zeolite có công thức chung là:

Với M là cation hóa trị n dùng để trung hòa điện tích âm của mạng lưới aluminosilicate [4, 27]

1.2.3 Cấu trúc zeolite Đơn vị cấu trúc của zeolite là các tứ diện silica [ SiO 4 ] 4 − và tứ diện alumina [ AlO 4 ] 5 − liên kết với nhau qua các đỉnh oxi chung

Hình 1.6: C ấu trúc mô phỏng liên kết của 2 tứ diện [4]

Khi tất cả các oxy trong tứ diện silica được sử dụng chung, tứ diện silica sẽ trở nên trung hòa về điện Sự thay thế nguyên tử Si(IV) bằng Al(III) trong cấu trúc zeolite tạo ra một điện tích mới.

Zeolite có khả năng trung hòa điện tích âm nhờ sự hiện diện của các cation dương như Na+, K+, Ca2+ và Mg2+ Các cation này không chỉ bù trừ điện tích âm mà còn tạo ra tính chất trao đổi ion đặc trưng của zeolite.

Các tứ diện có thể dùng chung số oxi khác nhau tạo nên các đơn vị cấu trúc thứ cấp

Các đơn vị xây dựng thứ cấp (SBU) của zeolite rất đa dạng, được mô hình hóa bằng cách biểu diễn nguyên tử trung tâm của các tứ diện thông qua các nút mạng ở đỉnh, với các đường nối là cầu nối oxi Hình 1.7 minh họa rõ ràng các đơn vị thứ cấp này [1, 4, 27].

Hình 1.7: Sơ đồ các đơn vị cấu trúc thứ cấp SBU khác nhau trong zeolite [4, 35]

Các đơn vị cấu trúc thứ cấp vòng 4 và vòng 6 kết hợp tạo thành đơn vị sodalite (hay còn gọi là β-cage) với hình dạng bát diện cụt Mỗi đơn vị sodalite bao gồm 24 tứ diện silica và alumina liên kết chặt chẽ với nhau.

Hình 1.8: C ấu trúc đơn vị sodalite ( 𝜷 -cage) [4]

Các đơn vị sodalite kết nối theo nhiều cách khác nhau, tạo ra các loại zeolite đa dạng Hình 1.9 minh họa một số phương thức kết nối từ đơn vị cấu trúc sơ cấp đến các cấu trúc của nhiều loại zeolite khác nhau.

Hình 1.9: Mô t ả việc hình thành một số zeolite từ đơn vị cấu trúc sơ cấp [1]

Có nhiều cách phân loại zeolite nhưng người ta thường phân loại theo nguồn gốc, kích thước lỗ xốp và theo khung cấu trúc hình học

1.2.3.1 Phân loại theo nguồn gốc

Phân loại theo nguồn gốc ta có hai loại: zeolite tự nhiên và zeolite tổng hợp

Zeolite tự nhiên hình thành từ quá trình biến đổi thủy nhiệt của khoáng vật trong núi lửa, với thành phần hóa học biến đổi, do đó chỉ phù hợp cho các ứng dụng không yêu cầu độ tinh khiết cao Một số tên gọi của zeolite tự nhiên bao gồm

Zeolite tổng hợp, mặc dù có giá thành cao hơn zeolite tự nhiên do quy trình sản xuất yêu cầu năng lượng lớn, nhưng lại sở hữu thành phần hóa học đồng nhất và tinh khiết hơn Chính vì lý do này, zeolite tổng hợp hiện đang được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực thương mại và công nghiệp hơn so với zeolite tự nhiên.

1.2.3.2 Phân loại theo kích thước lỗ xốp [4]

Zeolite là một loại khoáng chất có cấu trúc lỗ xốp nhỏ, trong đó sodalite và zeolite A là hai đại diện tiêu biểu Sodalite sở hữu cửa sổ vòng có đường kính 260 pm, trong khi zeolite A có cửa sổ vòng lớn hơn với đường kính 410 pm.

Các lỗ xốp nhỏ có khả năng chứa các phân tử mạch thẳng như hidrocacbon mạch thẳng, rượu và amin bậc nhất, cho phép chúng được sử dụng để tách biệt các hợp chất hữu cơ mạch thẳng và mạch nhánh.

Hình 1.10: Mô hình minh h ọa hệ thống mao quản trong zeolite A

 Zeolite có l ỗ xốp trung bình Đại diện đặc trưng cho nhóm này là zeolite ZSM-5, ZSM-11 (MEL), silicalite

(MFI) Chúng được tổng hợp từ năm 1970 bởi công ty dầu mỏ Mobil

Cơ sở lý thuyết hấp phụ

Hấp phụ là quá trình tích lũy chất trên bề mặt giữa các pha khác nhau như lỏng - rắn, khí - rắn, và khí - lỏng Trong đó, chất mà hấp phụ diễn ra được gọi là chất hấp phụ, còn chất được tích lũy trên bề mặt được gọi là chất bị hấp phụ.

Ngược với sự hấp phụ, quá trình đi ra của chất bị hấp phụ ra khỏi bề mặt được gọi là sự giải hấp

Hấp phụ có thể được phân loại thành hai loại chính: hấp phụ vật lý và hấp phụ hóa học, tùy thuộc vào bản chất của lực tương tác giữa chất hấp phụ và chất bị hấp phụ.

Trong quá trình hấp phụ vật lý, các phân tử gắn kết với các tiểu phân trên bề mặt chất hấp phụ thông qua các lực liên kết Van der Waals yếu Những lực này bao gồm lực tĩnh điện, tán xạ, cảm ứng và lực định hướng.

Hấp phụ vật lý diễn ra khi có sự hình thành liên kết hidro giữa các phân tử bị hấp phụ và các ion hoặc nhóm thích hợp như OH trên bề mặt chất hấp phụ.

Sự hấp phụ vật lý luôn là một quá trình thuận nghịch, nhiệt hấp phụ thấp vào khoảng 2÷6 kcal/mol [8, 9, 10]

Sự hấp phụ hóa học khác biệt so với hấp phụ vật lý, vì nó được hình thành từ các lực liên kết hóa học như liên kết ion, liên kết cộng hóa trị và liên kết phối trí Nhiệt hấp phụ trong quá trình này thường cao hơn 22 kcal/mol.

Sự hấp phụ vật lý và hóa học thường không rõ ràng, với nhiều quá trình diễn ra đồng thời Trong các trường hợp này, các chất có thể bị hấp phụ trên bề mặt nhờ lực vật lý trước, sau đó liên kết với chất hấp phụ thông qua lực hóa học.

1.3.2 Hấp phụ trong môi trường nước

Trong môi trường nước, quá trình hấp phụ sẽ có sự cạnh tranh của chất bị hấp phụ và dung môi trên bề mặt chất hấp phụ

Sự hấp phụ trong môi trường nước bị ảnh hưởng đáng kể bởi pH, với sự thay đổi pH có khả năng làm biến đổi tính chất của chất bị hấp phụ và tác động đến các nhóm chức trên bề mặt chất hấp phụ.

1.3.3 Cân bằng hấp phụ - Các phương trình đẳng nhiệt hấp phụ

Quá trình hấp phụ là một quá trình thuận nghịch, trong đó khi hệ hấp phụ đạt trạng thái cân bằng, lượng chất hấp phụ phụ thuộc vào nhiệt độ, áp suất hoặc nồng độ của chất bị hấp phụ Ở điều kiện nhiệt độ không đổi, trong hệ hấp phụ rắn-lỏng, sự phụ thuộc giữa dung lượng hấp phụ q và nồng độ C được thể hiện qua đường đẳng nhiệt hấp phụ, được mô tả bằng phương trình q = f(C).

Dung lượng hấp phụ có thể được xác định bằng công thức sau: Co là nồng độ ban đầu, Ce là nồng độ ở trạng thái cân bằng, V là thể tích dung dịch và m là khối lượng chất hấp phụ.

= − Đơn vị của qe là mg/g (mg chất bị hấp phụ / g chất hấp phụ)

Ta có thể tính hiệu suất của quá trình hấp phụ bằng công thức [30] :

Năm 1915, Langmuir đưa ra thuyết hấp phụ đơn phân tử xuất phát từ các giả thuyết [8, 9, 10] :

 Tiểu phân bị hấp phụ liên kết với bề mặt tại những trung tâm xác định

 Mỗi trung tâm chỉ hấp phụ một tiểu phân

Bề mặt chất hấp phụ có tính đồng nhất, cho thấy rằng năng lượng hấp phụ tại các trung tâm là đồng đều và không bị ảnh hưởng bởi sự hiện diện của các tiểu phân hấp phụ xung quanh.

Phương trình Langmuir xây dựng cho hệ hấp phụ rắn- lỏng như sau [28, 29, 30,

Trong đó: q e : dung lượng hấp phụ tại thời điểm cân bằng q max : dung lượng hấp phụ cực đại

Trong phương trình đẳng nhiệt hấp phụ Langmuir, nồng độ chất bị hấp phụ lúc cân bằng được ký hiệu là Ce, và hằng số đặc trưng tương tác giữa chất hấp phụ và chất bị hấp phụ được ký hiệu là kL Để xác định các hằng số này, ta có thể chuyển đổi phương trình thành dạng đường thẳng.

Dựng phương trình đường thẳng biểu thị sự phụ thuộc Ce/q e vào C e với trục x là C e và trục y là Ce/q e

Từ phương trình y=ax+b , ta xác định được max q 1

Khi quan sát mối tương quan giữa q và C từ thực nghiệm, Freundlich đã đưa ra phương trình kinh nghiệm như sau [28, 29, 30, 31, 32] :

Trong đó: q e : dung lượng hấp phụ tại thời điểm cân bằng

Để xác định các hằng số kF và n trong quá trình hấp phụ, ta cần sử dụng phương trình (2) và lấy logarit Kết quả sẽ cho ra một phương trình đường thẳng với các thành phần lg q e, lg C e và lg k F.

Dựng phương trình đường thẳng biểu thị sự phụ thuộc qe vào C e với trục x là lgC e và trục y là lgqe

Từ phương trình y=ax+b , ta xác định được hằng số n 1

Phương trình Freundlich, mặc dù mang tính chất kinh nghiệm, đã chứng minh hiệu quả trong việc mô tả các số liệu cân bằng hấp phụ trong môi trường nước.

N ội dung nghiên cứu

2.1.1 Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình điều chế silica tro trấu

Chúng tôi tiến hành ngâm trấu trong dung dịch axit với nồng độ Cx (M) và thể tích V (ml) trong thời gian t (giờ) Sau khi lọc, rửa sạch và sấy khô trấu, chúng tôi nung ở nhiệt độ T1 (oC) trong thời gian t1 (giờ) và T2 (oC) trong t2 (giờ) Mục tiêu là xác định các điều kiện tối ưu để thu được sản phẩm silica từ tro trấu với chất lượng tốt nhất, thông qua việc khảo sát các yếu tố liên quan.

 Khảo sát ảnh hưởng của dung dịch axit ngâm trấu

 Khảo sát ảnh hưởng của thể tích dung dịch axit ngâm trấu

 Khảo sát ảnh hưởng của thời gian ngâm trấu

 Khảo sát ảnh hưởng của thời gian và nhiệt độ nung trấu

Sản phẩm silica tro trấu điều chế ở các điều kiện tối ưu được phân tích cấu trúc bằng phương pháp XRF, XRD và SEM

2.1.2 Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp phụ màu metylen xanh của silica tro trấu

Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu khả năng hấp phụ của silica tro trấu bằng cách cho một lượng tro trấu m (g) vào 50 ml dung dịch metylen xanh nồng độ 50 mg/l, điều chỉnh pH và lắc trong thời gian t (phút) Để tối ưu hóa hiệu suất xử lý, chúng tôi đã khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hấp phụ.

 Khảo sát ảnh hưởng của thời gian đến khả năng hấp phụ

 Khảo sát ảnh hưởng của pH đến khả năng hấp phụ

Khảo sát ảnh hưởng của lượng tro đến khả năng hấp phụ được thực hiện bằng cách đánh giá nồng độ còn lại của dung dịch sau khi hấp phụ Phương pháp trắc quang UV – VIS được sử dụng để xác định nồng độ này, từ đó đánh giá hiệu quả của quá trình hấp phụ.

2.1.3 Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp zeolite NaA

Zeolite NaA được tổng hợp qua phương pháp thủy nhiệt từ hỗn hợp dung dịch Na2SiO3, NaAlO2, NaOH và nước cất theo tỷ lệ hợp lý Quá trình này được thực hiện trong điều kiện thủy nhiệt và thời gian già hóa tối ưu Để đạt hiệu quả tốt nhất, chúng tôi đã khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp.

 Khảo sát ảnh hưởng của tỉ lệ SiO2/Al 2 O 3

 Khảo sát ảnh hưởng của tỉ lệ Na2O/SiO 2

 Khảo sát ảnh hưởng của chế độ thủy nhiệt và thời gian già hóa

Sản phẩm zeolite NaA tổng hợp ở các điều kiện tối ưu được phân tích cấu trúc bằng phương pháp XRD, SEM và BET

2.1.4 Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp phụ màu metylen xanh của zeolite NaA

Chúng tôi nghiên cứu khả năng hấp phụ của zeolite NaA bằng cách cho một lượng zeolite m (g) vào 50 ml dung dịch metylen xanh nồng độ 50 mg/l, điều chỉnh pH và lắc trong thời gian t (phút) Để tối ưu hóa hiệu suất xử lý, chúng tôi khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hấp phụ.

 Khảo sát ảnh hưởng của thời gian đến khả năng hấp phụ

 Khảo sát ảnh hưởng của pH đến khả năng hấp phụ

Khảo sát ảnh hưởng của lượng zeolite đến khả năng hấp phụ được thực hiện thông qua việc đánh giá nồng độ còn lại của dung dịch sau khi hấp phụ Phương pháp trắc quang UV – VIS được sử dụng để xác định nồng độ này, từ đó giúp hiểu rõ hơn về hiệu quả hấp phụ của zeolite.

Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD: X-ray Diffraction) [2]

Hiện tượng nhiễu xạ xảy ra khi sóng giao thoa do sự can thiệp của một vật cản trên đường đi của chúng Kết quả là một ảnh với những vệt sáng nổi bật trên nền tối, được gọi là giản đồ nhiễu xạ.

Sự nhiễu xạ xảy ra khi kích thước của vật gây nhiễu xạ xấp xỉ với bước sóng của bức xạ

Khi chiếu chùm tia X vào tinh thể, các mặt mạng sẽ phản xạ tia X Những mặt mạng có khoảng cách d thỏa mãn phương trình Bragg sẽ tạo ra ảnh nhiễu xạ.

Dựa vào phương trình Bragg, việc biết giá trị bước sóng λ của tia X và góc tới θ cho phép xác định khoảng cách mạng d Khi đã có giá trị d, ta có thể so sánh với ngân hàng pic chuẩn để nhận diện tên chất và cấu trúc pha tinh thể của nó.

Ngoài ra, dựa vào thông tin độ bán rộng của pic trên giản đồ XRD, ta có thể xác định được kích thước hạt theo định luật Debye – Scherrer [33]:

Trong đó: D: kích thước hạt (nm) λ: bước sóng ánh sáng β: độ rộng bán phổ (rad) θ: góc nhiễu xạ (rad)

2.2.2 Phương pháp kính hiển vi điện tử quét (SEM: Scanning Electron

Kính hiển vi điện tử quét là phương pháp phân tích phổ biến, giúp xác định đặc tính vật liệu, cấu trúc vi tinh thể và phân bố kích thước.

Kính hiển vi điện tử quét hoạt động bằng cách tạo ra một chùm điện tử qua các thấu kính điện tử, hội tụ thành một điểm nhỏ chiếu lên bề mặt mẫu nghiên cứu Khi chùm điện tử va chạm với bề mặt vật rắn, nhiều hiệu ứng xảy ra và phát sinh các tín hiệu khác nhau Mỗi loại tín hiệu này phản ánh những đặc điểm riêng của mẫu tại điểm va chạm, và tùy thuộc vào cấu trúc của từng chất, chúng sẽ tạo ra những hình ảnh bề mặt vật chất khác nhau.

Kính hiển vi điện tử cho phép chụp ảnh bề mặt với độ phóng đại cao và độ sâu lớn Thông qua các hình ảnh thu được, người dùng có thể xác định hình dạng và độ đồng đều của hạt Bằng cách sử dụng thang đo chuẩn trên ảnh, kích thước hạt có thể được xác định một cách tương đối.

2.2.3 Phương pháp xác định diện tích bề mặt riêng (BET: Brunauer –

Phương pháp BET là một kỹ thuật đo diện tích bề mặt phổ biến, dựa trên nguyên lý hấp phụ và giải hấp phụ vật lý của khí nitơ ở nhiệt độ nitơ lỏng 77K.

Phương trình BET tổng quát:

Trong đó: Po : áp suất hơi bão hòa

V: thể tích khí hấp phụ ở áp suất P

V m : thể tích khí bị hấp phụ ở lớp thứ nhất C: hằng số BET

Diện tích bề mặt riêng của mẫu được tính theo công thức sau:

Trong đó: S s : diện tích bề mặt riêng của mẫu (cm 2 /g)

V m : thể tích khí để hình thành đơn lớp khí hấp phụ (cm 3 )

S o : diện tích bề mặt của 1 cm 3 khí N 2 cần để hình thành đơn lớp

2.2.4 Phương pháp xác định thành phần nguyên tố (XRF: X-ray

Khảo sát phổ huỳnh quang tia X (XRF) là kỹ thuật phân tích phổ biến nhất hiện nay để xác định các nguyên tố chính và nguyên tố vết trong mẫu đá Phương pháp này có khả năng phân tích lên đến 80 nguyên tố với độ nhạy và nồng độ phát hiện đạt vài ppm XRF là một phương pháp nhanh chóng, cho phép phân tích số lượng lớn mẫu với độ chính xác cao trong thời gian ngắn Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất của phương pháp này là không thể phát hiện các nguyên tố nhẹ hơn natri (Na).

(số nguyên tử = 11) không thể phân tích bằng phương pháp XRF

Nguyên lý của phương pháp XRF là một trong những phương pháp nhận diện vật liệu PMI (Positive Material Identification) Thiết bị sử dụng các nguồn phóng xạ thấp

Đồng vị và các đầu chiếu tia X là công cụ quan trọng trong việc xác định phóng xạ và năng lượng phát ra từ vật liệu Mỗi nguyên tố có cấu trúc nguyên tử riêng biệt, dẫn đến sự phản ứng khác nhau khi chiếu chụp.

Khóa luận tốt nghiệp này sẽ xác định mức năng lượng riêng biệt cho từng nguyên tố khác nhau Việc đo lường và dò tìm năng lượng này giúp xác định thành phần các nguyên tố có trong mẫu.

2.2.5 Phương pháp trắc quang xác định nồng độ (UV – VIS) [6]

Phổ UV-VIS là phổ electron, phản ánh sự chuyển đổi mức năng lượng của electron Phương pháp trắc quang đo UV-VIS được sử dụng để định lượng nồng độ các chất bằng cách xác định độ hấp thụ ánh sáng của dung dịch.

Sự hấp thụ ánh sáng tuân theo định luật Bouguer – Lambert – Beer:

Trong đó: I: cường độ dòng sáng sau khi chiếu qua dung dịch

I o : cường độ dòng sáng ban đầu ε : hệ số hấp thụ phân tử gam l : chiều dài lớp dung dịch (chiều dài cuvet)

C : nồng độ dung dịch Khi đo UV-VIS, ta thu được giá trị mật độ quang D lgI o

Với chiều dài cuvet l đã xác định, mỗi chất sẽ có giá trị hấp thụ riêng ε Dựa vào mật độ quang, chúng ta có thể tính toán nồng độ của dung dịch đang nghiên cứu.

D ụng cụ, hóa chất và thiết bị

Dụng cụ Hóa chất Thiết bị

- Cốc thuỷ tinh, đũa thuỷ tinh

- Máy lọc hút chân không

Điều chế silica tro trấu

3.1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình điều chế silica tro trấu

3.1.1.1 Quy trình điều chế silica tro trấu

Quy trình điều chế silica tro trấu được thể hiện tổng quát trong Hình 3.1

Hình 3.1 Sơ đồ tổng quát điều chế silica tro trấu

Các điều kiện tối ưu cho quá trình ngâm trấu sẽ được khảo sát, bao gồm loại axit HX, nồng độ axit Cx (M), thể tích axit V (ml), thời gian ngâm trấu t (giờ), nhiệt độ nung trấu T1, T2 (°C) và thời gian nung trấu t1, t2 (giờ).

Cân 15g trấu đã rửa sạch bằng nước và sấy khô ở 100 o C trong 4h

Lọc lấy trấu và rửa nhiều lần với nước đến khi dung dịch rửa trung hòa

Ngâm trong V(ml) dung dịch axit HX nồng độ

Nung trấu ở T 1 ( o C) trong t 1 (giờ) và T 2 ( o C) trong t 2 (giờ)

Sản phẩm silica tro trấu

3.1.1.2 Ảnh hưởng của dung dịch axit ngâm trấu

Trong thí nghiệm này, chúng tôi ngâm trấu trong 400 ml dung dịch axit H2SO4, HCl và HNO3 với nồng độ 1 M, 2 M và 3 M trong 24 giờ Sau đó, trấu được nung ở nhiệt độ T1 = 200 oC trong 0,5 giờ và T2 = 800 oC trong 3 giờ.

Sau khi thực hiện theo quy trình đã nêu, chúng tôi thu được kết quả như sau:

B ảng 3.1: Kết quả khảo sát ảnh hưởng của dung dịch axit ngâm trấu

STT Kí hiệu mẫu Dung dịch axit

Khối lượng tro (g) Màu sắc Hiệu suất

2 RHA_N1 HNO 3 1 M 1,7405 Trắng xám lẫn vàng 11,60

3 RHA_C1 HCl 1 M 1,7407 Trắng hơi vàng 11,60

4 RHA_S1 H 2 SO 4 1 M 1,7822 Trắng hơi vàng 11,88

5 RHA_N2 HNO 3 2 M 1,6796 Trắng xám lẫn vàng 11,20

6 RHA_C2 HCl 2 M 1,7386 Trắng hơi vàng 11,59

7 RHA_S2 H 2 SO 4 2 M 1,7727 Trắng hơi vàng 11,82

8 RHA_N3 HNO 3 3 M 1,7309 Trắng xám lẫn vàng 11,54

9 RHA_C3 HCl 3 M 1,7521 Trắng hơi vàng 11,68

10 RHA_S3 H 2 SO 4 3 M 1,8098 Trắng hơi vàng 12,07

Màu sắc của tro phản ánh độ tinh khiết của SiO2; tro có màu trắng hơn cho thấy lượng tạp chất thấp và SiO2 càng tinh khiết.

Hình 3.2: Các m ẫu tro thu được khi khảo sát ảnh hưởng của dung dịch axit

 Kết quả Bảng 3.1 cho thấy:

Mẫu RHA (mẫu không ngâm axit) mang lại hiệu suất tối ưu, nhưng màu sắc tro không trắng cho thấy có sự hiện diện đáng kể của tạp chất, đặc biệt là SiO2 không tinh khiết.

Các mẫu ngâm với axit cho hiệu suất chênh lệch không đáng kể, tuy nhiên, màu sắc sản phẩm của mẫu ngâm với axit HNO3 có màu hơi xám hơn so với các mẫu ngâm với axit H2SO4 và HCl.

Vì vậy, dùng axit HNO3 để ngâm trấu không phù hợp

Trong 6 mẫu xử lý với axit H2SO 4 và HCl 1 M, 2 M, 3 M cho màu sắc tro gần giống nhau Chúng tôi thấy rằng mẫu ngâm với axit có nồng độ 3 M (RHA_C3 và

RHA_S3) có hiệu suất cao hơn một chút so với các mẫu khác, nhưng màu sắc sản phẩm lại tương đồng Do đó, để đạt hiệu quả kinh tế tốt nhất, chúng tôi quyết định chọn axit.

H 2 SO 4 và HCl 1 M là axit tối ưu để khảo sát tiếp ảnh hưởng của thời gian và nhiệt độ nung trấu

3.1.1.3 Ảnh hưởng của thời gian và nhiệt độ nung trấu

Trong thí nghiệm, chúng tôi ngâm trấu trong 400 ml dung dịch axit H2SO4 1 M trong 24 giờ, theo quy trình ở Hình 3.1 Sau đó, trấu được nung ở chế độ T1 (°C)/t1 (giờ) và T2 (°C)/t2 (giờ), và kết quả thu được sẽ được trình bày chi tiết.

B ảng 3.2: Kết quả khảo sát ảnh hưởng của thời gian và nhiệt độ nung sau khi ngâm tr ấu với H 2 SO 4 1 M

 Kết quả Bảng 3.2 cho thấy:

Với cùng 1 loại axit ngâm trấu, thời gian và nhiệt độ nung khác nhau sẽ cho sản phẩm tro có màu sắc khác nhau và hiệu suất khác nhau

Các mẫu RHAS_1, RHAS_2, RHAS_3 cho sản phẩm tro có màu hơi xám, hiệu suất thấp, vì vậy, nhiệt độ nung sơ bộ T1 = 200 o C là không phù hợp

Mẫu nung sơ bộ ở nhiệt độ 600 o C (T1) tạo ra sản phẩm tro có màu trắng rõ rệt hơn so với mẫu nung ở nhiệt độ 200 o C Nhiệt độ nung cuối được khảo sát là T2.

Nghiên cứu được thực hiện ở nhiệt độ 800 o C và 850 o C trong thời gian t2 = 0,5 và 1 giờ cho thấy mẫu RHAS_4 có lượng tro cao và chất lượng tốt, với tro màu trắng bông, chứng tỏ SiO2 tinh khiết Do đó, chế độ nung được cố định ở T1 = 600 o C trong 1 giờ và T2 = 800 o C trong 0,5 giờ để khảo sát ảnh hưởng của thể tích dung dịch ngâm trấu.

Hình 3.3: M ột số mẫu tro thu được khi khảo sát ảnh hưởng của thời gian và nhiệt độ nung trấu sau khi ngâm dung dịch H 2 SO 4 1 M

3.1.1.3.2 Khảo sát với dung dịch HCl 1 M

Tiến hành tương tự như với dung dịch H2SO 4 1 M, chúng tôi thu được kết quả như sau:

B ảng 3.3: Kết quả khảo sát ảnh hưởng của thời gian và nhiệt độ nung sau khi ngâm tr ấu với HCl 1 M

Theo Bảng 3.3, nhiệt độ nung sơ bộ T1 = 200 o C không phù hợp, dẫn đến sản phẩm tro có hiệu suất thấp, màu sắc không trắng sáng và chứa nhiều tạp chất.

Các mẫu có T1 = 600 °C thể hiện màu tro trắng và độ tinh khiết cao Đặc biệt, hai mẫu RHAC_4 và RHAC_9 đạt hiệu suất vượt trội hơn so với các mẫu khác.

So sánh màu sắc tro và hiệu quả kinh tế, chúng tôi nhận thấy: hiệu suất mẫu

Mẫu RHAC_4 có màu trắng hơn mẫu RHAC_9, mặc dù chỉ thấp hơn không đáng kể Thời gian lưu nhiệt của RHAC_4 là 1,5 giờ, trong khi RHAC_9 lên đến 4 giờ Dựa trên các yếu tố này, chúng tôi quyết định chọn chế độ thủy nhiệt của mẫu RHAC_4 để tạo ra sản phẩm chất lượng tốt hơn, đồng thời tiết kiệm năng lượng và giảm chi phí sản xuất.

Hình 3.4: M ột số mẫu tro thu được khi khảo sát ảnh hưởng của thời gian và nhiệt độ nung trấu sau khi ngâm dung dịch HCl 1 M

So sánh màu sắc và hiệu suất xử lý của axit H2SO4 và HCl, chúng tôi nhận thấy cả hai đều đạt hiệu quả cao nhất ở cùng chế độ nung (T1 600°C/ t1 = 1 giờ và T2 = 800°C/ t2 = 0,5 giờ) Tuy nhiên, việc xử lý trấu bằng axit H2SO4 cho hiệu suất cao hơn và màu sắc tro trắng hơn so với xử lý bằng HCl.

Khóa luận tốt nghiệp axit HCl Vì vậy, chúng tôi quyết định chọn axit H2SO 4 và chế độ nung T1 = 600 o C/ t 1

= 1 giờ và T2 = 800 o C/t 2 = 0,5 giờ là các điều kiện tối ưu để khảo sát tiếp ảnh hưởng của thể tích axit ngâm trấu

3.1.1.4 Ảnh hưởng của thể tích dung dịch axit ngâm trấu

Sau khi chọn được chế độ nung tối ưu, chúng tôi khảo sát ảnh hưởng của thể tích axit ngâm trấu được thực hiện như sau:

Trong thí nghiệm này, chúng tôi ngâm 15 g trấu trong dung dịch axit H2SO4 1 M với thể tích lần lượt là 200, 300, 400 và 500 ml trong thời gian 24 giờ Sau đó, chúng tôi nung mẫu ở nhiệt độ T1 = 600 °C trong 1 giờ và T2 = 800 °C trong 0,5 giờ Kết quả thu được sẽ được trình bày chi tiết trong phần sau.

B ảng 3.4: Kết quả khảo sát ảnh hưởng của thể tích axit ngâm trấu

STT Kí hiệu mẫu Thể tích axit

Khối lượng tro (g) Màu sắc Hiệu suất

Hình 3.5: Các m ẫu tro thu được khi khảo sát ảnh hưởng của thể tích axit

Kết quả từ Bảng 3.4 chỉ ra rằng thể tích axit 400 ml là phù hợp Mẫu RHAS_200 và RHAS_300 cho thấy sản phẩm tro có màu xám và vàng, cho thấy lượng axit không đủ để xử lý tạp chất trong vỏ trấu Trong khi đó, mẫu RHAS_500 có màu trắng bông tương tự như mẫu RHAS_4, nhưng hiệu suất lại thấp hơn.

Khóa luận tốt nghiệp vậy, chúng tôi vẫn cố định lượng thể tích axit ngâm trấu là 400 ml để khảo sát tiếp ảnh hưởng của thời gian ngâm trấu

3.1.1.5 Ảnh hưởng của thời gian ngâm trấu

Sau khi chọn được thể tích axit ngâm trấu tối ưu, chúng tôi tiếp tục khảo sát ảnh hưởng của thời gian ngâm trấu được thực hiện như sau:

Tiến hành theo quy trình ở Hình 3.1, trong thí nghiệm này, chúng tôi tiến hành ngâm trấu trong V @0 ml dung dịch axit H2SO 4 1 M trong thời gian t = 18; 20; 22;

24 giờ Với chế độ nung T1 = 600 o C/t 1 = 1 giờ và T2 = 800 o C/t 2 = 0,5 giờ Kết quả thu được như sau:

B ảng 3.5: Kết quả khảo sát ảnh hưởng của thời gian ngâm trấu

STT Kí hiệu mẫu Thời gian ngâm (giờ) Khối lượng tro (g) Màu sắc Hiệu suất

1 RHAS_18 18 2,0314 Trắng xám lẫn vàng 13,54

Hình 3.6: Các m ẫu tro thu được khi khảo sát ảnh hưởng của thời gian ngâm trấu

Kh ảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp phụ metylen xanh của silica

3.2.1 Đường chuẩn xác định nồng độ metylen xanh

 Pha dung d ịch metylen xanh 100 mg/l

Cân chính xác 0,1 g bột metylen xanh cho vào cốc chứa sẵn 800 ml nước cất, khuấy đều rồi cho vào bình định mức 1000 ml, cho nước cất đến vạch

 Pha dãy dung d ịch chuẩn từ dung dịch metylen xanh 100 mg/l

Chuẩn bị 6 cốc dung tích 100 ml, đánh số từ 1 đến 6, pha dãy dung dịch chuẩn với nồng độ 0 mg/l, 20 mg/l, 40 mg/l, 60 mg/l, 80 mg/l và 100 mg/l

Kết quả đo UV-VIS của dãy dung dịch chuẩn được thể hiện trong Bảng 3.7:

B ảng 3.7: Kết quả giá trị mật độ quang của dung dịch chuẩn

Từ số liệu thực nghiệm, chúng tôi tiến hành dựng đường chuẩn xác định nồng độ metylen xanh như sau:

Hình 3.9 : Đường chuẩn xác định nồng độ của metylen xanh

3.2.2 Ảnh hưởng của thời gian hấp phụ đến khả năng hấp phụ của silica tro trấu

Lấy 6 bình tam giác dung tích 250 ml, đánh số từ 1 đến 6, cho vào mỗi bình 50 ml dung dịch metylen xanh 50 mg/l (Co) và 0,5 g silica tro trấu Sau đó, tiến hành lắc 6 bình trên máy lắc với tốc độ 350 vòng/phút trong các khoảng thời gian khác nhau 10,

Sau đó, ly tâm nhiều lần, lấy dung dịch đo mật độ quang trên máy UV-VIS xác định nồng độ còn lại (Ce) của metylen xanh

Sau khi tiến hành theo quy trình đã nêu, chúng tôi thu được kết quả như sau: y = 0.018x - 0.052 R² = 0.993

Nồng độ dung dịch chuẩn (mg/l) 0 20 40 60 80 100

B ảng 3.8: Kết quả khảo sát ảnh hưởng của thời gian đến khả năng hấp phụ của silica tro tr ấu

Theo Bảng 3.8, dung lượng hấp phụ tăng mạnh trong 10 phút đầu (từ 10 đến 20 phút) với mức tăng 0,03 mg/g, nhưng từ 90 phút trở đi, tốc độ tăng trưởng chậm lại rõ rệt, chỉ đạt 0,01 mg/g trong khoảng thời gian 30 phút (từ 90 đến 120 phút).

Chúng tôi chọn thời gian 90 phút là cân bằng hấp phụ và nghiên cứu tiếp ảnh hưởng của pH đến khả năng hấp phụ của silica tro trấu

Hình 3.10 : Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của thời gian đến dung lượng hấp phụ của silica tro tr ấu

Nồng độ còn lại Ce (mg/l)

Dung lượng hấp phụ qe (mg/g)

Hình 3.11: Ảnh chụp dung dịch khảo sát ảnh hưởng của thời gian hấp phụ

• Mẫu 0: mẫu metylen xanh ban đầu

• Mẫu 1: mẫu metylen xanh sau khi hấp phụ 10 phút

• Mẫu 2: mẫu metylen xanh sau khi hấp phụ 60 phút

• Mẫu 3: mẫu metylen xanh sau khi hấp phụ 120 phút

3.2.3 Ảnh hưởng của pH đến khả năng hấp phụ của silica tro trấu

Lấy 9 bình tam giác dung tích 250 ml, đánh số từ 1÷ 9, cho vào mỗi bình 50 ml dung dịch metylen xanh 50 mg/l Sau đó, điều chỉnh pH từ 2÷10 bằng dung dịch KOH và HCl 0,05 M Cho vào mỗi bình 0,5 g silica tro trấu và tiến hành lắc trên máy lắc trong thời gian tối ưu là 90 phút

Sau đó, ly tâm nhiều lần, lấy dung dịch đo mật độ quang trên máy UV-VIS xác định nồng độ còn lại (Ce) của metylen xanh

Sau khi tiến hành theo quy trình đã nêu, chúng tôi thu được kết quả như sau:

B ảng 3.9: Kết quả khảo sát ảnh hưởng của pH đến khả năng hấp phụ của silica tro tr ấu

STT pH Nồng độ đầu

Nồng độ còn lại Ce (mg/l)

Dung lượng hấp phụ qe (mg/g)

Kết quả từ Bảng 3.9 cho thấy pH ảnh hưởng đến khả năng hấp phụ của silica tro trấu, với dung lượng hấp phụ thay đổi theo từng giá trị pH Đặc biệt, ở pH = 6, silica tro trấu thể hiện khả năng hấp phụ mạnh nhất Do đó, pH = 6 được chọn là điều kiện tối ưu để tiếp tục khảo sát ảnh hưởng của lượng chất hấp phụ.

Hình 3.12 : Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của pH đến dung lượng hấp phụ của silica tro tr ấu

Hình 3.13: Ảnh chụp dung dịch khảo sát ảnh hưởng của pH

• Mẫu 0: mẫu metylen xanh ban đầu

• Mẫu 1: mẫu metylen xanh sau khi hấp phụ ở pH = 2

• Mẫu 2: mẫu metylen xanh sau khi hấp phụ ở pH = 7

• Mẫu 3: mẫu metylen xanh sau khi hấp phụ ở pH = 10

3.2.4 Ảnh hưởng của lượng chất hấp phụ đến khả năng hấp phụ của silica tro trấu

Lấy 10 bình tam giác dung tích 250 ml, đánh số từ 1÷ 10, cho vào mỗi bình 50 ml dung dịch metylen xanh 50 mg/l Sau đó, điều chỉnh đến giá trị pH = 6 Cho vào mỗi bình một lượng silica tro trấu khác nhau từ 0,1÷1,1 g và tiến hành lắc trên máy lắc trong thời gian 90 phút

Sau đó, lọc lấy dung dịch đo mật độ quang trên máy UV-VIS xác định nồng độ còn lại (Ce) của metylen xanh

Sau khi tiến hành theo quy trình đã nêu, chúng tôi thu được kết quả như sau:

B ảng 3.10: Kết quả khảo sát ảnh hưởng của lượng tro đến khả năng hấp phụ của silica tro tr ấu

Nồng độ còn lại Ce (mg/l)

Dung lượng hấp phụ qe

Theo Bảng 3.10, khi tăng khối lượng chất hấp phụ, dung lượng hấp phụ giảm trong khi hiệu suất tăng Hiệu suất ban đầu tăng mạnh, với mức tăng 27,6% khi khối lượng tro từ 0,1 g lên 0,3 g Tuy nhiên, sau đó, hiệu suất tăng chậm dần và trở nên ổn định khi khối lượng tro đạt 0,9 g trở lên.

Hình 3.14 : Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của lượng tro đến dung lượng hấp phụ của silica tro tr ấu

Hình 3.15: Ảnh chụp dung dịch khảo sát ảnh hưởng của lượng silica tro trấu

• Mẫu 0: mẫu metylen xanh ban đầu

• Mẫu 1: mẫu metylen xanh sau khi hấp phụ với 0,1 g tro

• Mẫu 2: mẫu metylen xanh sau khi hấp phụ với 0,5 g tro

• Mẫu 3: mẫu metylen xanh sau khi hấp phụ với 1,1 g tro

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích cân bằng hấp phụ của silica tro trấu đối với metylen xanh, thông qua việc áp dụng hai mô hình đẳng nhiệt hấp phụ Langmuir và Freundlich Kết quả thu được cho thấy khả năng hấp phụ của silica tro trấu đối với metylen xanh, góp phần vào việc hiểu rõ hơn về quá trình xử lý nước thải.

0.1 0.3 0.5 0.7 0.9 1.1 1.3 qe (mg/g) khối lượng tro (g)

B ảng 3.11: Bảng số liệu dựng đường đẳng nhiệt Langmuir và Freundlich của silica tro tr ấu

Nồng độ còn lại Ce (mg/l)

Dung lượng hấp phụ qe (mg/g)

Để xác định các hằng số trong phương trình đẳng nhiệt Langmuir, chúng tôi đã vẽ lại đồ thị đường đẳng nhiệt hấp phụ của silica tro trấu đối với metylen xanh dưới dạng đường thẳng.

Hình 3.17: Đường đẳng nhiệt Langmuir dưới dạng đường thẳng

Khóa luận tốt nghiệp Áp phương trình đường tuyến tính vào phương trình đường đẳng nhiệt

Chúng tôi xác định được giá trị dung lượng hấp phụ cực đại của silica tro trấu và hằng số Langmuir k L như sau: max

3, 756 k L = Kết quả trên cho thấy silica tro trấu có khả năng hấp phụ không cao, dung lượng hấp phụ cực đại quá thấp

Dựa trên số liệu từ Bảng 3.11, chúng tôi đã xây dựng một đường tuyến tính để thể hiện mối quan hệ giữa lnqe và lnCe, từ đó xác định các hằng số trong phương trình.

Hình 3.18: Đường đẳng nhiệt Freundlich của silica tro trấu đối với metylen xanh Áp phương trình đường tuyến tính vào phương trình đường đẳng nhiệt

Chúng tôi xác định được các hằng số của phương trình đẳng nhiệt Freundlich của silica tro trấu đối với dung dịch metylen xanh như sau: y = 0.598x - 0.661 R² = 0.990

Phương trình đẳng nhiệt hấp phụ Freundlich mô tả quá trình hấp phụ hiệu quả hơn so với phương trình Langmuir, do giá trị tương quan R² của Freundlich gần đạt 1 hơn so với Langmuir.

T ổng hợp zeolite NaA

 Pha dung d ịch natri silicat Na 2 SiO 3 1 M

Cân 8,8 g NaOH cho vào cốc chứa sẵn 60 ml nước cất, khuấy đều Sau đó cho từ từ

Cho 6,3158 g tro (chứa khoảng 6 g SiO2) vào cốc và khuấy trên máy khuấy từ trong 1 giờ để đảm bảo phản ứng xảy ra hoàn toàn Sau đó, lọc lấy dung dịch và định mức đến 100 ml.

 Pha dung d ịch natri aluminat NaAlO 2 1 M

Cân 4,4 g NaOH và hòa tan trong 15 ml nước cất, khuấy đều Tiếp theo, từ từ thêm 2,7 g bột Al vào dung dịch và khuấy trên máy khuấy từ trong 1 giờ Cuối cùng, lọc dung dịch và định mức đến 100 ml.

Cân 80 g NaOH vào cốc chứa 400 ml nước cất, khuấy đều, để nguội và định mức tới 500 ml

3.3.2 Quy trình tổng hợp zeolite NaA tổng quát

Chúng tôi tiến hành tổng hợp zeolite NaA thực hiện theo sơ đồ sau:

Hình 3.19 : Sơ đồ tổng hợp zeolite NaA tổng quát

Trong đó, các giá trị V1, V 2 , V 3 , V 4 , T 1 , T 2 , t 1 , t 2 và t 3 là các yếu tố sẽ được khảo sát để tìm ra điều kiện tối ưu

3.3.3 Ảnh hưởng của tỉ lệ SiO 2 /Al 2 O 3

Trong thí nghiệm này, chúng tôi đã cố định tỉ lệ mol Na2O/Al2O3 là 8 và tiến hành khảo sát sự thay đổi của tỉ lệ SiO2/Al2O3 từ 1 đến 2 Tỉ lệ phối liệu được trình bày trong bảng dưới đây.

Khuấy trên máy khuấy từ trong 1 giờ

Cho V 1 (ml) dung dịch Na2SiO 3 1 M vào bình tam giác

Cho tiếp V 2 (ml) dung dịch NaOH 4 M và V 3 (ml) nước cất, lắc đều

Nhỏ từ từ V 4 (ml) dung dịch NaAlO2 1 M, lắc đều

Già hóa trong t 3 (giờ) Đặt bình tam giác trong máy điều nhiệt, giữ ở nhiệt độ T 1 o C trong t 1 (giờ) và T 2 o C trong t 2 (giờ)

Lọc, rửa sản phẩm nhiều lần bằng nước cất

B ảng 3.12: Bảng phối liệu khảo sát ảnh hưởng tỉ lệ SiO 2 /Al 2 O 3

Mẫu zeolite Kí hiệu mẫu

Chúng tôi chọn chế độ thủy nhiệt là T1 = 90 o C/ t 1 = 2 giờ, T2 o C/ t 2 = 1 giờ và già hóa trong thời gian t3 = 30 phút

Tiến hành theo quy trình ở Hình 3.19 và các chế độ thủy nhiệt đã nêu, chúng tôi thu được kết quả sau:

B ảng 3.13: Kết quả khảo sát ảnh hưởng của SiO 2 /Al 2 O 3

STT Mẫu zeolite Kí hiệu mẫu Tỉ lệ mol

Mẫu zeolite thu được có dạng bột trắng mịn, và chúng tôi đã tiến hành khảo sát thành phần cũng như cấu trúc của các mẫu này thông qua phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD) Các giản đồ XRD được trình bày chi tiết trong phần phụ lục.

Dựa vào kết quả từ Bảng 3.13 và giản đồ XRD trong phần phụ lục, mẫu N8S 1,65 AH 450 và N8S 2 AH 450 cho thấy khối lượng sản phẩm cao hơn.

Khóa luận tốt nghiệp phân tích XRD cho thấy các pic của 2 mẫu này không trùng với pic chuẩn của zeolite

NaA mà lẫn nhiều chất khác nhau Vì vậy, tỉ lệ SiO2/Al 2 O 3 = 1,65 và 2 là không phù hợp để tổng hợp zeolite NaA

Mẫu N8S 1,35 AH 450 và N 8 S 1 AH 450 cho kết quả trùng với pic chuẩn của zeolite

Mẫu zeolite NaA với tỉ lệ SiO2/Al2O3 = 1 cho cường độ pic cao hơn, cho thấy zeolite đã được kết tinh tốt hơn Do đó, chúng tôi xác định đây là điều kiện tối ưu để tổng hợp zeolite NaA.

Hình 3.20: Gi ản đồ XRD mẫu N 8 S 1 AH 450 Áp dụng phương trình tính kích thước hạt của Debye – Scherrer:

Trong đó: D: kích thước hạt (nm) λ: bước sóng ánh sáng (λ=0,15406 nm) β: độ rộng bán phổ (rad) θ: góc nhiễu xạ (rad)

Dựa vào độ bán rộng của pic nhiễu xạ cực đại, chúng tôi đã tính toán kích thước hạt của hai mẫu có pic trùng với pic chuẩn của zeolite NaA, và kết quả thu được như sau:

Faculty of Chemistry, HUS, VNU, D8 ADVANCE-Bruker - Mau Na8S1AH450

00-011-0590 (D) - Sodium Aluminum Silicate Hydrate - (NaAlSiO4)12ã27H2O - Y: 95.11 % - d x by: 1 - WL: 1.5406 - Cubic - a 12.32000 - b 12.32000 - c 12.32000 - alpha 90.000 - beta 90.000 - gamma 90.0

File: Nu TpHCM mau N8S1AH450.raw - Type: Locked Coupled - Start: 5.000 ° - End: 40.000 ° - Step: 0.020 ° - Step time: 0.8 s - Temp.: 25 °C (Room) - Time Started: 8 s - 2-Theta: 5.000 ° - Theta: 2.500 ° -

Left Angle: 6.660 ° - Right Angle: 7.320 ° - Left Int.: 89.7 Cps - Right Int.: 83.4 Cps - Obs Max: 7.147 ° - d (Obs Max): 12.358 - Max Int.: 758 Cps - Net Height: 673 Cps - FWHM: 0.121 ° - Chord Mid.: 7.1

B ảng 3.14: Kết quả tính kích thước hạt

STT Kí hiệu mẫu Tỉ lệ mol

Cường độ pic cực đại (Cps)

Góc 2θ (độ) Độ bán rộng β (độ) Kích thước hạt (nm)

Kết quả Bảng 3.14 cho thấy kích thước hạt mẫu N8S 1 AH 450 lớn hơn mẫu

N 8 S 1,35 AH 450 , chứng tỏ mẫu N8S 1 AH 450 kết tinh tốt hơn mẫu N8S 1,35 AH 450 Kết quả này phù hợp với nhận định dựa vào cường độ pic đã nêu ở trên

3.3.4 Ảnh hưởng của tỉ lệ Na 2 O/SiO 2

Trong thí nghiệm này, tỉ lệ SiO2/Al2O3 được cố định ở mức 1, và chế độ thủy nhiệt được thực hiện theo mục 3.3.3 Chúng tôi tiếp tục khảo sát tỉ lệ mol Na2O/Al2O3 thay đổi từ 3 đến 10, với tỉ lệ phối liệu được trình bày trong bảng dưới đây.

B ảng 3.15: Bảng phối liệu khảo sát ảnh hưởng tỉ lệ Na 2 O/Al 2 O 3

Mẫu zeolite Kí hiệu mẫu

Tiến hành theo quy trình đã nêu, chúng tôi thu được kết quả sau:

B ảng 3.16: Kết quả khảo sát ảnh hưởng của Na 2 O/SiO 2

STT Mẫu zeolite Kí hiệu mẫu Tỉ lệ mol

Kết quả Bảng 3.16 cho thấy khi tăng tỉ lệ Na2O/Al 2 O 3 thì khối lượng sản phẩm thu được càng giảm

Các mẫu thu được đã được phân tích cấu trúc bằng phương pháp XRD, với giản đồ XRD được trình bày trong phần phụ lục Qua phân tích giản đồ, chúng tôi nhận thấy rằng các mẫu đều cho các pic gần như trùng khớp với pic chuẩn của zeolite NaA.

N 3 S 1 AH 450 , N 5 S 1 AH 450 , N 7 S 1 AH 450 và N 10 S 1 AH 450 cho một số pic lẫn chất khác, chứng tỏ các mẫu không chứa đồng nhất 1 dạng zeolite NaA tinh khiết Tỉ lệ

Na 2 O/Al 2 O 3 = 3; 5; 7; 10 là không phù hợp cho sự hình thành zeolite NaA Áp dụng phương trình Debye – Scherrer, chúng tôi tính kích thước hạt của các mẫu, kết quả được trình bày ở bảng sau:

B ảng 3.17: Kết quả tính kích thước hạt của mẫu khảo sát tỉ lệ Na 2 O/Al 2 O 3

STT Kí hiệu mẫu Tỉ lệ mol

Na 2 O/Al 2 O 3 Góc 2θ Độ bán rộng β (độ)

Kết quả từ Bảng 3.17 chỉ ra rằng mẫu N8S 1 AH 450 có kích thước hạt lớn nhất, cho thấy sự kết tinh tốt Do đó, chúng tôi quyết định giữ tỉ lệ Na2O/Al2O3 = 8 như điều kiện tối ưu để nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ thủy nhiệt và quá trình già hóa.

Kết quả chụp ảnh SEM của mẫu N8S 1 AH 450 cho thấy sự hiện diện của tinh thể lập phương đặc trưng của zeolite NaA, mặc dù vẫn có các hạt hình cầu nhỏ xung quanh Điều này cho thấy thời gian kết tinh chưa đủ để các tinh thể phát triển hoàn toàn.

Hình 3.21: Ảnh SEM của mẫu N 8 S 1 AH 450

3.3.5 Ảnh hưởng của chế độ thủy nhiệt và thời gian già hóa

Trong thí nghiệm này, chúng tôi thực hiện theo quy trình được mô tả trong Hình 3.19, giữ nguyên các tỉ lệ phối liệu theo mục 3.3.4, đồng thời khảo sát chế độ thủy nhiệt và thời gian già hóa Kết quả của thí nghiệm được trình bày chi tiết trong bảng dưới đây.

B ảng 3.18: Bảng kết quả khảo sát chế độ thủy nhiệt và già hóa

Kết quả Bảng 3.18 cho thấy, khi tăng thời gian thủy nhiệt và thời gian già hóa, khối lượng sản phẩm tăng dần

STT Kí hiệu mẫu T1 ( o C) t 1 (giờ) T2 ( o C) t 2 (giờ) Thời gian già hóa t 3 (giờ) m zeolite (g)

Các mẫu thu được được phân tích cấu trúc bằng phương pháp XRD, giản đồ

XRD được trình bày ở phần phụ lục Thông qua giản đồ, chúng tôi nhận thấy mẫu

Mẫu NaA90-4-1 có các pic gần như trùng với pic chuẩn của zeolite NaA, nhưng cường độ pic thấp hơn mẫu N8S 1 AH 450 Kết quả tính kích thước hạt cho thấy mẫu NaA90-4-1 có kích thước hạt là 35,22 nm, nhỏ hơn so với mẫu N8S 1 AH 450 Điều này chỉ ra rằng nhiệt độ thủy nhiệt 90 o C không đủ để các hạt kết tinh.

Thông qua giản đồ XRD của mẫu NaA100-4-24 ( Hình 3.22), chúng tôi nhận thấy các pic đều trùng với pic chuẩn của sodalite

Hình 3.22: Gi ản đồ XRD mẫu NaA100-4-24

Hình 3.23: Ảnh SEM của mẫu NaA100-4-24

Kết quả từ ảnh SEM của mẫu NaA100-4-24 cho thấy các tinh thể có hình dạng khối cầu đồng đều, đặc trưng cho sodalite Điều này chỉ ra rằng chế độ thủy nhiệt 100°C trong 4 giờ và thời gian già hóa 24 giờ không phù hợp để tổng hợp zeolite NaA Mặc dù sự hình thành sodalite là một điểm thú vị, nhưng do thời gian làm khóa luận đã hết, chúng tôi không thể tiếp tục khảo sát.

Kh ảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp phụ metylen xanh của zeolite

3.4.1 Ảnh hưởng của thời gian hấp phụ đến khả năng hấp phụ của zeolite

Thực hiện tương tự như nghiên cứu khả năng hấp phụ của silica tro trấu, quy trình như sau:

Lấy 6 bình tam giác, đánh số từ 1÷6, cân 0,5 g zeolite NaA (mẫu N8S 1 AH 450 ) vào bình tam giác chứa 50 ml dung dịch metylen xanh nồng độ 50 mg/l, tiến hành lắc trên máy lắc với tốc độ 350 vòng/phút trong các khoảng thời gian khác nhau, sau đó ly tâm nhiều lần, dung dịch còn lại được đo trắc quang trên máy UV-VIS để xác định nồng độ còn lại

Sau khi tiến hành theo quy trình đã nêu, chúng tôi thu được kết quả như sau:

B ảng 3.19: Kết quả khảo sát ảnh hưởng của thời gian đến khả năng hấp phụ của zeolite NaA

Nồng độ còn lại Ce (mg/l)

Dung lượng hấp phụ qe (mg/g)

Theo Bảng 3.19, trong giai đoạn đầu, dung lượng hấp phụ tăng nhanh chóng, cụ thể là từ 10 đến 20 phút, với sự gia tăng 0,02 mg/g trong vòng 10 phút Tuy nhiên, sau 90 phút, dung lượng hấp phụ trở nên ổn định và không còn tăng thêm.

Vì vậy, chúng tôi chọn thời gian 90 phút là cân bằng hấp phụ và nghiên cứu tiếp ảnh hưởng của pH đến khả năng hấp phụ của zeolite NaA

Kết quả nghiên cứu cho thấy silica tro trấu có khả năng hấp phụ cao, đặc biệt là trong giai đoạn đầu khi chất hấp phụ được thêm vào dung dịch màu, dẫn đến việc giảm nhanh nồng độ Ce Tuy nhiên, theo thời gian, các lỗ trống trong phân tử chất hấp phụ dần bị lấp đầy, khiến cho tốc độ giảm nồng độ Ce chậm lại và ổn định Thời điểm nồng độ Ce ổn định đánh dấu thời gian đạt được trạng thái cân bằng hấp phụ.

Hình 3.24 : Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của thời gian đến dung lượng hấp phụ của zeolite NaA

Hình 3.25: Ảnh chụp dung dịch khảo sát ảnh hưởng của thời gian hấp phụ

• Mẫu 0: mẫu metylen xanh ban đầu

• Mẫu 1: mẫu metylen xanh sau khi hấp phụ 10 phút

• Mẫu 2: mẫu metylen xanh sau khi hấp phụ 60 phút

• Mẫu 3: mẫu metylen xanh sau khi hấp phụ 120 phút

 So sánh v ới silica tro trấu

So sánh ảnh hưởng của thời gian đối với dung lượng hấp phụ của zeolite và silica tro trấu cho thấy zeolite có khả năng hấp phụ cao hơn khoảng 1,6 lần so với silica tro trấu, như được minh họa trong Hình 3.26.

Hình 3.26 : Đồ thị thể hiện sự phụ thuộc của dung lượng hấp phụ của silica tro trấu

SiO 2 và zeolite NaA vào th ời gian

3.4.2 Ảnh hưởng của pH đến khả năng hấp phụ của zeolite NaA

Lấy 9 bình tam giác dung tích 250 ml, đánh số từ 1÷ 9, cho vào mỗi bình 50 ml dung dịch metylen xanh 50 mg/l Sau đó, điều chỉnh pH từ 2÷10 bằng dung dịch KOH và HCl 0,05 M Cho vào mỗi bình 0,5 g zeolite và tiến hành lắc trên máy lắc trong 90 phút

Sau đó, ly tâm nhiều lần, lấy dung dịch đo mật độ quang trên máy UV-VIS xác định nồng độ còn lại (Ce) của metylen xanh

Sau khi tiến hành theo quy trình đã nêu, chúng tôi thu được kết quả như sau:

B ảng 3.20: Kết quả khảo sát ảnh hưởng của pH đến khả năng hấp phụ của zeolite

STT pH Nồng độ đầu

Nồng độ còn lại Ce (mg/l)

Dung lượng hấp phụ qe (mg/g)

0 30 60 90 120 150 qe (mg/g) thời gian (phút)

Kết quả từ Bảng 3.20 cho thấy pH ảnh hưởng đến khả năng hấp phụ của zeolite, mặc dù mức độ ảnh hưởng không lớn Ở pH = 7, zeolite cho thấy khả năng hấp phụ mạnh nhất với dung lượng đạt 4,70 mg/g và hiệu suất xử lý lên đến 94,0% Điều này có thể được giải thích bởi sự cạnh tranh hấp phụ giữa các ion H+ và OH− trên bề mặt zeolite trong môi trường axit hoặc bazơ, dẫn đến giảm khả năng hấp phụ của zeolite đối với chất màu metylen xanh.

Vì vậy, chúng tôi chọn pH = 7 là điều kiện tối ưu để khảo sát tiếp ảnh hưởng của lượng zeolite đến khả năng hấp phụ

Hình 3.27 : Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của pH đến dung lượng hấp phụ của zeolite

Hình 3.28: Ảnh chụp dung dịch khảo sát ảnh hưởng của pH

• Mẫu 0: mẫu metylen xanh ban đầu

• Mẫu 1: mẫu metylen xanh sau khi hấp phụ ở pH = 2

• Mẫu 2: mẫu metylen xanh sau khi hấp phụ ở pH = 7

• Mẫu 3: mẫu metylen xanh sau khi hấp phụ ở pH = 10

 So sánh v ới silica tro trấu

Hình 3.29 : Đồ thị thể hiện sự phụ thuộc của dung lượng hấp phụ của silica SiO 2 và zeolite NaA vào pH

3.4.3 Ảnh hưởng của lượng zeolite đến khả năng hấp phụ của zeolite NaA

Lấy 10 bình tam giác dung tích 250 ml, đánh số từ 1÷ 10, cho vào mỗi bình 50 ml dung dịch metylen xanh 50 mg/l Sau đó, điều chỉnh đến giá trị pH = 7 Cho vào mỗi bình một lượng zeolite khác nhau từ 0,1÷0,6 g và tiến hành lắc trên máy lắc trong thời gian 90 phút

Sau đó, lọc lấy dung dịch đo mật độ quang trên máy UV-VIS xác định nồng độ còn lại (Ce) của metylen xanh

Sau khi tiến hành theo quy trình đã nêu, chúng tôi thu được kết quả như sau:

B ảng 3.21: Kết quả khảo sát ảnh hưởng của lượng zeolite đến khả năng hấp phụ c ủa zeolite NaA

Mật độ quang Nồng độ còn lại Ce (mg/l)

Dung lượng hấp phụ qe (mg/g)

Theo Bảng 3.21, khi tăng khối lượng chất hấp phụ, dung lượng hấp phụ giảm nhưng hiệu suất tăng lên Cụ thể, hiệu suất ban đầu tăng mạnh khi khối lượng zeolite tăng từ 0,1 g lên 0,25 g, đạt mức tăng 24,0% Tuy nhiên, sau đó, hiệu suất tăng chậm dần và trở nên tương đối ổn định khi khối lượng zeolite đạt từ 0,4 g trở lên.

Khi xử lý mẫu 50 ml dung dịch metylen xanh nồng độ 50 mg/l với 0,6 g zeolite, chúng tôi ghi nhận giá trị mật độ quang gần bằng 0 (D = 0,0005), cho thấy dung dịch gần như trong suốt và không màu, đạt hiệu suất cao nhất là 94,2%.

Kết luận: Với tỉ lệ lượng zeolite / lượng metylen xanh = 600 mg / 2,5 mg thì khả năng hấp phụ gần như hoàn toàn

Hình 3.30 : Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của lượng zeolite đến dung lượng hấp phụ c ủa zeolite NaA

Hình 3.31: Ảnh chụp dung dịch khảo sát ảnh hưởng của lượng zeolite NaA

• Mẫu 0: mẫu metylen xanh ban đầu

• Mẫu 1: mẫu metylen xanh sau khi hấp phụ với 0,1 g zeolite

• Mẫu 2: mẫu metylen xanh sau khi hấp phụ với 0,25 g zeolite

• Mẫu 3: mẫu metylen xanh sau khi hấp phụ với 0,6 g zeolite

Từ các kết quả thu được, chúng tôi nghiên cứu cân bằng hấp phụ của zeolite

NaA đối với metylen xanh được thể hiện qua 2 đường đẳng nhiệt hấp phụ Langmuir và

B ảng 3.22: Bảng số liệu dựng đường đẳng nhiệt Langmuir và Freundlich của zeolite NaA

Nồng độ còn lại Ce

Dung lượng hấp phụ qe

Để xác định các hằng số trong phương trình đẳng nhiệt Langmuir cho zeolite NaA hấp phụ metylen xanh, chúng tôi đã vẽ đồ thị dưới dạng đường thẳng.

Hình 3.33 : Đường đẳng nhiệt Langmuir dưới dạng đường thẳng Áp phương trình đường tuyến tính vào phương trình đường đẳng nhiệt

Chúng tôi xác định được giá trị dung lượng hấp phụ cực đại của zeolite NaA và hằng số Langmuir k L như sau: max

Kết quả nghiên cứu cho thấy zeolite có khả năng hấp phụ vượt trội hơn so với silica tro trấu, với dung lượng hấp phụ cực đại của zeolite NaA gấp hơn 4 lần silica tro trấu.

Dựa trên số liệu từ Bảng 3.22, chúng tôi đã xây dựng một đường tuyến tính để thể hiện mối quan hệ giữa lnqe và lnCe, từ đó xác định các hằng số trong phương trình.

Hình 3.34 : Đường đẳng nhiệt Freundlich của zeolite NaA đối với metylen xanh Áp phương trình đường tuyến tính vào phương trình đường đẳng nhiệt

Chúng tôi xác định được các hằng số của phương trình đẳng nhiệt Freundlich của silica tro trấu đối với dung dịch metylen xanh như sau:

Phương trình đẳng nhiệt hấp phụ Freundlich biểu diễn cho quá trình hấp phụ này tốt hơn phương trình Langmuir, vì giá trị tương quan R 2 trong phương trình

Freundlich gần bằng 1 hơn phương trình Langmuir. y = 0.722x + 0.7143 R² = 0.9764

Ngày đăng: 24/05/2021, 17:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Mai Tuyên (2009), Zeolite - rây phân t ử và những khả năng ứng dụng thực t ế đa dạng , Vi ện Hóa học Công nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Zeolite - rây phân tử và những khả năng ứng dụng thực tế đa dạng
Tác giả: Mai Tuyên
Năm: 2009
[2] Phan Th ị Hoàng Oanh (2010), Bài gi ảng chuyên đề: “Phân tích cấu trúc v ật liệu vô cơ” , Khoa Hóa, Tr ường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng chuyên đề: “Phân tích cấu trúc vật liệu vô cơ”
Tác giả: Phan Th ị Hoàng Oanh
Năm: 2010
[3] Phan Th ị Hoàng Oanh (2010-2011), Bài gi ảng: “Vật liệu Vô cơ” , Khoa Hóa, Tr ường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng: “Vật liệu Vô cơ”
[4] Phan Th ị Hoàng Oanh (2000), Bài giảng: “Hóa h ọc chất rắn” , Khoa Hóa, Trường Đại học Khoa học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hóa học chất rắn”
Tác giả: Phan Th ị Hoàng Oanh
Năm: 2000
[5] Nguy ễn Thành Tuấn (2011), Khoá lu ận tốt nghiệp “Khảo sát các yếu tố ảnh h ưởng đến quá trình điều chế silica tro trấu và zeolite NaA từ tro trấu” , Khoa Hoá, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoá luận tốt nghiệp “Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình điều chế silica tro trấu và zeolite NaA từ tro trấu”
Tác giả: Nguy ễn Thành Tuấn
Năm: 2011
[6] Nguy ễn Tinh Dung, Lê Thị Vinh, Trần Thị Yến, Đỗ Văn Huê (1995), M ột s ố phương pháp Phân tích hóa lý, Khoa Hóa, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số phương pháp Phân tích hóa lý
Tác giả: Nguy ễn Tinh Dung, Lê Thị Vinh, Trần Thị Yến, Đỗ Văn Huê
Năm: 1995
[7] Lê Văn Cát (2002), H ấp phụ và trao đổi ion trong kĩ thuật xử lí nước và nước thải , NXB Th ống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hấp phụ và trao đổi ion trong kĩ thuật xử lí nước và nước thải
Tác giả: Lê Văn Cát
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2002
[9] Tr ần Văn Nhân, Nguyễn Thạc Sửu, Nguyễn Văn Tuế (2006), Hóa lí, T ập hai, NXB Giáo d ục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hóa lí
Tác giả: Tr ần Văn Nhân, Nguyễn Thạc Sửu, Nguyễn Văn Tuế
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
[10] Mai H ữu Khiêm (2004), Hóa keo , NXB Đại học Quốc gia, Thành phố Hồ Chí Minh.Ti ếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hóa keo
Tác giả: Mai H ữu Khiêm
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2004
[11] Horacio E. Bergna, William O. Roberts (2006), Colloidal silica fundamentals and applications, Surfactant science series, Volume 131, Taylor and Francis Sách, tạp chí
Tiêu đề: Colloidal silica fundamentals and applications
Tác giả: Horacio E. Bergna, William O. Roberts
Năm: 2006
[14] M. M. Rahman, N. Hasnida, and W. B. Wan Nik (2009), Preparation of Zeolite Y Using Local Raw Material Rice Husk as a Silica Source, J. Sci. Res. 1 (2), pp.285-291 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Preparation of Zeolite Y Using Local Raw Material Rice Husk as a Silica Source
Tác giả: M. M. Rahman, N. Hasnida, and W. B. Wan Nik
Năm: 2009
[15] Farook Adam, Anwar Iqbal (2010), The oxidation of styrene by chromium – silica heterogeneous catalyst prepared from rice husk, Chemical Engineering Journal 160, pp.742-750 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The oxidation of styrene by chromium – silica heterogeneous catalyst prepared from rice husk
Tác giả: Farook Adam, Anwar Iqbal
Năm: 2010
[16] V.P. Della, I. Kuhn, D. Hotza (2002), Rice husk ash as an alternate source for active silica production, Materials Letters 57, pp.818-821 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rice husk ash as an alternate source for active silica production
Tác giả: V.P. Della, I. Kuhn, D. Hotza
Năm: 2002
[17] Tzong-Horng Liou (2004), Preparation and characterization of nano- structured silica from rice husk, Materials Science and Engineering A364, pp.313-323 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Preparation and characterization of nano-structured silica from rice husk
Tác giả: Tzong-Horng Liou
Năm: 2004
[18] Piyawan Prawingwong, Chaiyan Chaiya, Prasert Reubroycharoen and Chanatip Samart (2009), Utilization of Rice Husk Ash Silica in Controlled Releasing Application, Journal of Metals, Materials and Minerals, Vol.19, No.2, pp.61-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Utilization of Rice Husk Ash Silica in Controlled Releasing Application
Tác giả: Piyawan Prawingwong, Chaiyan Chaiya, Prasert Reubroycharoen and Chanatip Samart
Năm: 2009
[20] Pongtanawat Khemthong, Sanchai Prayoonpokarach and Jatuporn Wittayakun (2007), Synthesis and characterization of zeolite LSX from rice husk silica, Suranaree J. Sci. Technol. 14(4), pp.367-379 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Synthesis and characterization of zeolite LSX from rice husk silica
Tác giả: Pongtanawat Khemthong, Sanchai Prayoonpokarach and Jatuporn Wittayakun
Năm: 2007
[21] N. Yalcin, V. Sevinc (2001), Studies on silica obtained from rice husk, Ceramics International 27, pp.219-224 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Studies on silica obtained from rice husk
Tác giả: N. Yalcin, V. Sevinc
Năm: 2001
[22] J.P. Nayak and J. Bera (2009), Preparation of silica aerogel by ambient pressure drying process using rice husk ash as raw material, Trans. Ind. Ceram. Soc.68(2), pp.1-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Preparation of silica aerogel by ambient pressure drying process using rice husk ash as raw material
Tác giả: J.P. Nayak and J. Bera
Năm: 2009
[23] Hamdan Halimaton (2007), Silica aerogel - Patent application publication, US 2007/027605 A1, United States Sách, tạp chí
Tiêu đề: Silica aerogel - Patent application publication
Tác giả: Hamdan Halimaton
Năm: 2007
[34] Precipitated silica from rice husk ash IPSIT (Indian Institute of Science Precipistated Silica Technology): http://www.cgpl.iisc.ernet.in Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN