1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập lớn học kì Hình Sự 2

7 246 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 27,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Điều 133. Tội cướp tài sản 1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.” Qua tình tiết mà đề bài đã cho, H và K đã “xông vào đe doạ và định trói bà P” ta có thể thấy H và K đã đã đe dọa dùng vũ lực để bà P không thể chống cự cũng như gọi người giúp đỡ, mà đối với tội cướp tài sản còn có một hành vi là “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản” tạo nên.

Trang 1

Bài 2:

Vũ K (37 tuổi) và Trần Kim H (41 tuổi) đã bàn bạc trước rất kỹ càng về việc chiếm đoạt tài sản của gia đình ông N (giám đốc một doanh nghiệp) Chiều 07/02/2010, lợi dụng tết, K và H mang theo một túi quà đến gõ cửa nhà ông N và nói với bà P (57 tuổi, là người giúp việc) là đến để chúc tết gia đình Không nghi ngờ gì, bà P đã mở cửa cho K và H vào nhà Sau khi vào nhà, chúng vờ xin nước

uống rồi xông vào đe doạ và định trói bà P Bà P sợ hãi van xin K, H và nói: “Các anh lấy gì thì cứ lấy, tôi chỉ là người giúp việc thôi”

K và H phá két sắt của gia đình, lấy đi 70 triệu đồng, 47 chỉ vàng cùng một số ngoại tệ Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 460 triệu đồng Sau khi K, H lấy được tài sản và bỏ đi thì bà P mới chạy ra đường hô hoán K, H bị bắt giữ ngay sau đó

Có 3 ý kiến khác nhau về tội danh của K và H:

a K và H phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản vì chúng đã có hành vi gian dối đánh lừa người giúp việc

b K và H phạm tội trộm cắp tài sản vì chúng có hành vi lợi dụng lúc gia đình ông N đi vắng để lấy tài sản Tuy bà P ở nhà nhưng bà chỉ là người giúp việc, không phải là chủ sở hữu của những tài sản đó, và giả sử bà P lợi dụng hoàn cảnh

đó để lấy tài sản của chủ thì bà P cũng sẽ bi coi là phạm tội trộm cắp tài sản

c K và H phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản vì chúng công khai lấy tài sản trước mắt người giúp việc

Hỏi:

1 K và H phạm tội gì? Hãy chứng minh (3 điểm)

2 Hãy phản bác các ý kiến mà anh (chị) cho là sai (4 điểm)

Trang 2

Bài Làm:

1 K và H phạm tội gì? Hãy chứng minh.

H và K đã phạm tội chiếm đoạt tài sản theo điều 133 BLHS

“Điều 133 Tội cướp tài sản

1 Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.”

Qua tình tiết mà đề bài đã cho, H và K đã “xông vào đe doạ và định trói bà P” ta có thể thấy H và K đã đã đe dọa dùng vũ lực để bà P không thể chống cự

cũng như gọi người giúp đỡ, mà đối với tội cướp tài sản còn có một hành vi là

“dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản” tạo nên.

Mặt khác, có thể thấy, khi H và K lấy tài sản, bà P có nhận thức được nhưng không thể ngăn cản, do đó H và K đã công khai chiếm đoạt tài sản Mà hành vi công khai chiếm tài sản là một trong những dấu hiệu của những tội như cướp tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản v.v

Từ hai dấu hiện trên, ta có thể kết luận được K và H đã phạm tội cướp tài sản được quy định theo điều 133 bộ luật hình sự Việt Nam

Trang 3

2 Hãy phản bác các ý kiến mà anh (chị) cho là sai.

- Ý kiến a: K và H phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản vì chúng đã có hành vi gian dối đánh lừa người giúp việc

“Điều 139 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1 Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”

Theo em, ý kiến này là sai Thoạt nhìn qua, khi H và K mang 1 túi quà đến gõ cửa nhà ông N và nói với bà P là đến để chúc tết gia đình, ta có thấy dấu hiệu của hành vi lừa dối nhưng để khẳng định H và K đã phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 139 BLHS là không có căn cứ bởi vì lúc đó, H và K vẫn chưa thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Nếu trong tình huống trên H và K phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì K và H phải lừa bà P đưa tài sản cho mình một cách tự nguyện Nhưng ta thấy ở đây rõ ràng K và H đã dùng đến đe dọa vũ lực bắt bà P không có khả năng cản trở hành vi phạm tội của chúng

Thứ hai, hành vi của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi không công khai Mà trong tình huống đề bài, H và K sau khi vào nhà đã dùng vũ lực để khống chế bà P để bà P không thể chống cự và công khai lấy tài sản

Do đó đây không thể khẳng định là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được

Trang 4

- Ý kiến b: K và H phạm tội trộm cắp tài sản vì chúng có hành vi lợi dụng lúc gia đình ông N đi vắng để lấy tài sản Tuy bà P ở nhà nhưng bà chỉ là người giúp việc, không phải là chủ sở hữu của những tài sản đó, và giả sử bà P lợi dụng hoàn cảnh đó để lấy tài sản của chủ thì bà P cũng sẽ bi coi là phạm tội trộm cắp tài sản

“Điều 138 Tội trộm cắp tài sản

1 Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”

Ý kiến này là sai bởi vì:

“ Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có chủ ”,

khách thể của tội phạm ở đây là quan hệ sở hữu về tài sản Lỗi của người phạm tội

là lỗi cố ý trực tiếp với mục đích chiếm đoạt tài sản Từ đó ta có thể thấy 2 dấu hiệu hành vi quan trọng của tội trộm cắp tài sản đó là “ lén lút” và “tài sản đã có chủ”

Ở dấu hiệu thứ nhất, “Tài sản là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản

là tài sản phải đang trong vòng kiểm soát của chủ sở hữu, người quản lý tài sản” H

và K đã lấy đi tài sản của ông N trong lúc vợ chồng ông N không có nhà mà lúc đó chỉ có bà P ở nhà, mà bà P không phải là chủ sở hữu của những tài sản mà H và K

đã lấy đi nhưng xét cho cùng đúng là bà P không phải là chủ sở hữu nhưng bà P nhận nhiệm vụ của chủ sở hữu là ông N trong coi tài sản trong nhà Do đó dấu hiệu này được thỏa mãn

Trang 5

Nhưng đối với dấu hiệu “lén lút”, những hành vi của H và K là không thỏa mãn vì sau khi đã vào được nhà, ngay lập tức H và K đã không chế bà P và công khai chiếm đoạt tài sản trước sự bất lực của bà P

Do đó, tội của H và K không thể là tội trộm cắp tài sản theo điều 138 BLHS được

Giả sử bà P lợi dụng hoàn cảnh đó để lấy tài sản của chủ thì bà P sẽ bi coi là phạm tội trộm cắp tài sản Trong tình huống đó, hành vi lợi dụng tình trạng sơ hở của chủ nhà cùng, hành vi khách quan là lén lút cùng ý chí chủ quan muốn che giấu hành vi, lợi dụng hành vi phạm tội đi liền trước của H và K và mục đích tư lợi thì ta có thể kết luận hành vi pham tội của bà P cấu thành tội trộm cắp tài sản Hành vi phạm tội của P hoàn tòan tách biệt, đơn phương thực hiện nên không thể ghép hành vi của bà P là hành vi đồng phạm với H và K được

- Ý kiến c: K và H phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản vì chúng công khai lấy tài sản trước mắt người giúp việc

“Điều 137 Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

1 Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt

tù từ sáu tháng đến ba năm.”

Cũng như tội cướp giật tài sản, dấu hiệu hành vi phạm tội cung CTTP của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là hành hi chiếm đoạt Hành vi chiếm đoạt này ohaan biệt với hành vi chiến đoạt của các tội phạm khác qua dấu hiệu công nhiên

Dấu hiệu này phản ánh hành vi chiến đoạt của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản có những đặt điểm sau:

- Hành vi chiếm đoạt có tính công khai như ở hành vi cướp giật;

Trang 6

- Hành vi này xảy xa trong hoàn cảnh người chủ tài sản không có điều kiện ngăn cản Do vậy, người phạm tội không cần và không có ý đinh có bất cứ thủ đoạn nào khác để đối phó với chủ tài sản Người phạm tội không dùng

vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực hay uy hiếp tinh thần hay nhanh chóng chiếm đoạt và nhanh chóng lẩn tránh

Mặc dù hành vi của H và K diễn ra khá công khai trước mặt bà P, đồng thời khiến cho bà P không làm gì được, không có điều kiện ngăn cản Nhưng ở dấu hiệu

“người phạm tội không dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực hay uy hiếp tinh thần nhanh chóng hay nhanh chóng chiếm đoạt và lẩn tránh”, trong tình huống này, K

và H đã có hành vi đe dọa, uy hiếp tinh thần nhanh chóng, mãnh liệt với bà P:

“xông vào đe doạ và định chói bà P” làm cho bà P lâm vào trạng thái sợ hãi

Như vậy, dựa vào những căn cứ trên, ta có thể thấy dấu hiệu phạm tội của H

và K hoàn toàn không thỏa mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, chúng ta không thể khẳng định K và H phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

1 Giáo trình luật hình sự Việt Nam tập I (trường đại học luật Hà Nội - NXB Công an nhân dân, 2009)

2 Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi bổ sung năm 2009)

3 Tội phạm và cấu thành tội phạm (Nguyễn Ngọc Hòa, NXB Công an nhân dân)

Ngày đăng: 12/04/2018, 18:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w