1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

bai du thi

19 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 29,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Nhu cầu dinh dưỡng: Khi có thai, nuôi con bú, nhu cầu về năng lượng và các chất dinh dưỡng đòi hỏi cao hơn ở mức bình thường, vì nhu cầu ngoài đảm bảo cung cấp cho các hoạt động của cơ[r]

Trang 1

BÀI DỰ THI “ KIẾN THỨC BỐ MẸ, SỨC KHỎE CHO CON” NĂM 2012

Họ và tên: Hà Thị Hường – Năm sinh: 1985

Nghề nghiệp: giáo viên tiểu học

Nơi công tác: Trường TH Song Vân- Tân Yên – Bắc Giang

Dân tộc: kinh – Tôn giáo: không

-Câu 1:

Tại sao nói: “ Sức mẹ là nguồn dinh dưỡng hoàn hảo nhất cho trẻ nhỏ ”? Vì sao phải cho trẻ bú sớm ngay sau khi sinh? Cách cho trẻ bú như thế nào?

- “Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng hoàn hảo nhất cho trẻ nhỏ” vì: sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ, ngay cả khi mẹ bị bệnh, có thai, có kinh nguyệt hay gầy yếu Sữa mẹ chứa tất cả các chất dinh dưỡng mà trẻ cần trong khoảng thời gian từ sau khi sinh đến tháng tuổi Sữa mẹ trong vài ngày đầu sau đẻ gọi là sữa non, có màu vàng nhạt và đặc sánh Sữa non nhiều đạm, Vitamin A và các yếu tố bảo vệ cơ thể, giúp trẻ phòng chống nhiễm khuẩn và dị ứng Sữa non có tác dụng đào thải phân su, trẻ đỡ vàng da Sau giai đoạn sữa non sữa mẹ chuyển sang sữa trưởng thành Sữa này gồm có sữa đầu bữa và sữa cuối bữa Sữa đầu bữa là sữa ở đầu bữa

bú Sữa có màu hơi xanh, trong và lỏng Trẻ bú sữa đầu sẽ nhận được nhiều nước

và đủ chất dinh dưỡng Sữa cuối bữa là sữa ở cuối bữa bú, có màu trắng đục vì chứa nhiều chất béo và có nhiều năng lượng giúp trẻ tăng cân tốt

Trong sữa mẹ có các chất đạm và chất béo giúp trẻ dễ tiêu hóa và hấp thụ Đường lactose trong sữa mẹ nhiều hơn trong các loại sữa khác cung cấp thêm nguồn năng lượng cho trẻ Chất sắt trong sữa mẹ dễ hấp thu nên trẻ bú sữa mẹ sẽ không bị thiếu máu do thiếu sắt Sữa mẹ chứa đủ canxi và phốt pho giúp trẻ phát triển tốt, ít bị còi xương

Sữa mẹ có đầy đủ các vitamin, nếu trẻ được bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu thì không cần bổ sung thêm viatamin và nước quả

- Phải cho trẻ bú sớm ngay sau khi sinh vì:

Sữa mẹ được bài tiết theo cơ chế phản xạ Khi trẻ bú xung động cảm giác từ

vú lên não mẹ để sản xuất ra hai nội tiết tố là Prolactin và Oxytocin Prolactin kích thích các tế bào sữa Oxytocin có tác dụng làm cho sữa chảy ra đầu vú

Sự tiếp xúc sớm ngay sau khi sinh làm tăng mối quan hệ gắn bó mẹ con Động tác bú của trẻ có tác dụng co hồi tử cung, cầm máu sau đẻ, mẹ đỡ thiếu máu

Bú sớm sẽ kích thích sữa bài tiết đồng thời tránh được hiện tượng cương tức

vú, khả năng tiết sữa kéo dài hơn, thời gian cho bú lâu hơn

Bú sớm trẻ nhận được sữa non, là thức ăn phù hợp với bộ máy tiêu hóa của trẻ và tăng sức đề kháng chống lại các nhiểm khuẩn sau sinh

Bú sớm giúp trẻ bú đúng cách ngay từ ban đầu, nuôi con bằng sữa mẹ dễ thành công Vì vậy ngay sau khi sinh cho trẻ tiếp xúc da kề da, mẹ nằm cạnh con

và cho bú sớm trong vòng 1 giờ đầu

- Cách cho trẻ bú đúng cách:

Trang 2

Cho trẻ bú sớm trong vòng một giờ đầu sau khi sinh.

Cho bú thường xuyên và bú theo yêu cầu của trẻ, ban đêm vẫn cho bú Trẻ cần được bú mẹ hoàn toàn từ lúc sinh cho đến 6 tháng tuổi

Khi cho con bú cần lưu ý về tư thế của bà mẹ và cách ngậm bắt vú của trẻ + Tư thế của bà mẹ: bế trẻ áp sát vào lòng, đầu và thân trẻ nằm thẳng, đỡ mông nếu trẻ nhỏ Mặt trẻ quay vào vú mẹ và mũi của trẻ đối diện với núm vú, có thể dùng tay nâng vú lên cho trẻ dễ bú

+ Cách ngậm bắt vú của trẻ: cằm phải tì vào vú mẹ, miệng mở rộng, môi dưới hướng ra ngoài, quầng vú ở phía trên miệng trẻ còn nhiều hơn phía dưới Sau khi ngậm bắt vú tốt, trẻ sẽ mút chậm sâu và nuốt

+ Cho trẻ bú kiệt một bên vú rồi mới chuyển sang vú khác để trẻ nhận được sữa cuối giàu chất béo

Thời gian của mỗi bữa bú tùy thuộc vào từng trẻ, cho trẻ bú đến khi trẻ tự nhả vú ra

Trẻ bú có hiệu quả thì vú của bà mẹ thường căng trước bữa bú và mềm sau bữa bú, bà mẹ cảm thấy thoải mái, dễ chịu trong khi cho con bú

Câu 2: Chế độ chăm sóc bà mẹ khi mang thai?

Chăm sóc phụ nữ khi mang thai nhằm đảm bảo một cuộc thai nghén bình thường và sinh đẻ an toàn cho cả mẹ và con Vì thế, khi có thai người mẹ cần đến trạm y tế hoặc đến nhà hộ sinh để đăng kí quản lí thai, để được nhân viên y tế khám và theo dõi Mỗi bà mẹ đề có phiếu khám thai hoặc phiếu theo dõi sức khỏe tại nhà

Bắt đầu có thai, một số người mẹ cảm thấy mết mỏi, chán ăn hay có cảm giác buồn nôn hoặc thèm ăn những thức ăn theo sở thích riêng của từng người Các hiện tượng đó chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, sau đó người mẹ cần chăm lo ăn uống hợp lí và giữ gìn sức khỏe để thai phát triển bình thường

Để theo dõi sự phát triển của thai, người mẹ nên thực hiện việc khám thai định kì ít nhất 3 lần trong suốt thời kì thai nghén Lần thứ nhất vào 3 tháng đầu để xác định chắc chắn có thai hay không, lần thứ 2 vào 3 tháng giữa để xem thai khỏe hay yếu để có kế hoạch bồi dưỡng cho người mẹ kịp thời, lần thứ 3 vào 3 tháng cuối để xem thai phát triển có bình thường không, thuận hay ngược, tiên lượng cuộc đẻ và dự kiến ngày sinh

Nếu khám được nhiều lần hơn càng tốt, nhất là 3 tháng cuối, mỗi tháng nên khám một lần Khi khám thai, người mẹ cần được khám toàn thân: đo chiều cao, cân nặng, đếm mạch, nghe tim phổi, đo huyết áp, thử nước tiểu, phát hiện các yếu

tố bất thường như cao huyết áp, protein niệu, da xanh xao thiếu máu ( nhìn niêm mạc môi mắt ), phù nề ( ấn vào mắt cá chân ) và các bệnh mãn tính tim, gan, thân… Khám sản khoa: đo chiều cao tử cung, vòng bụng, nghe tim thai Đề phòng bệnh uốn ván cho con, người mẹ có thai cần được tiêm phòng uốn ván, tiêm 2 lần: mũi thứ nhất vào tháng thứ tư hoặc thứ 6, mũi thứ 2 cách mũi thứ nhất một tháng

và trước khi đẻ ít nhất nửa tháng

Trang 3

Trong thời kì có thai, nhất là ở các tháng cuối, do thai chèn ép vào các mạch máu lớn của ổ bụng, có thể có hiện tượng “xuống máu chân”, phù nhẹ ở chân Nếu thấy phù toàn thân và nhức đầu, mờ mắt thì có thể do nhiễm độc thai nghén, phải

đi khám thử nước tiểu, đo huyết áp, hạn chế ăn muối Thường xuyên đi khám để tránh tai biến khi đẻ

Khi có thai cần hết sức thận trọng khi dùng thuốc, tiêm chủng, chụp chiếu điện vì rất dễ gây rối loạn phát triển thai Thí dụ khi mới có thai, dùng vitamin A liều cao có thể làm thai phát triển không bình thường, dùng kháng sinh streptomycin có thể làm trẻ bị điếc ngay từ khi đẻ Một sỗ thuốc nội tiết, an thần

có thể gây sảy thai, thai chết, rối loạn phát triển của thai hoặc bị bệnh sau khi đẻ

Do đó khi cần dùng thuốc, phải hỏi ý kiến thầy thuốc

Chế độ lao động, nghỉ ngơi hợp lí, tinh thần thoải mái của người mẹ ảnh hưởng trực tiếp đến thai nhi Nên lao động tay chân và trí óc một cách điều độ, tránh lao động mệt nhọc quá sức Quan niệm “ Chửa con so, làm cho láng giềng ”

để thai không quá to, dễ đẻ là không đúng Vào tháng cuối, người mẹ cần được nghỉ ngơi để có thời gian chuẩn bị cho con, cho mẹ, có được sức khỏe tốt, tránh được tai biến khi đẻ

- Chế độ dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai:

Chế độ ăn uống của người mẹ có vai trò quan trọng quyết định đối với sự phát triển của thai nhi Người mẹ cần nhớ rằng ăn uống cho cả mình và cho cả con trong bụng Nếu người mẹ được ăn uống tốt, đầy đủ các chất dinh dưỡng thì người

mẹ sẽ lên cân tốt Trong suốt thai kì người mẹ cần được tăng cân từ 1012 kg ( Trong đó 3 tháng đầu tăng được 1 kg, 3 tháng giữa tăng 4 5 kg, 3 tháng cuối tăng 56 kg ) Tăng cân tốt, người mẹ sẽ tích lũy mỡ là nguồn dự trữ để tạo sữa sau khi sinh Những trường hợp người mẹ bị thiếu ăn hoặc ăn uống kiêng khem không hợp

lí chính là nguyên nhân của suy dinh dưỡng trong bào thai Trẻ đẻ ra có cân nặng thấp dưới 2500g

+ Nhu cầu dinh dưỡng: Khi có thai, nuôi con bú, nhu cầu về năng lượng và các chất dinh dưỡng đòi hỏi cao hơn ở mức bình thường, vì nhu cầu ngoài đảm bảo cung cấp cho các hoạt động của cơ thể, sự thay đổi về sinh lí của người mẹ như biến đổi về chuyển hóa, tích lũy mỡ, tăng cân, sự tăng về khối lượng của tử cung,

vú, còn cần thiết cho sự phát triển của thai nhi và tạo sữa cho con bú

+ Tăng thêm năng lượng: Nhu cầu năng lượng của bà mẹ có thai 6 tháng cuối là 2550 Kcal/ngày, như vậy năng lượng tăng thêm hơn người bình thường mỗi ngày là 350 Kcal Để đạt được mức tăng này, người mẹ cần ăn thêm một đến hai bát cơm Đối với bà mẹ nuôi con bú, năng lượng cung cấp tỉ lệ với lượng sữa sản xuất, nhưng nói chung, ở bà mẹ nuôi con 6 tháng đầu, năng lượng cần đạt được

2750 Kcal/ngày, như vậy năng lượng tăng thêm mỗi ngày là 550 Kcal ( tương đương với ba bát cơm mỗi ngày )

+ Bổ sung chất đạm và chất béo:

Khi mang thai nhu cầu chất đạm của người mẹ tăng lên giúp việc xây dựng

và phát triển cơ thể của trẻ Ngoài cơm ( và lương thực khác) ăn đủ no, bữa ăn cho

Trang 4

bà mẹ có thai cần có thức ăn để bổ sung chất đạm và chất béo Trước hết cần chú

ý đến nguồn chất đạm từ các thức ăn thực vật như đậu tương, đậu xanh, các loại đậu khác và vừng lạc Đây là những thức ăn giá rẻ hơn thịt, nhưng có lượng đạm cao, lại có chất béo giúp tăng năng lượng bữa ăn và giúp hấp thu tốt các vitamin tan trong dầu ( Vitamin A, D, E) Chất đạm động vật đáng chú ý là các loại thủy sản như tôm, cua, cá, ốc…có điều nên cố gắng có thêm thịt, trứng, sữa Nhu cầu chất đạm của phụ nữ trong thời kì mang thai 3 tháng cuối: 70g/ ngày, còn đối với

bà mẹ cho con bú cần cao hơn 83g/ngày

+ Bổ xung vitamin, chất khoáng và các yếu tố vi lượng:

Trong khi có thai cũng như nuôi con bú, với khẩu phần ăn cân đối sẽ đảm bảo cung cấp đủ vitamin, các khoáng chất và các yếu tố vi lượng Trong thời kì có thai, cần khuyên người mẹ nên ăn các loại thức ăn, thực phẩm có nhiều vitaminC như rau, quả, các loại thức ăn có nhiều canxi, phootspho ( cá, cua, tôm, sữa…) để giúp cho sự tạo xương của thai nhi Các thức ăn có nhiều sắt như thịt, trứng, các loại đậu, đỗ… đề phòng thiếu máu

Khi cho con bú, đề phòng bệnh khô mắt do thiếu vitamin A, người ta khuyên người mẹ nên ăn các thức ăn có nhiều protein và vitamin như trứng, sữa,

cá, thịt, đậu đỗ và các loại rau, quả có nhiều caroten(tiền vitamin A) như rau muống, rau ngót, rau rền, đu đủ, gấc, xoài…

Ngoài ra nên cho người mẹ trong vòng một tháng đầu sau khi sinh uống một liều vitamin A 200.000 đơn vị để đủ vitaminA trong sữa cho con bú 6 tháng đầu

+ Chế độ ăn:

Trong thời kì có thai, nuôi con bú, chế độ ăn uống rất quan trọng vì có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của cả mẹ lẫn con Trong chế độ ăn, người mẹ không nên kiêng khem, cũng như cần chú ý một số vẫn đề nên hạn chế trong ăn uống như sau:

- Không nên dùng các loại kích thích như rươu, cà phê, thuốc lá, nước chè đặc…

- Giảm ăn các loại gia vị như ớt, hạt tiêu, tỏi, dấm

Trong khi có thai và cho con bú, người mẹ phải ăn nhiều hơn bình thường trước hết bữa ăn cần cung cấp đủ năng lượng, nguồn năng lượng trong bữa ăn ở nước ta chủ yếu dựa vào nguồn lương thực: gạo, ngô, mì… Các loại khoai củ cũng

là nguồn năng lượng, nhưng ít chất đạm ( protein), do đó chỉ nên ăn trộn, không ăn trừ bữa Gạo nên chọn loại gạo tốt, không say xát quá trắng vì sẽ mất nhiều chất dinh dưỡng, đặc biệt là vitamin B1 chống bệnh tê phù Trong bữa ăn cần cung cấp

đủ chất đạm, vì chất đạm cần cho thai lớn, mẹ đủ sữa Các loại thức ăn động vật như thịt, cá, trứng, sữa có nhiều chất đạm quý Nhiều loại thức ăn thực vật cũng nhiều chất đạm, đó là các loại họ đậu ( đậu tương, đậu xanh, đậu đen), lạc hạt, vừng Khi có điều kiện bữa ăn hàng ngày nên có thêm thịt, cá nếu không cũng có thêm đậu, lạc Trong 3 tháng cuối, mỗi ngày nên ăn thêm 1 quả trứng

Các thức ăn như đậu tương, lạc, vừng và dầu mỡ còn cung cấp cho cơ thể chất béo, làm bữa ăn ngon miệng, chóng tăng cân và dễ hấp thu các chát dĩnh dưỡng khác

Trang 5

Hằng ngày, bữa ăn của phụ nữ có thai và cho con bú không thể thiếu rau xanh là thức ăn có nhiều vitamin và chất khoáng Các loại rau phổ biến ở nước ta: rau ngót, rau muống, rau rền, xà lách… có nhiều vitamin C và caroten Các loại quả chín như chuối, đu đủ, cam, xoài… cũng rất cần thiết cho bà mẹ Nếu có điều kiện, nên ăn thêm quả hằng ngày

Trong thời gian có thai, cho con bú, nếu người mẹ được sự quan tâm, chăm sóc chu đáo của gia đình và xã hội, được sự theo dõi đầy đủ của nhân viên y tế, đó

là nguồn động viên giúp họ yên tâm, phấn khởi, tin tưởng sinh đẻ được mẹ tròn, con vuông và nuôi con có nhiều sữa, con sẽ khỏe mạnh ít ốm đau, bệnh tật

+ Phòng chống thiếu máu dinh dưỡng khi có thai:

Thiếu máu là bệnh dinh dưỡng hay gặp ở phụ nữ có thai, đặc biệt là ở những người đẻ dày và ăn uống thiếu thốn

Bệnh thiếu máu có ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe cả mẹ lẫn con Đối với mẹ: người mẹ thiếu máu thường mệt mỏi, chóng mặt, khó thở khi gắng sức, khi đẻ có nhiều rủi ro Tỉ lệ tử vong khi đẻ ở những người mẹ thiếu máu cao hơn hẳn ở bà mẹ bình thường Do đó người ta coi thiếu máu là một yếu tố nguy

cơ trong sản khoa

Đối với con: thiếu máu thường gây tình trạng đẻ non và tử vong sơ sinh cao Thiếu máu dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh thường là do mẹ bị thiếu sắt nên lượng sắt

dự trữ của cơ thể trẻ thấp

Ăn uống hợp lí là biện pháp phòng chống bệnh thiếu máu tốt nhất, các thức

ăn có nhiều chất sắt là các loại đậu đỗ, các loại rau xanh (rau ngót, rau rền, rau khoai, rau bí…), các loại phủ tạng như tim, gan, thận…

Bổ xung viên sắt: Ngay từ khi bắt đầu có thai, tất cả các bà mẹ nên uống viên sắt với loại viên có hàm lượng là 60mg sắt nguyên tố ngày uống một viên trước khi ngủ Uống liên tục trong suốt thời kì có thai đến 1 tháng sau khi sinh Để tăng quá trình chuyển hóa và hấp thu sắt, cần tăng cường vitamin C, do đó cần ăn

đủ rau xanh và quả chín

Câu 3: Chăm sóc trẻ ở các độ tuổi khác nhau?

- Giai đoạn trẻ sơ sinh đến 6 tháng tuổi:

+ Dinh dưỡng

Trong những tuần đầu, tháng đầu thức ăn của trẻ hết sức tinh khiết, sạch sẽ

vô trùng Thời kì này sữa mẹ là thức ăn lí tưởng của bé Nuôi con bằng sữa mẹ có

3 lợi chính: dinh dưỡng tốt, tạo miễn dịch bảo vệ bé, tạo mối liên hệ mật thiết giữa

mẹ và con Bên cạnh đó còn có cái lợi về kinh tế qua việc giảm chi phí gia đình vì không phải mua sữa ngoài Trẻ nuôi bằng sữa mẹ thường có chỉ số thông minh cao hơn trẻ nuôi bằng sữa nhân tạo

- Người mẹ cần cho con bú càng sớm càng tốt ngay sau khi sinh để trẻ được tiếp nhận sữa non là loại sữa được tiết ra trong vú mẹ từ trước khi sinh nở Sữa non

có nhiều yếu tố, giúp trẻ tránh được nhiều bệnh nhiễm trùng ( các globulin miễn dịch lactoerrine, Asozyme, Acide folique… các loại thực bào, lympho T và B…)

Cách cho con bú:

Trang 6

- Người mẹ cần giữ vệ sinh núm vú, lau rửa sạch trước khi cho con bú.

- Bé phải ngậm núm vú sâu vào đến gần hết quầng đậm quanh núm vú

- Khi bú để cằm của bé tì vào vú mẹ, ngực và chân bé tì vào bụng mẹ, mẹ

ôm bé vào lòng

- Khi bắt đầu bú thì sữa trong giàu chất lactose và nước, sau đó sữa đặc lại

và chất béo trong sữa tăng gấp 4 lần Do vậy nên cho bé bú hết từng bên vú một ròi mới chuyển sang vú bên kia nếu bé chưa no hoặc mẹ ít sữa

- Một ngày nên cho trẻ bú từ 6 đến 8 lần

Các bà mẹ không nên quá lo lắng sợ rằng mình không đủ sữa cho con bú mà vội vàng cho bé bú bình như vậy sẽ làm cạn dần nguồn sữa mẹ đáng quý Nếu trẻ vẫn lên cân ăn ngủ đều đặn, phân đi vàng tươi thì tức là bé bú đủ Có thể đến tuần thứ 3 sau khi sinh mẹ mới có sữa đầy đủ chất lượng và số lượng với điều kiện là phải cho bú mẹ hoàn toàn

Nếu cho trẻ bú bình: vì một lí do nào đó thì bình sữa cần phải được chuẩn

bị vô trùng bằng cách đun sôi trong 15 phút, pha sữa bằng nước đun sôi để nguội ( hơi ấm ) Núm vú phải được đục lỗ vừa phải để trẻ mút dễ dàng, dòng sữa không quá ít để trẻ mút khó khăn và không quá nhiều để trẻ nuốt không kịp, dễ sặc

Sau khi bé bú xong hoặc trong lúc đang bú thấy bé khó chịu thì nên dừng lại giúp bé ợ hơi bằng cách giữ thẳng lưng cho bé, vỗ nhẹ lưng và bé có thể ợ ra một ít sữa

- Phần lớn trẻ trước 6 tháng tuổi chưa có nhu cầu ăn bổ sung Trẻ chỉ được cho ăn bổ sung trước 6 tháng tuổi nếu trẻ vẫn đói sau khi bú hoặc không tăng cân tốt Nếu trẻ dưới 6 tháng tuổi thì phải tư vấn cho bà mẹ về bú mẹ hoàn toàn và làm thế nào để trẻ nhận được đủ sữa mẹ

Nếu trẻ không được bú sữa mẹ thì cho trẻ ăn đủ sữa thay thế đến 6 tháng tuổi hơn là cho trẻ ăn bổ sung sớm

+ Cách cho ăn dặm:

Không nên quan niệm sai lầm rằng chỉ sử dụng nước hầm xương, thịt, nước rau củ, quả mà nên cho trẻ ăn cả phần thịt đã ninh, cá, rau xanh và nhất là dầu mỡ Cần chú ý lựa chọn thức ăn tươi mới tốt, chế biến hợp vệ sinh, có như vậy mới không làm trẻ bị rối loạn tiêu hóa và việc ăn dặm mới có tác dụng cung cấp đủ năng lượng và các vitamin cho trẻ phát triển

Các bà mẹ nên kiên nhẫn tập cho bé ăn từ loãng đến đặc, từ ít đến nhiều Nếu bé không chịu ăn thì đành lùi lại 1 – 2 lần rồi bắt đầu lại., không nên cưỡng ép

bé ngay

Những thức ăn để bé tập ăn: chuối, đu đủ, xoài chín, khoai tây nấu nhừ hoặc sữa

Khi mới tập cho bé ăn thì không nên quan tâm đến chất lượng từng bữa + Giấc ngủ:

Giấc ngủ rất quan trọng trong những năm tháng đầu đời, chính trong giấc ngủ cơ thể trẻ phát triển về mọi mặt

- Trẻ sơ sinh thường ngủ từ 16-18 tiếng/ngày Ngủ không sâu, thức rồi lại ngủ Trong thời gian một tháng đầu trẻ khóc mỗi ngày cùng một giờ, đêm có thể

Trang 7

khóc không dỗ được là do liên quan đến những rối loạn chuyển tiếp để trẻ có nhịp ngủ và thức

- Sau 3 tháng tuổi, trẻ ngủ say hơn và ngủ nhiều hơn trong đêm, từ 1012 giờ, ban ngày từ 3 đến 7 giờ Những cơn khóc không hiểu được đã ít hơn, cân bằng về giấc ngủ còn tùy thuộc vào từng trẻ

+ Vệ sinh cho bé:

- Nên vệ sinh cho trẻ tắm hằng ngày vào một giờ cố định

- Chuẩn bị nơi bé tắm được ấm áp (22 25 độ C) vì trẻ rất dễ bị lạnh

- Không rời trẻ trong lúc tắm dù chỉ một giây

- Chú ý vệ sinh những khe nếp gấp của trẻ và lâu khô sau khi tắm( nhất là rốn chưa rụng)

- Mẩu dây rốn sẽ tự rụng sau 10 ngày, nếu thấy có hiện tượng đỏ, chảy mủ, mùi khó chịu thì cần đi khám bác sĩ ngay

- Nên thay quần áo cho bé luôn để tránh cho bé bị khó chịu khi đái ướt hay khi bé đi ngoài

- Quần áo cho bé nên rộng rãi, chất liệu vải mềm

- Chú ý cắt móng tay cho bé để tránh hiện tượng có thể bé cào vào mặt + Mọc răng:

Vào cuối tháng thứ 6 có thể mọc những chiếc răng sữa đầu tiên ( răng cửa)

Có thể kèm theo mọc răng là hiện tượng kém ăn, sốt… đi tướt Do vậy các bà mẹ chớ nên hốt hoảng

Tiêm phòng theo lịch quy định

- Giai đoạn trẻ từ 6 đến 1 năm tuổi:

+ Dinh dưỡng:

- Cho trẻ bú theo yêu cầu và cho ăn bổ sung 3 đến 4 lần / ngày Nếu trẻ không bú mẹ thì có thể bú bình 5 lần/ ngày

- Trẻ đã quen dần với thức ăn mới Trẻ có thể ăn những miếng nhở, rau, đậu, trái cây nghiền nhừ hoặc bé có thể gặm một mẩu bánh quy nhỏ, nhưng cần theo dõi

- Vào tháng thứ 12 trẻ có thể ăn thức ăn nghiền chứ không cần xay vì bé có thể nhai Có thể cho bé ăn thịt cùng với rau, đậu nấu, nghiền nát Trẻ muốn tự đưa thức ăn vào miệng

- Các bà mẹ nên chú ý khoảng cách giữa các bữa ăn để cho trẻ có cảm giác ngon miệng khi ăn mà không phát sợ khi nhìn thấy bát bột

- Thay đổi bữa ăn luôn cũng làm cho bé thích ăn hơn

- Không nên cho bé ăn quá nhiều chất béo, đạm, đường hoặc cho bé dùng quá nhiều các loại vitamin làm bé không muốn ăn

+ Giấc ngủ:

- Ban đêm trẻ ngủ sâu từ 10 đến 12 tiếng Ngủ trưa khoảng 2 giờ

+ Mọc răng:

- Trẻ tiếp tục mọc những chiếc răng sữa ở nhóm răng cửa Bố mẹ nên dùng khăn mềm làm vệ sinh răng lợi cho bé hằng ngày

Trang 8

- Để phòng được các bệnh truyền nhiễm Cần phải tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch

- Giai đoạn trẻ từ 1 đến 3 tuổi:

+ Dinh dưỡng:

- Ăn 4 bữa/ ngày

- 18 tháng trẻ uống được sữa bò tươi Thức ăn cho trẻ hằng ngày cần được thay đổi có thể cho trẻ ăn các thức ăn không nghiền Trẻ ăn một mình khá sạch và dùng được thìa, bắt đầu uống bằng cốc

- 2 tuổi trẻ có thể ăn một mình một cách vụng về, có trẻ kén chọn thức ăn và

có những món ăn ưa thích riêng Đến 2 tuổi rưỡi trẻ thích ăn những món ăn người lớn và không muốn ai xúc cho ăn Đến khi 3 tuổi trẻ tự ăn cùng toàn gia đình

+ Giấc ngủ:

Trẻ ngủ 10 đến 12h trong đêm và 2 giờ vào buổi chiều

+ Răng:

Tập cho trẻ đánh răng khi trẻ được 2 tuổi hay 2 tuổi rưỡi Mẹ chọn cho con bàn chải nhỏ và mềm Lúc đầu không cho trẻ dùng kem đánh răng Hướng dẫn cho trẻ đánh răng từ dưới lên trên, từ ngoài vào trong và đánh một lúc lâu Không nên cho trẻ ăn ngọt trước khi đi ngủ

Nên tiêm phòng những bệnh như quai bi, thủy đậu, viêm não, viêm màng não…

- Giai đoạn trẻ từ 3 đến 6 tuổi:

+ Dinh dưỡng:

Trẻ ăn như người lớn nhưng ít hơn, có thể ăn và uống một mình gọn gàng Trẻ từ 3 đến 6 tuổi cần 100g thịt hoặc cá mỗi ngày ( nên nhớ 50g thịt = cá = 1 quả trứng mỗi ngày) Rau và trái cây là rất cần thiết ( nên cung cấp đủ trong 2 bữa ) Trong giai đoạn này canxi vẫn rất cần thiết cho trẻ, do vậy nên cho trẻ uống sữa hoặc ăn các chế phẩm từ sữa Bên cạnh đó nên hướng dẫn khẩu vị cho trẻ, không nên cho ăn đồ ngọt trước bữa ăn chính dễ gây ra chán ăn

+ Giấc ngủ:

Trẻ ngủ đêm sâu hơn từ 10 đến 12 giờ Giấc ngủ trưa kéo dài từ 1 đến 2 giờ Song có một số trẻ không ngủ trưa

+ Răng:

Trẻ có 20 răng sữa và khi trẻ được 6 tuổi trở đi thì những chiếc răng sữa đầu tiên bắt đầu lung lay và sẽ rụng đi Giai đoạn này bố mẹ cần chú ý đưa trẻ đi khám

và nhổ răng đúng lúc, tránh để lung lay không nhổ dễ bị mọc răng lẫy

Trẻ có thể đánh răng nhưng phải kiểm tra răng trẻ luôn và nên đi khám nha

sĩ ít nhất là 1 lần/ năm nếu không có gì đặc biệt

Câu 4: hãy nêu triệu chứng, nguyên nhân, phương pháp điều trị và cách phòng tránh một số bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ như: hội chứng tay chân miệng, tiêu chảy cấp, thủy đậu, quai bị ?

Trang 9

* Hội chứng tay, chân, miệng:

Hội chứng tay chân miệng là thuật ngữ chuyên môn nói về triệu chứng sốt

và xuất huyết các nút đỏ tụ máu trên mu bàn tay, trên mu bàn chân và bên trong miệng

Triệu chứng:

Sốt và xuất huyết, các nốt đỏ tụ máu trên mu bàn tay, bàn chân và bên trong miệng

Nguyên nhân:

Do nhiễm vi rút nhất là vào mùa hè, mùa thu và thường kéo dài vài ngày Điều trị:

Nên cách li trẻ mắc bệnh và cần theo dõi những biến chứng có thể xảy ra như viêm màng não Cho trẻ nghỉ ngơi dùng thuốc hạ sốt Hiện vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu của căn bệnh này

Cách phòng tránh:

- Nên cách li trẻ mắc bệnh và cần theo dõi những biến chứng có thể xảy ra như viêm màng não và các loại bệnh có liên quan đến não vì vậy nên đưa đi khám

và điều trị kịp thời

- Thường xuyên vệ sinh đồ dùng của trẻ: bình sữa, bát đĩa, đồ ăn… Nên khử trùng trong nước nóng để diệt khuẩn

- Rửa chân tay thường xuyên cho trẻ, kể cả đồ chơi Không cho trẻ nhai, ngậm đồ dùng hay đồ dùng có nguy cơ gây viêm nhiễm cao

* Tiêu chảy cấp:

Triệu chứng: Nôn, tiêu chảy, có thể đau bụng hoặc có thể sốt

Nguyên nhân:

- Đồ ăn, nước uống của trẻ bị nhiễm khuẩn Hoặc trẻ có thể bị nhiễm khuẩn

do tiếp xúc với phân của người bị bệnh

- Trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ nên hệ miễn dịch yếu và dễ mắc phải tiêu chảy khi tiếp xúc với đồ ăn dặm

- Trẻ bị mắc một số bệnh như sởi, suy dinh dưỡng…

Điều trị: Đi khám bác sĩ, thông thường chỉ cần điều trị tại nhà

- Chú ý đến hiện tượng mất nước của trẻ như khô mồm, khô mắt, ít nước mắt và cưa 1 đến 2 giờ đi ngoài một lần

- Cần bù dịch bằng cách cho trẻ uống nước oresol, nước gạo rang, cháo muối, nước súp cà rốt…

- Cho ăn thức ăn mềm, dễ tiêu, chia nhiều bữa

- Không cho uống nước đường, nước giải khát công nghiệp…

- Không nên dùng thuốc chống nôn, cầm ỉa, nhất là nhóm trẻ dưới 2 tháng tuổi

- Chỉ dùng kháng sinh khi có máu trong phân

Cách phòng tránh:

- Các biện pháp vệ sinh tiệt trừ thông thường dối với vi khuẩn và siêu vi khác như bú mẹ, cung cấp nước sạch, cải thiện vệ sinh môi trường không đủ bảo

vệ trẻ khỏi bị lây nhiễm tác nhân này Vì vậy, cách hiệu quả nhất để bảo vệ trẻ khỏi

Trang 10

sự tấn công của loại vi rút này chính là tiêm chủng ( tiêm hoặc uống vác-xin phòng bệnh tiêu chảy )

- Tiêm chủng cho tất cả trẻ em để phòng ngừa tiêu chảy cấp do virus Rota

Do bệnh thường gặp và nặng nhất ở trẻ nhỏ nên trẻ cần được cho uống ngừa càng sớm càng tốt Các bậc cha mẹ có con dưới 6 tháng tuổi, hãy đưa bé đến trung tâm y

tế dự phòng hoặc bệnh viện gần nhất để uống vác- xin ngừa virut Rota

* Bệnh thủy đậu:

Triệu chứng: sốt, mệt mỏi, kém ăn Phát ban dạng mụn phỏng nước nhỏ, sau 10 ngày đến 3 tuần nhiễm virus Bệnh lây truyền cho đến khi các nốt rộp khô hoàn toàn

Nguyên nhân: là một bệnh ngoài da do virus gây ra thường gặp ở trẻ em Tác nhân gây bệnh là virus varicella-zoster Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi Mùa đông xuân là thời gian bệnh thủy đậu sảy ra nhiều nhất

Điều trị: Chăm sóc tại nhà một tuần

- Kháng sinh phòng bội nhiễm, chống ngứa

- Thuốc sát khuẩn tại chỗ khi mụn nước vỡ

- Nước lá chân vít giúp giảm ngứa, nhanh se các nốt rộp

Cách phòng tránh: Tiêm vac-xin

Là căn bệnh làm trẻ ngứa ở những nơi nốt thủy đậu mọc.Các nốt đậu có thể lan vào miệng, họng và cơ quan sinh dục ngoài

* Bệnh quai bị:

Bệnh quai bị hay còn gọi là bệnh viêm tuyến mang tai truyền nhiễm

Triệu chứng: sốt, sưng quai hàm, đau một hoặc nhiều tuyến nước bọt mang tai Có thể bị sưng tuyên dưới lưỡi hoặc dưới hàm trên

Nguyên nhân: do một số loại virus như virus cúm, virus gây suy giảm miễn dịch ở người, tụ cầu khuẩn…

Điều trị:

- Chưa có một loại thuốc điều trị đặc hiệu, nên phải đưa trẻ đến cơ sở y tế để kiểm tra

- Cho trẻ nghỉ ngơi hợp lí: không cho vận động nhiều, tạm thời cho nghỉ học, ăn uống đầy đủ…Đặc biệt trong trường hợp trẻ bị sưng tinh hoàn cần được nghỉ ngơi tuyệt đối

- Cho trẻ ăn thức ăn mềm, nhiều chất dinh dưỡng, uống nhiều nước

Cách phòng tránh:

Cách li trẻ bị bệnh, không cho trẻ ra ngoài để tránh gió, ít nhất cho đến khi những vùng sưng tấy của trẻ giảm hoàn toàn Thời gian khoảng 9 ngày

Câu 5: Hãy nêu các nguyên tắc trong giáo dục trẻ em?

* Kỷ luật tích cực:

Là công cụ giáo dục để giáo dục và dạy trẻ khôn lớn, vì những việc này giúp bảo vệ trẻ trong quá trình phát triển Điều quan trọng đối với cha mẹ và thầy

cô giáo là có thể kỉ luật trẻ mà không cần phải dùng quyền lực và không làm trẻ tổn thương

Ngày đăng: 18/05/2021, 17:05

w