1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bai du thi tim hieu LLVT Quang Ninh

20 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 272,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Thực hiện chỉ thị của trên, từ tháng 5 đến tháng 10/1947 tỉnh đội Dân quân Liên tỉnh Quảng – Hồng và Tỉnh đội Dân quân Hải Ninh lần lượt được thành lập (tiền thân của Bộ CHQS tỉnh ngày[r]

Trang 1

PHÒNG GD & ĐT CẨM PHẢ TRƯỜNG TIỂU HỌC KIM ĐỒNG



BÀI DỰ THI

“ Lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Ninh

Lịch sử và những chiến công”

Họ và tên: Bùi Bích Hợp Nam (Nữ ): Nữ

Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không

Năm sinh: 1968 Số điện thoại: 0936211995

Trang 2

Địa chỉ: Trường TH Kim Đồng

BÀI DỰ THI TÌM HIỂU:

“Lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Ninh Lịch sử và những chiến công”

Câu hỏi 1 : Bạn hãy cho biết câu nói “ Quảng Ninh được ví như một nước Việt Nam

thu nhỏ” là của ai? Nói vào thời điểm nào? Sông Bạch Đằng nơi quân và dân ta (thế kỷ X và XIII ) đã lập nên chiến công oanh liệt, hiện nay thuộc những địa phương nào? Ai là người lãnh đạo lập nên những chiến công đó?

Trả lời:

*Câu nói “ Quảng Ninh được ví như một nước Việt Nam thu nhỏ” là của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng nhân chuyến thăm và làm việc tại Quảng Ninh

Từ ngày 27 đến ngày 28/02/1986, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng về thăm và làm việc tại tỉnh Quảng Ninh Sau khi nghe lãnh đạo tỉnh báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội, đồng chí phấn khởi và biểu dương Đảng bộ, nhân dân các dân tộc và lực lượng vũ trang Quảng Ninh đã có nhiều cố gắng, vượt qua khó khăn, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội đạt được những thành tựu quan trọng

Trước khi kết thúc chuyến thăm và làm việc, Chủ tich Hội đồng Bộ trưởng căn dặn: “ Quảng Ninh là một nơi đầy tự hào của đất nước, Đảng bộ, nhân dân lao động và các LLVT Quảng Ninh là những người đáng tự hào, các đồng chí phải làm cho Quảng Ninh là một nước Việt Nam thu nhỏ nhưng giàu đẹp hơn nhiều”

* Quảng Ninh là mảnh đất giàu truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm Nhiều tên đất, tên làng, tên sông đã gắn liền với những chiến công oanh liệt, một trong những địa danh gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta là sông Bạch Đằng (còn gọi là Bạch Giang), hiện là sông Vân Cừ, sông chảy giữa thị

xã Quảng Yên/ tỉnh Quảng Ninh và Thủy Nguyên/ thành phố Hải Phòng Sông có chiều dài 32km, là con đường thủy tốt nhất để đi vào Hà Nội (Thăng Long ngày xưa)

Sông Bạch Đằng là nơi quân và dân ta ( thế kỷ X và XIII) đã lập nên những chiến công oanh liệt Những chiến công đó là :

Chiến thắng Bạch Đằng lần thứ nhất: cuối mùa đông năm 938, vua Nam Hán phong con là Vạn Vương Hoằng Thao làm Gia Vương sai đem thủy quân đi xâm lược nước ta Nắm vững đường tiến quân từ hướng biển vào, Ngô Quyền đã huy động quân sĩ đẵn gỗ, đẽo thành cọc, đầu bịt sắt nhọn, cắm xuống sông Bạch Đằng, xây dựng thành một trận địa ngầm, có quân mai phục hai bên, sẵn sàng chờ giặc tới

Trang 3

Hoằng Thao đem thủy binh ồ ạt kéo vào phía cửa sông Bạch Đằng Đang lúc thủy triều lên ngập hết bãi cọc, Ngô Quyền cho quân dùng thuyền nhẹ ra đánh, nhử quân Nam Hán từ vịnh Hạ Long vào Quân ta vờ rút chạy, tướng trẻ Hoằng Thao mắc mưu, đắc chí thúc quân đuổi theo vượt qua trận địa ngầm của quân ta Quân ta chiến đấu cầm cự với giặc Khi thủy triều rút mạnh, Ngô Quyền ra lệnh cho toàn bộ quân ta phản công địch Thủy quân Nam Hán hoảng hốt quay đầu lại Ra đên gần cửa biển, thuyền địch đâm phải cọc nhọn, bị vỡ và bị đâm rất nhiều, quân giặc phần

bị giết, phần bị chết đuối, thiệt hại đến quá nửa Hoằng Thao cũng bỏ mạng tại đây Vua Nam Hán điều quân tiếp viện, nửa đường nghe tin Hoằng Thao chết trận, vội cùng tàn quân rút chạy, ý chí xâm lược nước ta của quân Nam Hán bị đè bẹp

Chiến thắng Bạch Đằng lần thứ 2 : Năm 981, quân Tống theo hai đường thủy

bộ ào ạt tiến vào xâm lược nước ta Quân bộ từ Ung Châu ( Quảng Tây) theo đường Lạng Sơn tiến vào Quân thủy từ Quảng Châu (Quảng Đông) vượt biển tiến sang Hai đạo quân thủy bộ của địch dự kiến sẽ phối hợp với nhau vào vây hãm Kinh thành Hoa Lư ( Ninh Bình)

Được muôn dân, tướng sĩ ủng hộ, Tháp đạo tướng quân Lê Hoàn trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Tống Phát huy sáng tạo chiến thuật của Ngô Quyền hơn 40 năm trước, ông sai quân sĩ đóng cọc ở sông Bạch Đằng để ngăn chặn chiến thuyền của địch Trên các đường tiến công khác của địch, ông bố trí lực lượng ngăn chặn

Khoảng cuối mùa xuân năm 981, trên sông Bạch Đằng đã diễn ra trận thủy chiến ác liệt Với truyền thống thủy chiến ưu việt của dân tộc, quân ta chiến đấu hết sức dũng cảm, đánh lui thủy quân địch, làm thất bại âm mưu phối hợp hai đạo quân thủy bộ Trên các mặt trận khác, quân ta cũng chặn đánh quyết liệt Quân địch bị đại bại, tướng giặc Hầu Nhân Bảo bị giết chết, nhiều tướng của địch bị bắt sống

Chiến thắng Bạch Đằng lần thứ 3: Tháng 12/1287, quân Nguyên chia thành 3 đạo từ 3 mũi tiến vào nước ta Tháng 2/1288, quân Nguyên vượt sông Hồng đánh chiếm kinh thành Thăng Long, triều đình nhà Nguyễn tạm thời rút lui chiến lược

Do rút kinh nghiệm thất bại lần trước, Thoát Hoan thấy đại bản doanh của hắn tại Thăng Long đang đứng trước nguy cơ bị bao vây, tiến công, tháng 3/1288 giặc đốt phá kinh thành Thăng Long, rồi rút quân về Vạn Kiếp Nhưng khu Vạn Kiếp cũng không còn là nơi an toàn Lương thiếu, quân số hao hụt, tinh thần binh sĩ rã rời, lại

bị quân ta tập kích liên tục Thấy mưu đồ xâm lược sắp thất bại, Thoát Hoan lo sợ

và sớm tìm đường rút lui để khỏi bi tiêu diệt hoàn toàn Thoát Hoan quyết định chia quân làm hai đạo, theo đường thủy bộ rút về trước Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp chỉ huy đạo quân bộ rút về trước theo đường Lạng Sơn Mọi âm mưu và hành động dù có được tính toán đến đâu cũng không thoát khỏi tai mắt của nhân dân và xét đoán tinh tường của nhà quân sự thiên tài Trần Quốc Tuấn Bạch Đằng là một sông lớn do sông Đá Bạc, sông Giá và nhiều nhánh sông khác đổ vào Dòng sông rộng mênh mông, bên phải có dãy núi đá vôi Tràng Kênh ăn sát bờ, bên phải có rừng cây um tùm che lấp bờ biển Theo sự chỉ đạo của Trần Quốc Tuấn, quân ta đẵn gỗ lim, táu trên rừng về, đẽo nhọn đầu cắm xuống sông tạo thành chướng ngại vật lớn Thủy quân ta mai phục trong các nhánh sông, sông Đá Bạc được mở rộng để quân địch

Trang 4

tiến vào Bộ binh tận dụng địa hình giấu quân trong núi đá Tràng Kênh và rừng rậm bên Tả Ngạn

Ngày 8/2/1288, một đội quân địch đi trước dò đường tiến vào sông Giá Đến Trúc Động ( Thủy Nguyên, Hải Phòng ), đội thuyền này bị quân ta chặn đánh phải rút lui Nhiệm vụ trận Trúc Động lại bịt đường sông Giá, buộc toàn bộ quân địch phải hành quân theo sông Đá Bạc vào sông Bạch Đằng, vào trận mai phục của Trần Quốc Tuấn

Sáng ngày 9/4/1288, đoàn thuyền địch bắt đầu tiến vào sông Bạch Đằng Một đội chiến thuyền của ta được lệnh tiến đánh, rồi giả thua rút chạy Ô Mã nhi liền thúc quân đuổi theo Lúc bấy giờ, nước thủy triều rút, nên vấp phải cọc gỗ, nhiều thuyền địch bị tan vỡ và bị đánh Ngay lúc quân địch đang rối loạn, thì thủy quân của ta từ hai bên bờ đổ ra đánh quyết liệt Quân ta lao những bè lửa được chuẩn bị sẵn vào thuyền địch Đạo quân của vua Trần cũng kịp thời đến ứng chiến Cuộc chiến đấu ác liệt từ tờ mờ sáng đến chiều tối, quân ta tiêu diệt toàn bộ đạo thủy quân của địch Các tướng giặc như; Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ… đều

bị bắt sống Quân ta thu được hơn 400 chiến thuyền, vô số giặc bị vùi thây dưới dòng sông Bạch Đằng

Trang 5

Dấu tích bãi cọc Bạch Đằng tại Yên Giang

Câu hỏi 2: Tỉnh đội Dân quân Liên tỉnh Quảng – Hồng, tỉnh đội Dân quân Hải

Ninh được thành lập vào thời gian nào? Bạn hãy cho biết hoàn cảnh ra đời của các

sự kiện trên? Ngày truyền thống của LLVT Quảng Ninh được xác định là ngày, tháng, năm nào?

Trả lời:

* Tỉnh đội dân quân Liên tỉnh Quảng – Hồng được thành lập vào ngày 01/05/1947

* Tỉnh đội dân quân tỉnh Hải Ninh được thành lập vào tháng 10/1947

- Ngay sau ngày toàn quốc kháng chiến (19/12/1946) đến đầu năm 1947 phong trào toàn dân đánh giặc trên địa bàn tỉnh Quảng Yên, Hải Ninh và Đặc khu Hồng Gai phát triển sâu rộng, chiến tranh du kích phát triển, LLVT được tổ chức rộng khắp và chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc

- Năm 1947, việc tổ chức và chỉ đạo xây dựng LLVT địa phương đã có sự chuyển biến mới từ Trung ương đến các thôn, xã

- Tháng 3/1947, Chính phủ quyết định chuyển Bộ Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia Việt Nam thành Bộ Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và Dân quân tự vệ Việt Nam Chính phr cũng quyết định xây dựng các Ban chỉ huy Tỉnh đội, Huyện đội, Xã đội dân quân thuộc Ủy ban kháng chiến các cấp

- Từ ngày 25 đến 27/5/1947 ( tại Suối Cát, Giang Tiên, Phú Lương, Thái Nguyên), Hội nghị dân quân toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức do đồng chí Võ Nguyên Giáp chủ trì Hội nghị đã thông qua một số vấn đề quan trọng: Thống nhất

cơ chế tổ chức lãnh đạo, chỉ huy, nguyên tắc, hình thức tổ chức các cấp dân quân… Sau hội nghị dân quân toàn quốc, từ tháng 5/1947 trở đi hệ thống cơ quan quân sự

Trang 6

các cấp lần lượt được thành lập và dân quân tự vệ trở thành một bộ phận trong các lực lượng vũ trang của Nhà nước

- Thực hiện chỉ thị của trên, từ tháng 5 đến tháng 10/1947 tỉnh đội Dân quân Liên tỉnh Quảng – Hồng và Tỉnh đội Dân quân Hải Ninh lần lượt được thành lập (tiền thân của Bộ CHQS tỉnh ngày nay: Đến tháng 10/1947 hệ thống cơ quan quân

sự địa phương từ cấp tỉnh đến cấp huyện, xã trên địa bàn Liên tỉnh Quảng- Hồng và tỉnh Hải Ninh (địa bàn tỉnh Quảng Ninh ngày nay) dược kiện toàn đầy đủ, thống nhất, đáp ứng được nhu cầu, nhiệm vụ của cuộc kháng chiến

* Ngày truyền thống của LLVT tỉnh Quảng Ninh được xác định là ngày 18/10/1947

Câu hỏi 3: Đồng chí cho biết tên gọi của cơ quan quân sự địa phương của

tỉnh Quảng Ninh qua các thời kỳ? Hãy nêu tên các đồng chí Tỉnh đội trưởng, Chỉ huy trưởng, Phó Chỉ huy trưởng về chính trị,Chính ủy, Chính trị viên tỉnh đội qua các thời kỳ?

- Chiến khu Trần Hưng Đạo trong kháng chiến chống Pháp ra đời vào thời gian nào trong hoàn cảnh nào? Hiện nay, Chiến khu Trần Hưng Đạo thuộc những địa phương nào?

Trả lời:

* Tên gọi của cơ quan quân sự địa phương của tỉnh Quảng Ninh qua các thời kỳ:

- Xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ trong từng thời kỳ cách mạng, Tỉnh đội dân quân( tiền thân Bộ CHQS tỉnh ngày nay) cũng có sự thay đổi về tên gọi Cụ thể là:

Từ năm 1947 đến năm 1948 là 2 tỉnh bao gồm Tỉnh đội dân quân Liên tỉnh Quảng-Hồng và Tỉnh đội Dân quân Hải Ninh; Từ 25/8/1948đến tháng 10/1956 là: Tỉnh đội Dân quân tỉnh Quảng Yên, Đặc khu đội Hòn Gai và Tỉnh đội Dân quân tỉnh Hải NinhTrực thuộc Liên khu I, sau đó Liên khu I hợp nhất với quân Khu 10 thành Liên khu Việt Bắc Từ tháng 10/1956 đến tháng 3/1963 thuộc Quân khu Tả Ngạn.Sau khi Trung ương có quyết định thành lập tỉnh Quảng Ninh(năm 1963), từ tháng 4/1963đến năm 1964, thuộc quân khu 3 từ cuối năm 1964 đến năm 1967 thuộc quân khu Đông Bắc Từ tháng 3/1967đến tháng 4/1971 thuộc Bộ Tư lệnh Hải Quân kiêm Quân khu Đông Bắc Từ tháng 4/1971đến năm 1978 thuộc Quân khu

Tả Ngạn, sau đổi thành Quân khu 3.Từ năm 1978 đến 1979 thuộc Quân khu I; Từ ngày 19/4/1979 đến ngày 18/10/1987 là Đặc khu Quảng Ninh Đến năm 1987 Đặc khu Quảng Ninh sáp nhập với quân khu; Ngày 18/10/1987 Bộ CHQS Quảng Ninh được tái thành lập, trực thuộc Quân khu 3

* Một số đồng chí Tỉnh đội trưởng, Chỉ huy trưởng, Phó Chỉ huy trưởng về chính trị, Chính ủy, Chính trị viên Tỉnh đội qua các thời kỳ:

- Đ/c Vũ Đình Mai,Tỉnh đội trưởng Liên tỉnh Quảng-Hồng năm1947.Tỉnh đội trưởng khu Hồng Quảng từ năm 1956 đến năm 1963 và tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Quảng Ninh từ năm 1970 đến năm 1975

- Đ/c Lý Chí Dân, Tỉnh đội trưởng Liên tỉnh Quảng Hồng năm 1948

- Đ/c Hà Văn Tuất, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Quảng Yên năm 1948

- Đ/c Nguyễn Anh Vũ, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Quảng Yên từ năm 1950-1954

- Đ/c Lý Văn Bài, Tỉnh đội trưởng Đặc khu đội Hồng Gai từ năm 1950-1955

Trang 7

- Đ/c Lý Văn Bài, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Hải Ninh năm 1947.

- Đ/c Nông Văn Nguyên, Tinh đội trưởng Tỉnh đội Hải Ninh năm 1947

- Đ/c Võ Quốc Vinh, Tỉnh đội tưởng Tỉnh đội Hải Ninh năm 1948

- Đ/c Đặng Công Lệnh, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Hải Ninh từ năm 1949-1952

- Đ/c Mai Trung lâm, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Hải Ninh từ 1953-1954

- Đ/c Tăng Văn Hội, Tỉnh đội trưởng Khu Hồng Quảng năm 1955

- Đ/c Lê Chính, Chính ủy Tỉnh đội Quảng Ninh từ 1970-1977

- Đ/c Phạm Xưởng, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh từ năm 1987-1988

- Đ/c Nguyễn Thế Trị, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh từ năm 1988-1991

- Đ/c Tô Quốc Trịnh, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh từ năm 1991-1999

- Đ/c Đỗ Ngọc Phương, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh từ năm 1999-2004

- Đ/c Trần Thành, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh từ năm 2000đến nay

- Đ/c Lê Đắc Sao, Phó Chỉ huy trưởng Chính trị Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh từ năm 1987-1988

- Đ/c Nguyễn Tiến Long, Phó Chỉ huy trưởng Chính trị Bộ CHQS sự tỉnh Quảng Ninh từ năm 1988- 1991

- Đ/c Phạm Quang Vinh, Phó Chỉ huy trưởng Chính trị Bộ CHQS sự tỉnh Quảng Ninh từ 1991-1995

- Đ/c Phạm Ngọc Cương, Phó Chỉ huy trưởng Chính trị Bộ CHQS sự tỉnh Quảng Ninh từ năm 1995-1998

- Đ/c Nguyễn Công Tranh, Phó Chỉ huy trưởng Chính trị Bộ CHQS sự tỉnh Quảng Ninh từ năm 1998-2004

- Đ/cTrần Quang Dự, Phó Chỉ huy trưởng Chính trị Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh từ năm 2004-2005; năm 2006-2007 là Chính ủy Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh

- Đ/c Nguyễn Việt Dĩnh, Chính ủy Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh từ 2007-2010

- Đ/c Đặng Xuân Thọ, Chính ủy Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh từ năm 2010 đến nay

* Hoàn cảnh và thời gian ra đời của Chiến khu Trần Hưng Đạo;

Trong những năm 1925 – 1930, nhất là sau hội nghị hợp nhất 3 tổ chức cộng sản; Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên Đoàn thành Đảng Cộng Sản Việt Nam ( ngày 3/2/1930) Phong trào cách mạng các tỉnh vùng duyên hải Đông Bắc Bộ ( Hải Dương, Quảng Yên, Kiến An, Hải Phòng và Hải Ninh) phát triển mạnh mẽ

Từ giữa năm 1944, một cán bộ của Đảng là đ/c Trần Cung ( tức Nguyễn Ngọc Cư) sau khi thoát khỏi nhà tù Hỏa Lò ( Hà Nội) đã bí mật về vùng Chí Linh hoạt động Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, trong số chiến sĩ cách mạng vượt ngục Nghĩa Lộ ( Yên Bái) tỏa về các tỉnh vùng duyên hải Đông Bắc có đ/c Hải Thanh ( tức Nguyễn Văn Doanh) Sau 3 ngày, anh bắt mối với Nguyễn Văn Tuệ ( tức Nguyễn Kiên Tranh ), thường gọi là sư Tuệ mới trốn khỏi nhà giam thị xã Nam Định mấy tháng phối hợp tuyên truyền, xây dựng cơ sở Việt Minh Tại vùng Đông

Trang 8

Triều, có đ/c Nguyễn Đình là người hoạt động rất tích cực xây dựng cơ sở cách mạng Nguyễn Bình là công nhân tàu biển của Pháp, nhưng sớm giác ngộ yêu nước chống Pháp, tham gia Việt Nam Quốc dân Đảng, bị bắt cầm tù ở Côn Đảo Trong

tù, được các chiến sĩ cộng sản giác ngộ lý tưởng và anh đã đi theo quan điểm giai cấp vô sản Từ năm 1943 trở đi, Nguyễn Bình mở rộng hoạt động từ Bần Yên Nhân (Hưng Yên) sang Hải Phòng, Kiến An Tiếp theo, Nguyễn Bình lần lượt cử cán bộ Vào Đông Triều tham gia xây dựng căn cứ và đẩy mạnh công tác sắm vũ khí để gửi vào khu căn cứ

Trung tuần tháng 4/1945, Xứ ủy viên Trần Đức Thịnh, được phân công trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng tại bắc Ninh, Hải Dương Về Hải Dương đồng chí chỉ đạo các cuộc họp các cán bộ Đảng của tỉnh tại Đông Thôn, huyện Thanh Miện Tham dự cuộc họp có Nguyễn Văn Kha, Trần Cung, Nguyễn Công Hòa, Vũ Duy Hiệu và Hải Thanh Đồng chí Trần Đức Thịnh phổ biến chỉ thị “nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” Đồng chí nhắc chủ trương của Xứ ủy về xây dựng một chiến khu kháng Nhật ở vùng duyên hải Đông Bắc, mà Hải Dương có vùng núi tiếp giáp với Bắc giang là nơi có tập thể chiến khu Qua thảo luận, các đại biểu nhất trí phải đẩy mạnh phong trào cách mạng ở Hải Dương lên cao cho kịp với các phong trào của các tỉnh bạn Các đồng chí: Trần Cung Hải Thanh cho rằng, Chí Linh, Đông Triều có tầm quan trọng về kinh tế và quân sự, là nơi có địa lợi, nên đề nghị chọn hai huyện này để lập chiến khu Đề cập tên gọi chiến khu, đồng chí Trần Đức cho biết; Chiến khu Cao - Bắc - Lạng là”Đệ nhất chiến khu”; Chiến khu Thái – Tuyên – Hà là “Đệ nhị chiến khu”; Chiến khu Hòa – Ninh – Thanh là “ Đệ tam chiến khu” : nếu theo thứ tự thì chiến khu vùng duyên hải Đông Bắc này là “ Đệ tứ chiến khu” Cuối cuộc họp đồng trí Xứ ủy viên công bố quyết định của Thường trực

Xứ ủy thành lập lại Ban Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Hải Dương gồm 5 người là Nguyễn Văn Kha, Trần Cung, Nguyễn Công Hòa, Vũ Huy Diệu và Hải Thanh, do đồng chí Nguyễn Kha làm Bí thư

Cuối hạ tuần tháng 4/1945, tại nhà ông Nguyễn Văn Đài ở phố Mạo Khê, Nguyên bình đã gặp Hải Thanh để bàn việc phối hợp hoạt động xây dựng lực lượng chuẩn bị cho việc thành lập chiến khu.Tiếp theo, Nguyễn Bình gặp Trần Cung, Hải Thanh ở chua Bắc Mã (Đông Triều) để thống nhất lực lượng cách mạng; sau đó tiếp tục về Hải Phòng xây dựng lực lượng cách mạng Được cán bộ của Đảng trực tiếp chỉ đạo, phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ tại các huyện; Chí Linh, Nam Sách, Thanh Hà, Gia Lộc, khu Mạo Khê( huyện Đông Triều) Nhiều cán bộ việt Minh, thanh niên và binh sĩ yêu nước từ Hải Phòng, Kiến An tìm đến căn cứ cách mạng Đông Triều Cơ sở Việt Minh lan rộng ở cả thị xã Quảng Yên, huyện Hưng Yên, khu mỏ Hòn Gai- Cẩm Phả và huyện Móng Cái ….là những cơ sở thực tiễn rất quan trọng cho thành lập chiến khu

Tối ngày mùng 7/6 năm Ât Dậu, tại nhà hội viên cứu quốc Nguyễn Kim Ngọc, làng Đạm Thủy( Đông Triều), Ban lãnh đạo khu căn cứ họp bàn và quyết định kế hoạch khởi nghĩa vào ngày 8/6 năm Ất Dậu ( tức ngày 16/7/1945) Cuộc họp kiểm điểm công việc chuẩn bị khởi nghĩa trong thời gian qua và thảo luận phương án đánh chiếm các vị trí địch, phân công cán bộ trực tiếp chỉ huy lực lượng đánh từng vị trí địch

Trang 9

Thực hiện kế hoạch khởi nghĩa của Ban lãnh đạo căn cứ, trong ngày 8/6 năm

Ất Dậu, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Bình, nghĩa quân đã chiếm đồn Đông Triều; dưới sự chỉ huy của Hải Thanh, Lê Hai, nghĩa quân đánh chiếm đồn Chí Linh; dưới

sự chỉ huy của Trần Cung, nghĩa quân đánh chiếm đồn Tràng Bạch và tước vũ khí của bọn chủ mỏ Mạo Khê; còn phủ lỵ Kinh Môn do sư Tuệ chỉ huy chưa thực hiện được

Chiều ngày 8/6, các đoàn quân khởi nghĩa cùng những chiến sĩ mới tình nguyện quay súng về với cách mạng đều tập trung tại làng Hổ Lao - Đông Triều trong không khí tưng bừng của ngày hội chiến thắng Buổi chiều cùng ngày, ban lãnh đạo cuộc khởi nghĩa đã họp, kiểm điểm việc thực hiện kế hoạch khởi nghĩa và

đề ra những nhiệm vụ trước mắt trong công cuộc xây dựng và bảo vệ chiến khu Cuộc họp quyết định thành lập ủy ban quân sự cách mạng gồm 4 người để lãnh đạo các mặt công tác xây dựng và bảo vệ chiến khu Phân công các đồng chí trong Ủy ban quân sự cách mạng: Hải Thanh – Bí thư, phụ trách công tác chính trị; Nguyễn Hiền - Ủy viên quân sự; Nguyễn Bình - Ủy viên kinh tế( tài chính, quân sự, vũ khí); Trần Cung - Ủy viên phụ trách công tác dân vận, xây dựng chính quyền và liên lạc với cấp trên Ít lâu sau, đồng chí Trần Đức Thịnh chỉ định thêm Lê Minh (tức vũ Kinh hay Tú Lưu) vào Ban lãnh đạo Chiến khu phụ trách dân vận cùng với đồng chí Trần Cung (đồng chí Lê Tâm là người phụ trách chính tiến công huyện lỵ Kinh Môn, Thanh Hà ngày 10/6/1945)

Sáng ngày 9/6, tại cuộc mít tinh sân đình Hồ Lao, đồng chí Trần Cung thay mặt Ban lãnh đạo khởi nghĩa tuyên bố chính thức thành lập Chiến khu kháng chiến mang tên “ Du kích cách mạng quân” và công bố danh sách Ủy ban quân sự cách mạng lãnh đạo chiến khu Tiếp theo, Nguyễn Bình, đại diện ủy ban quân sự cách mạng tuyen đọc “Bảy diều kỷ luật của Du kích cách mạng quân”

Chua đầy 3 tháng kể từ ngày thành lập, chiến khu Trần Hưng Đạo dã phát triển rộng lớn, với những vùng căn cứ vũ trang cách mạng; Kim Sơn (Kiến Thụy), Câu Trung, Tứ Nghi(An Lão), Thượng Huyện(Thủy Nguyên), Phả Lại(Chí Linh) và vùng Việt Minh: Kim Môn, Nam Sách, Thanh Hà, Chí Linh, Đông Triều, Thủy Nguyên, An Lão….tạo thành một khu vực rộng lớn gồm một phần tỉnh Quảng Yên, Hải Ninh, một phần nông thôn tỉnh Hải Dương và Kiến An Khi thời cơ tổng khởi nghĩa tới, lực lượng vũ trang cách mạng Chiến khu Trần Hưng Đạo và căn cứ vũ trang cách mạng làmnòng cốt cho toàn dân nổi dậy đánh chiếm các phủ lỵ, huyện

lỵ, tỉnh lỵ và thành phố Hải Phòng lật đổ chính quyền tay sai phát – xít Nhật, giành chính quyền về tay nhân dân

Ngày 8/6 năm Ất Dậu(tức ngày 16/7/1945), với những chiến công vang dội cùng một lúc đánh chiếm 4 đồn binh địch ở Đông Triều, Chí Linh, Tràng Bạch, Mạo Khê, đánh dấu ngày chính thức ra đời chiến khu Trần Hưng Đạo – Đệ tứ chiến khu, một căn địa cách mạng có ý nghĩa và tầm vóc quan trọng nhiều mặt trong giai đoạn tiền khởi nghĩa và trong cách mạng tháng 8/1045 ở vùng duyên hải Đông Bắc

Bộ, làm nòng cốt trong hình thành, xây dựng và phát triển LLVT cách mạng vùng châu thổ sông Hồng sau này Chiến khu Trần Hưng Đạo ở vùng duyên hải Đông Bắc Bộ chứng minh chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng ta xây dựng LLVT cách mạng, xây dựng căn cứ cách mạng để dành chính quyền

Trang 10

Hiện nay, Chiến khu Trần Hưng Đạo thuộc địa bàn 2 huyện Chí Linh (tỉnh Hải Dương) và huyện Đông Triều( tỉnh Quảng Ninh)

Câu hỏi 4: Đồng chí hãy cho biết trong cuộc kháng chiến chống thực dân

Pháp, quân và dân Quảng Ninh đã chiến đấu bao nhiêu trận? Tiêu diệt và bắt sống bao nhiêu tên giặc?

Trả lời:

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, quân và dân Quảng Ninh đã đánh 3159 trận, làm chết bị thương 22.100 tên địch, bắt 2831 tên, thu trên

8000 súng các loại và nhiều quân trang, quân dụng khác

Một số trận đánh tiêu biểu của quân và dân Quảng Ninh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954):

- Khởi nghĩa vũ trang ở Đông Triều, Mạo Khê, Tràng Bạch, Chí Linh ngày 08/6/1945

- Trận chiến đấu tập kích đồn Uông Bí và Trại Bí Chợ của du kích quân chiến khu Đông Triều, ngày 01/7/1945

- Trận tập kích chiếm tỉnh lỵ Quảng yên của du kích quân chiến khu Đông Triều, ngày 20/7/1945

- Trận đánh chiếm tàu Cray - xắc và Ô-đa-xi-ơ trên vịnh Hạ Long, ngày 7 và 11/9/1945

- Trần tập kích địch ở Hà Lầm, đêm 24 rạng ngày 25/12/1946

- Trận phục kích đoàn xe quân sự của địch ở Điền Xá, Tiên Yên, ngày 04/3/1949

- Trận tập kích địch ở thị xã Móng Cái, ngày 27/3/1949

- Trận tập kích địch ở đồn Bình Liêu đêm 24 ngày 25/12/1950

- Quân dân tỉnh Quảng Yên tham gia chiến dịch đường số 18(23/3 đến 07/4/1951)

- Chống chiến dịch càn quét Bô-lê-rô ở vùng sau lưng địch của quân và dân tỉnh Quảng Yên (28/6 đến 26/8/1952)

- Trận chống càn bảo vệ căn cứ Áng Tái của du kích xã Yên Đức, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Yên, từ ngày 16 đến ngày 17/3/1953

- Trận chống càn bảo vệ căn cứ Bằng Tân, xã Thượng Yên Công, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên từ ngày 04 đến ngày 07/10/1953

Câu hỏi 5 : Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân và dân tỉnh

Quảng Ninh đã bắn cháy bao nhiêu máy bay? Tiêu diệt và băt sống bao nhiêu giặc lái Mỹ? Tên giặc lái Mỹ bị bắt sống đầu tiên trên miền Bắc bị quân dân Quảng Ninh bắt vào ngày, tháng, năm nào? ở đâu? Hãy kể tên một số người trực tiếp bắt sống tên giặc lái Mỹ? Địa phương nào trong tỉnh bắn cháy nhiều máy bay nhất? Thư khen của Hồ Chủ Tịch gửi quân và dân Quảng Ninh bắn rơi 100 máy bay Mỹ được Bác viết vào thời điểm nào? Bạn hãy nêu toàn văn bức thư khen của Bác

Trả lời:

 Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quân và dân Quảng Ninh đã bắn cháy 200 máy bay Mỹ (chiến tranh phá hoai lần thứ nhất bắn rơi 173 chiếc, lần thứ

2 bắn rơi 27 chiếc); Dân quân du kích xã Xuân Sơn, huyện Đông Triều là đơn vị bắn rơi chiếc máy bay 100 trên bầu trời Quảng Ninh và quân dân xã đảo Ngọc Vừng, huyện Cẩm Phả là đơn vị bắn rơi chiếc máy bay thứ 200 trên bầu trời Quảng Ninh đã tiêu diệt và bắt sống nhiều giặc lái Mỹ

Ngày đăng: 23/05/2021, 19:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w