1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Chương trình ôn tập Triết học Mác - Lênin

31 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chương Trình Ôn Tập Triết Học Mác - Lênin
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Tài liệu ôn tập
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 299,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương trình ôn tập Triết học Mác - Lênin trình bày các nội dung cốt lõi của môn học Triết học Mác - Lênin qua 9 vấn đề cơ bản, bao gồm: vấn đề cơ bản của triết học sự đối lập giữa quan điểm duy vật và duy tâm trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, quan niệm của triết học trước mác về vật chất, phạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng, quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về: nguồn gốc, bản chất của ý thức, hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật,... Tham khảo nội dung tài liệu để ôn tập Triết học Mác - Lênin hiệu quả.

Trang 1

VẤN ĐỀ 1 VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC

SỰ ĐỐI LẬP GIỮA QUAN ĐIỂM DUY VẬT VÀ DUY TÂM TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC

1 Nội dung và ý nghĩa của vấn đề cơ bản của triết học

Trong tác phẩm “L.Phoi-ơ-bắc và sự cáo chung của Triết học cổ điểm Đức” Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Vấn đề

cơ bản lớn nhất của mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại” (Toàn tập,t21,tr.403)

Trong thế giới có vô vàn hiện tượng nhưng chung qui lại chúng ta chỉ phân làm hai loại, một là, những hiện tượng vật chất (tồn tại, tự nhiên), hai là, những hiện tượng tinh thần (tư duy, ý thức) Do vậy, vấn đề về mối quan

hệ giữa vật chất và ý thức được goi là “vấn đề cơ bản lớn nhất” hay “vấn đề tối cao” của triết học Vì việc giải

quyết vấn đề này là cơ sở và là điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học

+ Tự nhiên – tinh thần

+ Tồn tại – tư duy

+ Vật chất – ý thức

* Vấn đề cơ bản của triết học đó là vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Bởi vì:

- Vật chất và ý thức là hai hiện tượng rộng lớn nhất của đời sống con người

- Đây là vấn đề xuyên suốt trong mọi hệ thống triết học

- Giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức nó là cơ sơ để phân định lập trường triết học của các trườngphái, các khuynh hướng, các hình thức của triết học

Vấn đề cơ bản của triết học gồm hai mặt:

- Mặt thứ nhất (mặt bản thể luận) trả lời câu hỏi: trong mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào sinh ra cái nào, cái nào quyết định cái nào? (Trong mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên thì vị trí và vai trò của con người đối với giới tự nhiên như thế nào?)

- Mặt thứ hai (mặt nhận thức luận) trả lời câu hỏi: tư duy con người có khả năng nhận thức thế giới chung quanh hay không? (Trong mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên thì khả năng nhận thức của con người với giới tự nhiên ra sao?)

2 Sự đối lập giữa hai quan điểm duy vật và duy tâm trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học

Mặt thứ nhất

CNDV

CNDT

Nhất nguyên  monism – monos (duy nhất )

Nhị nguyên  dualism – dualis (2 mặt)

Đa nguyên  Pluralism – plulis (nhiều)

Trang 2

- Chủ nghĩa duy vật là trào lưu triết học cho rằng tồn tại (tự nhiên, vật chất) có trước tư duy (tinh thần, ý

2 Các hình thức phát triển của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử

a Chủ nghĩa duy vật chất phác

Chủ nghĩa duy vật chất phác là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy vật thời cổ đại Trong khi thừa nhận

tính thứ nhất của vật chất, chủ nghĩa duy vật giai đoạn này đã đồng nhất vật chất với một hay một số chất cụ thể, coi

đó là thực thể đầu tiên, là bản nguyên của vũ trụ

Tuy còn nhiều hạn chế nhưng chủ nghĩa duy vật thời kỳ cổ đại đã có nhiều đóng góp cho lịch sử phát triển của

tư tưởng nhân loại vì nó đã lấy bản thân giới tự nhiên để giải thích giới tự nhiên, nó không viện đến thần linh haymột đấng sáng tạo nào để giải thích thế giới

b Chủ nghĩa duy vật siêu hình

Chủ nghĩa duy vật siêu hình xuất hiện từ khoảng thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII và đạt đỉnh cao vào thế kỷ XIX.

Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của cơ học vì vậy nó đã ảnh hưởng lớn tới quan điểm của các nhà triết học thời

kỳ này Chủ nghĩa duy vật trong giai đoạn này chịu sự tác động mạnh mẽ của phương pháp tư duy siêu hình, máymóc của cơ học cổ điển Họ nhận thức thế giới như một cỗ máy cơ giới khổng lồ mà mỗi bộ phận tạo nên nó luôn

ở trong trạng thái biệt lập, tĩnh tại; nếu có biến đổi thì đó chỉ là sự tăng, giảm đơn thuần về số lượng và do nhữngnguyên nhân bên ngoài gây nên

c Chủ nghĩa duy vật biện chứng

Chủ nghĩa duy vật biện chứng do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng, sau đó được V.I.Lênin và những người kế

tục bảo vệ và phát triển Kế thừa những tinh hoa trong lịch sử triết học của nhân loại và vận dụng những thành tựucủa khoa học tự nhiên đương thời C.Mác và Ph.Ăngghen đã xây dựng nên những quan điểm, nguyên lý, quy luật

cơ bản nhất của chủ nghĩa duy vật biện chứng Trên cơ sở phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan trong mối liên

hệ phổ biến và sự phát triển, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã cung cấp công cụ vĩ đại cho hoạt động nhận thứckhoa học và hoạt động thực tiễn

Trang 3

VẤN ĐỀ 2 QUAN NIỆM CỦA TRIẾT HỌC TRƯỚC MÁC VỀ VẬT CHẤT PHẠM TRÙ VẬT CHẤT CỦA

CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG

1 Quan niệm về vật chất trong triết học trước Mác

Việc khám phá ra bản chất và cấu trúc tồn tại của thế giới xung quanh ta, mà trước hết là thế giới của những vậthữu hình là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong lịch sử nhận thức của nhân loại Hầu hết các trường phái triết họcđều bằng cách này hay cách khác giải quyết vấn đề này Và bởi vậy trong triết học phạm trù vật chất xuất hiện

Phạm trù là gì? Phạm trù là khái niệm rộng nhất, phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên

hệ chung cơ bản của các sự vật, hiện tượng thuộc một lĩnh vực hiện thực nhất định gọi là phạm trù.

* Khái quát quan niệm của chủ nghĩa duy vật trước Mác về vật chất

- Chủ nghĩa duy tâm: phủ nhận vật chất với tính cách là thực tại khách quan Cho rằng thế giới vật chất là tạovật của thượng đế, hoặc là “sự kết hợp” những cảm giác của con người

- Chủ nghĩa duy vật cổ đại: đồng nhất vật chất với những dạng tồn tại cụ thể của vật chất:

+ Talét (Thales): nước

+ Anaximen (Anaximenus): Không khí

+ Hê-ra-clít (Heraclitus): Lửa

+ Anaximanđrơ cho rằng, thực thể của thế giới là một bản nguyên không xác định được về mặt chất và vô tận

về mặt lượng

+ Lơ-xíp và Đê-mô-crít: Nguyên tử Các ông coi đây phần tử cực kỳ nhỏ, cứng, truyệt đối không thâm nhậpđược, không quan sát được và nói chung không cảm giác được, chỉ có thể nhận biết nhờ tư duy Đê-mô-crít hìnhdung nguyên tử có nhiều loại, sự kết hợp hoặc tách rời giữa chúng theo các trật tự khác nhau của không gian sẽ tạonên toàn bộ thế giới

+ Triết học Ấn Độ: Đất, nước, lửa, gió

+ Thuyết Âm dương - Ngũ hành: Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ

- Chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII - XVIII đồng nhất vật chất với nguyên tử và khối lượng

Tóm lại, các nhà triết học trước Mác đại đều không trả lời được câu hỏi, bản chất của thế giới là gì? Mà họ lại

đi vào nghiên cứu, tìm hiểu cấu tạo của vật chất Do vậy, họ đã khẳng định, vật chất là cái bất biến, cái cụ thể nào

đó Quan niệm này đã tồn tại suốt nhiều thế kỷ trong lịch sử triết học

2.ĐỊNH NGHĨA VẬT CHẤT

* Bối cảnh lịch sử khi V.I.Lênin đưa ra định nghĩa vật chất.

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, một loạt phát minh khoa học như:

+ Năm 1895 W.Conrad Roentgen (1845 – 1923) phát hiện ra tia X, một loại sóng điện từ có bước sóng từ

0,01 đến 100.10-8 cm

+ Năm 1896 Antoine Henri Becquerel (1852-1908) phát hiện ra hiện tượng phóng xạ trong chất uranium và sau đó Marie Curie (1867-1934) tiếp tục phát triển Với phát hiện này, người ta hiểu ra rằng quan niệm về sự bất

biến của nguyên tử là không chính xác

+ Năm 1897 Sir Joseph Thomson (1856 – 1940) phát hiện ra điện tử và chứng minh được rằng điện tử là một

trong những thành phần cấu tạo nên nguyên tử Nhờ phát minh này, lần đầu tiên trong khoa học sự tồn tại củanguyên tử được chứng minh

+ Năm 1901 Kaufman, nhà bác học người Đức đã chứng minh được khối lượng của điện tử không phải là

khối lượng tĩnh mà nó sẽ thay đổi theo tốc độ vận động của điện tử

+ Năm 1905 Albert Eisntein (1879-1955) đã phát minh ra thuyết tương đối hẹp (E=mc2) là nền tảng cho sựphát triển năng lượng nguyên tử và là một trong những cơ sở khoa học của các lý thuyết hiện đại về vũ trụ

Các phát minh khoa học này gây ra cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong vật lý học Một số các nhà vật lýhọc giải thích một cách duy tâm các hiện tượng vật lý: vật chất tiêu tan mất Các nhà triết học duy tâm chủ quan đã

Trang 4

lợi dụng quan điểm này để tấn công, phủ nhận vật chất và chủ nghĩa duy vật Tình hình đó đòi hỏi Lênin phải đấutranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật

* Quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen về vật chất

C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, vật chất là cái tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người Thế giới vậtchất luôn luôn vận động, biến đổi không ngừng, ở đâu có vật chất là có vận động và vận động không ngừng

* Định nghĩa của V.I.Lênin về vật chất; nội dung và ý nghĩa.

* Định nghĩa

Kế thừa tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, trên cơ sở khái quát những thành tựu mới nhất của khoahọc tự nhiên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX về mặt triết học, trên cơ sở phê phán những quan điểm duytâm và siêu hình về vật chất, V.I.Lênin đã đưa ra định nghĩa vật chất như sau:

“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và không lệ thuộc vào cảm giác” (Tập 18,

tr.151)

* Những nội dung cơ bản

- Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan

Phạm trù vật chất là phạm trù khái quát nhất, rộng nhất của lý luận nhận thức Do đó:

+ Phạm trù vật chất phải được xem xét dưới góc độ triết học chứ không phải dưới góc độ của các khoa học cụthể Điều này sẽ giúp chúng ta tránh được sai lầm khi đồng nhất phạm trù vật chất trong triết học với các khái niệmvật chất thường dùng trong các khoa học cụ thể hoặc đời sống hàng ngày

+ Chúng ta không thể định nghĩa phạm trù vật chất theo phương pháp thông thường Về mặt nhận thức luận,theo V.I.Lênin, chỉ có thể định nghĩa phạm trù vật chất trong mối quan hệ đối lập với nó, đó là phạm trù ý thức

 Khi định nghĩa phạm trù vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, V.I.Lênin đã bỏqua những thuộc tính riêng lẻ, cụ thể, nhiều màu, nhiều vẻ của các sự vật, hiện tượng mà nêu bật đặc tính nhận thức

luận cơ bản nhất, phổ biến nhất có ở tất cả các sự vật, hiện tượng trong thế giới hiện thực khách quan Đó chính là

“thực tại khách quan”

Thực tại khách quan đó chính là tất cả những gì tồn tại ở bên ngoài và không lệ thuộc vào ý thức của conngười Đặc tính này là dấu hiệu cơ bản để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì không phải là vật chất Vật chất – cáitồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không lệ thuộc vào ý thức

 Phạm trù vật chất trong định nghĩa của V.I.Lênin phải được hiểu là bao gồm tất cả những gì tồn tại và không

lệ thuộc vào ý thức

Như vậy, vật chất với tư cách là phạm trù triết học, nó chỉ thực tại khách quan nói chung, nó là vô hạn, vô tận,

không sinh ra, không mất đi Còn vật chất với tư cách là một phạm trù khoa học cụ thể, đó là những dạng tồn tại cụthể của vật chất, đều có giới hạn, sinh ra mất đi để chuyển hoá thành cái khác Vì vậy, không thể qui vật chất về vậtthể, không thể đồng nhất vật chất với những dạng cụ thể của vật chất giống như quan niệm của các nhà triết họctrước Mác

- “Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác”

Điều này khẳng định với chúng ta rằng, vật chất là cái có trước, cảm giác (ý thức) là cái có sau, vật chất là cáiđóng vai trò quyết định đến nguồn gốc và nội dung khách quan của ý thức Bởi vì, thực tại khác quan (vật chất làthực tại khách quan) đưa lại cảm giác cho con người chứ không phải cảm giác (ý thức) sinh ra thực tại khách quan.Đến đây định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đã giải quyết được mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học trên lậptrường của chủ nghĩa duy vật biện chứng

- “Thực tại khách quan được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”

Trang 5

Điều này đã khẳng định rằng, con người có khả năng nhận thức được thế giới hiện thực khách quan Đến đâyđịnh nghĩa vật chất của V.I.Lênin tiếp tục giải quyết được mặt thứ hai trong vấn đề cơ bản của triết học trên lậptrường của chủ nghĩa duy vật biện chứng Điều này chứng minh rằng:

+ Vật chất không tồn tại một cách vô hình, thần bí mà tồn tại một cách hiện thực, được biểu hiện dưới cácdạng sự vật, hiện tượng cụ thể mà giác quan của chúng ta có thể nhận biết một cách trực tiếp hay gián tiếp Do đó,

về nguyên tắc không có đối tượng vật chất không thể nhận thức được, mà chỉ có những đối tượng vật chất chưa thểnhận thức được mà thôi

+ Nguồn gốc của cảm giác là từ thế giới bên ngoài, khi sự vật tác động vào giác quan của con người thì conngười có cảm giác về chúng Bằng các phương pháp nhận thức khác nhau (chép lại, chụp lại, phản ánh) con người

có thể nhận thức được thế giới vật chất

Như vậy, định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đã bác bỏ thuyết không thể biết, đồng thời chỉ ra rằng, vật chất phải

được hiểu là tất cả những gì tồn tại khách quan bên ngoài ý thức, bất kể sự tồn tại ấy con người đã nhận thức đượchay chưa nhận thức được

* Ý nghĩa định nghĩa vật chất của V.I.Lênin

- Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đã giải quyết một cách đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên lập trườngcủa chủ nghĩa duy vật biện chứng, đồng thời đã khắc phục được tính trực quan, siêu hình, máy móc trong quanniệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật trước Mác, chống lại chủ nghĩa duy tâm và thuyết không thể biết

- Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin là cơ sở thế giới quan khoa học và phương pháp luận đúng đắn cho các nhàkhoa học trong nghiên cứu thế giới vật chất, định hướng và cổ vũ họ ở khả năng nhận thức của con người, tiếp tục

đi sâu vào khám phá những thuộc tính mới của thế giới vật chất, tìm kiếm các dạng hoặc các hình thức mới của vậtthể trong thế giới

- Định nghĩa còn là cơ sở khoa học cho việc xây dựng quan điểm duy vật biện chứng trong lĩnh vực xã hội, đó

là chủ nghĩa duy vật lịch sử

*Vận động và đứng im

- Khái niệm vận động: Vận động là mọi biến đổi nói chung, chưa nói lên khuynh hướng cụ thể:

đi lên hay đi xuống, tiến bộ hay lạc hậu

Ph.Ăngghen viết: “Vận động, đem ứng dụng vào vật chất, thì có nghĩa là sự biến hóa nói chung”.

(Tập 20, tr742) “Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, - tức được hiểu là một phương thức tồn tại củavật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, - thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn

ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy” (Tập 20, tr519)

- Vận động là phương thức tồn tại của vật chất

“Vận động là phương thức tồn tại của vật chất Bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào cũng không có và

+ Các thuộc tính của vật chất chỉ biểu hiện thông qua vận động

Ví dụ: Thuộc tính của kim loại là: dẫn điện, dẫn nhiệt, có khả năng dát mỏng, kéo thành sợi

Nhưng những thuộc tính này chỉ được biểu hiện thông qua sự vận động của sự vật đó là: Thuộc tính dẫn

Trang 6

điện của kim loại chỉ được bộc lộ ra khi chúng ta đặt nó trong sự chênh lệch về điện áp Thuộc tính dẫnhiệt của sự vật chỉ được bộc lộ ra khi chúng ta đặt nó trong sự chênh lệch về nhiệt độ

Tiền chỉ đẻ ra tiền khi chúng ta đưa nó vào trong quá trình sản xuất (Bản thân tiền không tự đẻ ratiền, ngay cả khi chúng ta đưa nó vào quá trình lưu thông)

“Các hình thức và các dạng khác nhau của vật chất chỉ có thể nhận thức được thông qua vận động;thuộc tính của vật thể chỉ bộc lộ qua vận động; về một vật thể không vận động thì không có gì mà nói cả”(Ph.Ăngghen , Tập 20, tr743)

- Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất

+ Vận động là cái vốn có của vật chất, gắn liền với vật chất, không do ai sinh ra và không bao giờ bịtiêu diệt

+ Vận động được bảo toàn cả về lượng và về chất

Ph.Ăngghen khẳng định: “Cần phải hiểu tính bất diệt của vận động không chỉ đơn thuần về mặt sốlượng mà cần phải hiểu cả về mặt chất lượng nữa” (Tập 20, tr479)

* Các hình thức vận động của vật chất

Theo Ph.Ăngghen, có 5 hình thức vận động cơ bản:

- Vận động cơ giới là sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian.

- Vận động vật lý (thay đổi trạng thái vật lý) là vận động của phân tử, của các hạt cơ bản, vận động

của nhiệt, ánh sáng, điện, trường, âm thanh

- Vận động hóa học (thay đổi trạng thái hóa học) là sự vận động của các nguyên tử; sự hóa hợp và

phân giải của các chất

- Vận động sinh vật: vận động của các cơ thể sống như sự trao đổi chất, đồng hóa, dị hóa, sự tăng

trưỏng, sinh sản, tiến hóa

- Vận động xã hội: mọi hoạt động xã hội của con người; sự thay thế các hình thái kinh tế -xã hội từ

thấp đến cao

* Vận động và đứng im:

Vận động là tuyệt đối, đứng im là tương đối vì:

- Đứng im chỉ xảy trong một quan hệ nhất định, chứ không phải trong tất cả mọi quan hệ

- Đứng im chỉ xảy trong một hình thức vận động nhất định (vận động cơ giới)

- Đứng im là một trạng thái vận động (vận động trong thăng bằng)

* Sự khác nhau giữa quan niệm duy vật biện chứng và quan niệm duy vật siêu hình về vận động

Trang 7

thuẫn bên trong sự vật gây ra

- Đứng im là trường hợp đặt biệt của vận

động có tính chất tương đối và tạm thời.

- Vận động không chỉ bảo toàn về lượng mà

còn bảo toàn về chất.

- Các hình thức của vận động khác nhau về

chất, đồng thời có quan hệ biện chứng với

nhau Không thể qui hình thức vận động

cao về thức vận động thấp.

gây ra.

- Vận động và đứng im là những mặt đối lập hoàn toàn tách biệt.

- Vận động chỉ bảo toàn về lượng.

- Không thấy sự khác nhau giữa các hình thức vận động khác nhau.

- Qui vận động cao về vận động thấp duy nhất là vận động cơ giới.

Trang 8

VẤN ĐỀ 3 QUAN NIỆM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ: NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT CỦA Ý

THỨC

1 Nguồn gốc của ý thức

Vấn đề nguồn gốc, bản chất của ý thức là một vấn đề hết sức phức tạp của triết học, là trung tâm của cuộcđấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong lịch sử triết học Trên cơ sở của những thành tựu triếthọc duy vật, của khoa học, của thực tiễn xã hội triết học Mác-Lênin đã cho chúng ta nhận thức rõ được về nguồngốc và bản chất của ý thức

* Quan điển triết học ngoài mácxít về ý thức

- Quan điểm duy tâm khách quan: tìm nguồn gốc của ý thức từ một lực lượng siêu tự nhiên (ý niệm,

Brahman, Thượng đế, Trời, v.v.)

- Quan điểm duy tâm chủ quan: ý thức là cái vốn có của con người, không do thần thánh ban cho, cũng không

phải là sự phản ánh thế giới bên ngoài

- Quan điểm duy vật tầm thường: ý thức là một dạng vật chất; “óc tiết ra ý thức cũng như gan tiết ra mật”.

* Quan điểm duy vật biện chứng về ý thức

Ý thức ra đời là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên và xã hội

+ Phản ánh là thuộc tính phổ biến trong mọi dạng vật chất Phản ánh là năng lực giữ lại, tái tạo những đặc điểmcủa một hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại giữa chúng Kết quả của sự phản ánh phụ thuộc vàovật tác động và vật nhận tác động, và vật nhận tác động bao giờ cũng mang thông tin của vật tác động

+ Thuộc tính phản ánh của vật chất có quá trình phát triển lâu dài từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từchưa hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn

 Hình thức phản ánh đơn giản nhất, đặc trưng cho giới tự nhiên vô sinh là phản ánh vật lý, hoá học.Các hình thức này có tính chất thụ động, chưa có sự định hướng, chưa có sự lựa chọn

 Hình thức phản ánh sinh học đặc trưng cho cho giới tự nhiên sống, là sự phát triển mới về chất trong hìnhthức phản ánh của vật chất

 Hình thức phản ánh của cá thể sống đơn giản nhất là tính kích thích, là sự trả lời của cơ thể đối với những tácđộng của môi trường

 Hình thức phản ánh tiếp theo của các động vật chưa có hệ thần kinh, là tính cảm ứng, tính nhạy cảm đối với

sự thay đổi của môi trường

 Hình thức phản ánh của các động vật có hệ thần kinh là các phản xạ

 Hình thức phản ánh ở động vật bậc cao khi có hệ thần kinh trung ương xuất hiện là tâm lý Tâm lý động vậtchưa phải là ý thức, nó mới chỉ là sự phản ánh có tính chất bản năng do nhu cầu trực tiếp của sinh lý cơ thể và doquy luật sinh học chi phối

 Ý thức chỉ nảy sinh ở trong giai đoạn phát triển cao của thế giới vật chất cùng với sự xuất hiện con người Ýthức là ý thức của con người, nằm trong con người, không thể tách rời con người

 Nội dung của ý thức là thông tin về thế giới bên ngoài ý thức là sự phản ánh thế giới bên ngoài vào đầu óccon người

 Bộ óc của con người là cơ quan phản ánh, nhưng chỉ với riêng bộ óc thì chưa thể có ý thức Không có sự tácđộng của thế giới bên ngoài lên giác quan và qua đó lên bộ óc thì hoạt động ý thức không thể xảy ra

Trang 9

Như vậy, bộ óc cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc, đó là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.

Nguồn gốc xã hội:

Để cho ý thức ra đời, nguông gốc tự nhiên là rất quan trọng, không thể thiếu được, nhưng chưa đủ, điều kiệnquyết định cho sự ra đời của ý thức là nguồn gốc xã hội, đó chính là lao động và ngôn ngữ

- Lao động:

Các nhà nghiên cứu đã viết: “Lịch sử bắt đầu từ sản xuất, con người bắt đầu từ lao động”

Lao động là điều kiện đầu tiên và chủ yếu để con người tồn tại, là hoạt động mang tính đặc thù của con người,làm cho con người khác với các động vật khác

+ Trong lao động con người đã biết chế tạo ra các công cụ lao động và sử dụng các công cụ đó để cải tạo củacải vật chất

+ Lao động là hoạt động có tính mục đích, tác động vào thế giới khách quan nhằm thoả mãn nhu cầu của conngười Do đó, ý thức con người phản ánh một cách tích cực, chủ động và sáng tạo Như vậy, không phải ngẫunhiên mà thế giới khách quan tác động vào bộ óc con người để con người có ý thức, mà trái lại con người có ý thứcchính là con người chủ động tác động vào thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn để cải tạo thế giới.Hay nói cách khác, lao động giúp con người cải tạo thế giới và hoàn thiện chính mình Thông qua quá trình laođộng, bộ óc của con người phát triển và ngày càng hoàn thiện, làm cho khả năng tư duy trừu tượng của con ngườicũng ngày càng phát triển

+ Lao động ngay từ đầu đã liên kết mọi thành viên trong xã hôi lại với nhau, làm nảy sinh ở họ nhu cầu giaotiếp Vì vậy, ngôn ngữ ra đời và không ngừng phát triển cùng với lao động

Ý thức không phải là một hiện tượng thuần tuý cá nhân mà là một hiện tượng có tính chất xã hội, do đó, không

có phương tiện trao đổi về mặt ngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành và phát triển được

Như vậy, nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động

và đồng thời với lao động là ngôn ngữ

Như Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Trước hết là lao động, sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ; đó làhai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc con vượn, làm cho bộ óc đó dần dần biến chuyển thành bộ óccủa con người” (Tập 20, tr646)

2 Bản chất và kết cấu của ý thức

* Bản chất của ý thức

- Do chịu ảnh hưởng của quan điểm siêu hình nên nhiều nhà duy vật trước Mác đã coi ý thức là sự phản ánhthụ động, giản đơn, máy móc, mà không thấy được tính năng động, sáng tạo của ý thức, tính biện chứng của quátrình phản ánh

- Trái lại, các nhà duy tâm lại cường điệu tính năng động, sáng tạo của ý thức đến mức coi ý thức sinh ra vậtchất chứ không phải sự phản ánh của vật chất

- Khác với những quan điểm trên, chủ nghĩa duy vật biện chứng dựa trên quan điểm lý luận phản ánh, coi ýthức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động và sáng tạo

Trang 10

+ Thứ nhất, để hiểu được bản chất của ý thức chúng ta phải thừa nhận cả vật chất và ý thức đều tồn tại, nhưng

giữa chúng có sự khác nhau mang tính đối lập:

 Vật chất là cái được phản ánh, tồn tại khách quan ở ngoài và độc lập với cái phản ánh tức là ý thức

 Cái phản ánh là ý thức, là hình ảnh tinh thần của sự vật khách quan, bị sự vật khách quan quy định Vì vậy,không thể đồng nhất hoặc tách rời cái được phản ánh (vật chất) với cái phản ánh (ý thức)

+ Thứ hai, khi nói ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan thì đó không phải là hình ảnh vật lý

hay hình ảnh tâm lý động vật về sự vật Ý thức là của con người, ra đời trong quá trình con người hoạt động cải tạothế giới, cho nên ý thức con người mang tính năng động, sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu thực tiễn xã hội.Theo C.Mác, ý thức, “chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến

đi trong đó”

+ Thứ ba, tính sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú và đó là sự thống nhất của ba mặt:

Một là, trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh Sự trao đổi này mang tính chất hai chiều, có

chọn lọc các thông tin cần thiết

Hai là, mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần.

Ba là, chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan, tức là quá trình hiện thực hoá tư tưởng thông qua

hoạt động thực tiễn

Tính sáng tạo của ý thức không có nghĩa là ý thức đẻ ra vật chất Sáng tạo của ý thức là sáng tạo của sự phảnánh theo quy luật và trong khuôn khổ của sự phản ánh, mà kết quả bao giờ cũng là những khách thể tinh thần

+ Thứ tư, ý thức không phải là một hiện tượng tự nhiên thuần tuý mà là một hiện tượng xã hội Ý thức chỉ

được nảy sinh trong lao động, trong hoạt động cải tạo thế giới của con người Hoạt động đó không thể là hoạt động

đơn lẻ, mà là hoạt động xã hội, do đó, ý thức ngay từ đầu đã là sản phẩm của xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại.

Trang 11

VẤN ĐỀ 4 HAI NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

a Khái niệm mối liên hệ và mối liên hệ phổ biến

Thế giới là một chỉnh thể thống nhất, các sự vật, hiện tượng và các quá trình cấu thành thế giới đó vừa tách biệtnhau, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hoá lẫn nhau

- Khái niệm mối liên hệ: Mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự

chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật hiện tượng trong thế giới

Liên hệ là sự ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau, ảnh hưởng, quy định lẫn nhau, tác động, chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt bên trong sự vật hoặc giữa các sự vật khác nhau

- Khái niệm mối liên hệ phổ biến: là khái niệm dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ của các sự vật,

hiện tượng trong thế giới mà ở đó các sự vật, hiện tượng hoặc các mặt bên trong sự vật có mối liên hệ ràng buộc,phụ thuộc lẫn nhau, ảnh hưởng, quy định lẫn nhau, tác động, chuyển hóa lẫn nhau

b Tính chất của các mối liên hệ

Những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng, cái quyết định mối

liên hệ, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng là một lực lượng siêu tự nhiên hay ở ý thức, cảm giác

của con người Chẳng hạn, G.W.F Hêghen đứng trên lập trường duy tâm khách quan đã cho rằng, “ý niệm tuyệtđối là nền tảng của mối liên hệ còn George Berkeley người theo lập trường duy tâm chủ quan cho rằng, “cảm giác

là nền tảng của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng”

Trái lại, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định, tính chất của mối liên hệ phổ biến bao gồm: tính kháchquan, tính phổ biến và tính đa dạng

- Tính khách quan của mối liên hệ

Mối liên hệ mang tính khách quan Bởi, các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới đa dạng, phong phú, khácnhau Song chúng đều là những dạng vật thể của thế giới vật chất Và chính tính thống nhất vật chất của thế giới là

cơ sở của mối liên hệ Nhờ có tính thống nhất đó, các sự vật, hiện tượng, không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau,

mà trong sự tác động qua lại chuyển hoá lẫn nhau

Các sự vật, hiện tượng trong thế giới chỉ biểu hiện sự tồn tại của mình thông qua sự vận động, tác động qua lạilẫn nhau Bản chất, tính quy luật của sự vật, hiện tượng cũng chỉ bộc lộ thông qua sự tác động của chúng với các sựvật, hiện tượng khác

- Tính phổ biến của các mối liên hệ:

+ Thứ nhất, bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật, hiện tượng khác Không có sự vật hiện tượng

nằm ngoài mối liên hệ Mối liên hệ cũng có ở mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội, tư duy

+ Thứ hai, mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt, tuỳ theo điều kiện nhất định Nhưng dù dưới

hình thức nào, chúng cũng chỉ là biểu hiện của mối liên hệ phổ biến nhất, chung nhất

- Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ

Có rất nhiều loại liên hệ khác nhau:

+ Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài;

+ Mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp;

+ Mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu;

+ Mối liên hệ cơ bản và mối liên hệ không cơ bản;

+ Mối liên hệ cụ thể, mối liên hệ chung, mối liên hệ phổ biến

Chính tính đa dạng trong quá trình vận động, tồn tại và phát triển của bản thân sự vật, hiện tượng quy định tính

đa dạng của mối liên hệ Vì vậy, trong sự vật có nhiều mối liên hệ, chứ không phải có một cặp mối liên hệ

Mối liên hệ bên trong là sự tác động qua lại, sự quy định, chuyển hóa lẫn nhau giữa các yếu tố, các thuộc tính,

các mặt của một sự vật Mối liên hệ này giữ vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của sự vật

Trang 12

Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng với nhau, mối liên hệ này nhìn chung không

giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động, phát triển của sự vật Và nếu có nó thường phải thông qua mốiliên hệ bên trong mới thực hiện được

Ví dụ: Sự lĩnh hội tri thức của người học trước hết và chủ yếu được quyết định bởi chính người đó (nghệ thuật,

truyền thụ tri thức ) dù có tốt, có đầy đủ mà người học không chịu học, không chịu tiếp nhận thì tri thức cũngkhông thể tự nó có được trong đầu óc người đó

Các cặp mối liên hệ khác nhau cũng có mối liên hệ biện chứng với nhau Đương nhiên mỗi cặp liên hệ có đặctrưng riêng Tuy nhiên, vai trò quyết định của các mối liên hệ trong từng cặp phụ thuộc vào quan hệ hiện thực xácđịnh

Sự phân chia từng cặp mối liên hệ chỉ có ý nghĩa tương đối, vì mỗi loại liên hệ chỉ có một hình thức, một bộphận, một mắt xích của mối liên hệ hổ biến Mỗi loại liên hệ trong từng cặp có thể chuyển hoá lẫn nhau tuỳ theophạm vi bao quát của mối liên hệ hoặc do kết quả vận động và phát triển của chính các sự vật

Con người phải nắm bắt đúng các mối liên hệ đó để có các tác động phù hợp nhằm đưa lại hiệu quả cao nhấttrong hoạt động của mình

d Ý nghĩa phương pháp luận

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện.

- Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải xem xét sự vật, hiện tượng với tất cả các mặt, các mối liên hệ;đồng thời phải đánh giá đúng vai trò, vị trí của từng mặt, từng mối liên hệ; nắm được mối liên hệ chủ yếu có vai tròquyết định

- Quan điểm toàn diện bao hàm quan điểm lịch sử cụ thể Quan điểm lịch sử cụ thể đòi hỏi phải nhận thức đầy

đủ các mối liên hệ của sự vật, nắm được bản chất bên trong, trực tiếp, đồng thời phải nhận thức được không gian,thời gian, điều kiện cụ thể của sự tồn tại và xuất hiện các mối liên hệ, trên cơ sở đó mới nắm bắt được xu hướngbiến đổi của các sự vật, hiện tượng

- Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiếm diện Quan điểm phiếm diện là cách xem xét từng mặt,từng mối liên hệ tách rời nhau, không thấy được mối liên hệ nhiều vẻ, đa dạng của sự vật

2 Nguyên lý về sự phát triển

a Khái niệm “Vận động” và “phát triển”

* Vận động là mọi biến đổi nói chung, chưa nói lên khuynh hướng cụ thể: đi lên hay đi xuống, tiến bộ hay lạc hậu

Nói cách khác, vận động là biến đổi nói chung, bao gồm hai khuynh hướng:

- Sự vật, hiện tượng cụ thể đều có bước khởi đầu và sự diệt vong

- Xem xét trong tính hệ thống, thì đó là sự kế thừa ngày càng hoàn thiện hơn và có tính hệ thống hơn

* Phát triển là sự vận động theo hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện.

Như vậy, phát triển không phải là bản thân sự vận động, phát triển chỉ là khuynh hướng tất yếu của vận động,

phát triển nó chỉ khái quát những sự vận động đi lên, đó là quá trình không ngừng gia tăng về trình độ, về kết cấuphức tạo của sự vật và do đó làm nảy sinh tính quy định cao hơn về chất

Nói cách khách phát triển là quá trình làm xuất hiện cái mới, cái tiến bộ thay thế cái cũ, cái lạc hậu

b Nội dung của nguyên lý phát triển

- Phép biện chứng duy vật khẳng định, đổi mới là quá trình diễn ra không ngừng trong tự nhiên, xã hội và tưduy của con người

+ Trong giới hữu sinh sự phát triển biểu hiện ở khả năng tăng cường thích nghi của cơ thể trước sự biến đổi củamôi trường, ở khả năng sản sinh và hoàn thiện chính mình, ở khả năng hoàn thiện về quá trình trao đổi chất giữa cơthể sống với môi trường

Trang 13

+ Trong xã hội, sự phát triển biểu hiện ở khả năng nhận thức, cải biến tự nhiên và xã hội theo quy luật thôngqua hoạt động thực tiễn của con người

+ Trong tư duy, sự phát triển biểu hiện ở khả năng nhận thức ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn về tự nhiên, xã hội

và nhận thức chính bản thân con người

- Phép biện chứng duy vật khẳng định, phát triển là khuynh hướng chung của các sự vật hiện tượng nhưng

không diễn ra một cách trực tiếp mà nó quanh co, phức tạp theo hình “xoáy ốc”, trong đó có thể có những bước

thụt lùi tương đối

- Ngược lại, quan điểm siêu hình xem xét sự phát triển chỉ là sự tăng lên hay giảm đi tương đối, không có sựthay đổi gì về mặt chất của sự vật Những người theo quan điểm siêu hình còn coi tất cả chất của sự vật không có

sự thay đổi gì trong quá trình tồn tại của chúng Sự vật ra đời với những chất như thế nào thì toàn bộ quá trình tồntại của nó vẫn được giữ nguyên hoặc nếu có thay đổi nhất định về chất thì cũng chỉ diễn ra theo một vòng khép kín

Họ cũng coi sự phát triển cũng chỉ là sự thay đổi về mặt lượng của từng loại mà sự vật đang có, chứ không có sựsinh thành ra cái mới với những chất mới Như vậy, sự phát triển được xem như một quá trình tiến lên liên tục,không có những bước thụt lùi, quanh co, phức tạp

- Về nguồn gốc của sự phát triển, theo quan điểm duy tâm là từ những lực lượng siêu tự nhiên hay ở ý thức củacon người Hêghen cho rằng, sự phát tiển của giới tự nhiên, của xã hội đều đã được thiết định trước từ sự vận độngcủa ý niệm tuyệt đối

- Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định, nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sựvật, từ cấu trúc của sự vật, do mâu thuẫn bên trong của sự vật quy định Do đó, phát triển là tự thân pháttriển, là kết quả giải quyết mâu thuẫn bên trong của sự vật Phát triển là quá trình cái mới ra đời phủ định cái

cũ, đồng thời kế thừa những giá trị của cái cũ, tạo ra vòng khâu liên hệ giữa cái cũ và cái mới, tạo ra khuynhhướng phát triển theo đường xoáy ốc, nghĩa là, trong quá trình phát triển dường như có sự quay trở lại điểmxuất phát nhưng trên mộ cơ sở cao hơn

c Tính chất cơ bản của sự phát triển

- Sự phát triển mang thính khách quan Bởi vì, nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật,

do mâu thuẫn trong chính sự vật quy định Đó là quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn trong bản thân sựvật Sự phát triển như vậy không phụ thuộc vào ý muốn, nguyện vọng, ý chí, ý thức của con người Dù con người

có muốn hay không muốn, sự vật vẫn luôn phát triển theo khuynh hướng chung của thế giới vật chất

- Sư phát triển mang tính phổ biến Tính phổ biến ở đây được hiểu là nó diễn ra trong mọi lĩnh vực: tự

nhiên, xã hội và tư duy Ở bất cứ sự vật và hiện tượng nào của thế giới khách quan

- Sự phát triển còn mang tính đa dạng, phong phú: khuynh hướng phát triển là khuynh hướng chung của mọi

sự vật, hiện tượng Song mỗi sự vật, hiện tượng lại có quá trình phát triển khác nhau, tồn tại ở không gian và thờigian khác nhau, sự phát triển sẽ khác nhau Đồng thời, trong quá trình phát triển, sự vật còn chịu tác động của các

sự vật, hiện tượng khác, của các điều kiện có thể thúc đẩy hoặc kìm hảm sự phát triển của sự vật, đôi khi có thể làmthay đổi chiều hướng phát triển của sự vật, thậm chí có thể làm sự vật thụt lùi

d Ý nghĩa phương pháp luận

Nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển giúp chúng ta rút ra được phương pháp luận khoa học để nhận thức vàcải tạo thế giới

- Giới tự nhiên, xã hội và tư duy đều trong quá trình vận động và phát triển không ngừng Bản chất khách quancủa các quá trình hiện thực đòi hỏi nhận thức muốn phản ánh đúng hiện thực khách quan thì cần phải có quan điểmphát triển

- Quan điểm phát triển yêu cầu khi xem xét các sự vật hiện tượng phải đặt nó trong sự vận động, trong sự pháttriển, phải phát hiện ra các xu hướng biến đổi, chuyển hoá của chúng

- Quan điểm phát triển đối lập với quan điểm bảo thủ, trì truệ, việc tuyệt đối hoá tri thức là kết quả của sự nhậnthức về sự vật trong một hoàn cảnh cụ thể và xem xét nó như là tri thức đúng cho cả quá trình phát triển của sự vật

Trang 14

- Quan điểm phát triển đòi hỏi phải nhận thức các sự vật, hiện tượng trong thực tế, và xem đó là quá trình biệnchứng đầy mâu thuẫn Do đó, hoạt động thực tiễn là quá trình tìm ra mâu thuẫn, phân tích mâu tuẫn và tìm ra giảipháp để giải quyết mâu thuẫn Chỉ bằng cách đó chúng ta mới góp phần tích cực vào sự phát triển

- Quan điểm phát triển đòi hỏi khi xem xét sự vật, hiện tượng phải nhìn thấy khuynh hướng biến đổi trongtương lai của chúng: cái cũ, cái lạc hậu sẽ mất đi; cái mới, cái tiến bộ sẻ ra đời thay thế cái cũ, cái lạc hậu Phải cóthái độ lạc quan tin tưởng ở sự tất thắng của cái mới, cái tiến bộ

Trang 15

VẤN ĐỀ 5 CÁC QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

1 Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại

Đây là một trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Nó nói lên cách thức của sự phát triển

a Khái niệm chất, lượng

Chất xuất phát từ cấu trúc bên trong của sự vật và biểu hiện ra thông qua các thuộc tính của sự vật

Ví dụ: chất của nước do cấu trúc phân tử của nước là H2O, khác với cấu trúc phân tử của rượu là C2H5OH.

Thuộc tính của nước và rượu khác nhau

* Mối quan hệ giữa chất và thuộc tính:

- Thuộc tính là những tính chất của sự vật, là những cái vốn có của sự vật đó:

Ví dụ : Thuộc tính của Kim loại: Có ánh kim, dẫn điện, dẫn nhiệt, có khả năng dát mỏng, có khả năng kéo

thành sợi (Đây là thuộc tính chung của các loại kim loại)

- Những tính chất (thuộc tính) của sự vật chỉ bộc lộ ra bên ngoài thông qua sự tác động qua lại của sự vật mangthuộc tính đó với sự vật khác

Ví dụ: Tính dẫn điện của kim loại chỉ bộc lộ ra khi chúng ta đặt nó trong môi trường chênh lệch về điện áp.

Tính dẫn điện của kim loại chỉ bộc lộ ra khi chúng ta đặt nó trong môi trường có sự chênh lệch về nhiệt độ

- Do vậy, để nhận thức được thuộc tính của sự vật, chúng ta phải nhận thức mối quan hệ giữa sự vật đó với sựvật khác

Thuộc tính về chất là gì? Thuộc tính về chất là một khía cạnh nào đó về chất của một sự vật, nó được bộc lộ

ra trong mối quan hệ qua lại với sự vật khác.

- Chất là tổng hợp các thuộc tính, trong đó có thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản Chỉ có thuộc tính

cơ bản mới phân biệt chất Sự phân biệt thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản chỉ có tính tương đối

* Khái niệm “lượng”

Lượng phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, biểu thị số lượng, quy

mô, cường độ, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật cũng như các thuộc tính của sự vật.

Lượng có thể đo được bằng con số Tuy nhiên, sự vật phức tạp thì thông số về lượng của nó cũng phức tạp; do

đó để nhận thức được lượng của nó, phải sử dụng nhiều con số thống kê và phải thông qua sự phán đoán, đánh giácủa tư duy

* Phân biệt chất và lượng

- Sự vật sẽ không còn là nó khi chất thay đổi, ngược lại lượng có thể thay đổi trong một giới hạn nhất định, sự

vật chưa thành cái khác Do đó, có thể thấy mức độ hữu cơ khác nhau trong sự gắn bó giữa chất và lượng với sựvật Chất là cái tương đối ổn định, còn lượng là cái thường xuyên thay đổi

- Chất trước hết nói lên sự khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng, lượng là đặc trưng cho những mặt đồng nhất,giống nhau giữa các sự vật trong cùng một nhóm, một loại Chúng ta chỉ nhận thức được lượng của một nhóm,một loại khi tạm thời trừu tượng những sự khác biệt, chỉ giữ lại những cái giống nhau, đồng nhất giữa các sự vậttrong nhóm đó

Ví dụ: Khi nói tới “5 người” ta không để ý tới trong đó có nam hay nữ, trẻ hay già các nhân tố của tập hợp

“5 người” được xem là hoàn toàn đồng nhất

- Mỗi sự vật có nhiều chất do đó có nhiều lượng tương ứng Hơn nữa, mỗi đặc trưng về chất có nhiều mức độkhác nhau về lượng

Ngày đăng: 18/05/2021, 17:17

w