Làm rõ đối tượng của xã hội học, trong đó chủ yếu hướng vào trả lời câu hỏi xã hội học là gì? Từ đó phân biệt được với các bộ môn khoa học xã hội khác. Chỉ ra các đặc điểm tri thức và cơ cấu của bộ môn xã hội học. Làm rõ được chức năng, ý nghĩa của xã hội học, qua đó gợi ra sự cần thiết và khả năng vận dụng xã hội học vào lĩnh vực công tác.
Trang 1- Chỉ ra các đặc điểm tri thức và cơ cấu của bộ môn xã hội học.
- Làm rõ được chức năng, ý nghĩa của xã hội học, qua đó gợi ra sựcần thiết và khả năng vận dụng xã hội học vào lĩnh vực công tác
- Người học nắm bắt được các nguyên lý xây dựng tri thức xã hộihọc, đặc biệt là các nguyên lý quy tắc, nguyên lý chuẩn mực của xã hội học,
từ đó vận dụng một cách nghiêm túc và có hiệu quả vào các hoạt động củangành và lĩnh vực công tác của mình
Trang 2Xã hội học có nguồn gốc hình thành từ rất lâu, nhưng nó chỉ trở thànhmột môn khoa học độc lập vào khoảng những năm 30 của thế kỷ XIX Vàothời kỳ đó, đã xuất hiện hàng loạt những phát minh vĩ đại trong khoa học tựnhiên Đó là học thuyết về cấu trúc tế bào, quy luật bảo toàn và chuyển hóanăng lượng, học thuyết tiến hóa Darwin về sự phát triển của các loài trongsinh học Những thành tựu to lớn về lý thuyết cũng như thực nghiệm tronglĩnh vực khoa học tự nhiên đã cho phép loài người hiểu được một bức tranhtổng quát về thế giới như là một chỉnh thể thống nhất, liên hệ phổ biến vàvận động theo quy luật.
Bên cạnh những bước tiến đáng kể trong lĩnh vực khoa học tự nhiên
là những thành tựu trong lĩnh vực sản xuất, kinh tế và kỹ thuật công nghệ.Một loạt các máy móc công cụ đã được sáng chế và đưa vào sản xuất thaythế dần cho lao động thủ công, giúp con người tạo ra năng suất, chất lượng,hiệu quả lao động cao hơn Cuộc cách mạng công nghiệp cũng như quátrình công nghiệp hóa nông thôn đã mang lại những biến đổi đáng kể trongsản xuất, văn hóa xã hội, cũng như nhận thức của con người
Đáng tiếc là bên cạnh những thành tựu to lớn đạt được trong lĩnh vựcsản xuất, khoa học tự nhiên, kỹ thuật công nghệ thì lại có một sự lạc hậutương đối trong lĩnh vực khoa học xã hội Lối tư duy phiến diện, siêu hình,
tự biện, thoát ly khỏi thực tế sinh động của cuộc sống trong các nhà khoahọc xã hội vẫn còn khá phổ biến (đặc biệt là trong các nhà triết học tự biệnlúc bấy giờ) Thực trạng này đã làm cho các nhà khoa học xã hội khó có thểđưa ra được những kiến giải có sức thuyết phục trước những biến đổi mạnh
mẽ trong đời sống hiện thực cũng như những nhu cầu mới của nhận thứcđang đòi hỏi
2 Sự ra đời của xã hội học và một số đại biểu chính ban đầu
a Xã hội học của Auguste Comte (1798-1857)
Trang 3Auguste Comte là nhà toán học, vật lý học, thiên văn học, nhà triếthọc, nhà cải cách xã hội Pháp Từ 1817-1824, ông là thư ký riêng của SaintSimon, là một trong những người sáng lập ra chủ nghĩa thực chứng, làngười đầu tiên (vào năm 1838) đã đưa thuật ngữ “xã hội học” vào hệ thốngngữ vựng của khoa học xã hội Ông đã nhận thức được những hạn chế trongcác khoa học xã hội lúc bấy giờ và là người có công “tách” tri thức xã hộihọc ra khỏi triết học, tạo tiền đề cho việc hình thành một khoa học mới - xãhội học với tư cách là một khoa học độc lập Tư tưởng chủ yếu trong xã hộihọc của Comte là sự đoạn tuyệt dứt khoát với lối tư duy tự biện thuần túy vàđưa vào trong bản thân nó những tri thức thực chứng.
Theo Comte, các nhà xã hội học cần phải tôn trọng các sự kiện, phải
áp dụng các kiến thức chính xác do khoa học tự nhiên mang lại, đồng thờiphải đặt sự nghiên cứu trong mối quan hệ chặt chẽ với cái chỉnh thể Comtecho rằng, cần phải đưa vào trong môn khoa học mới này những phươngpháp nghiên cứu tương tự như những phương pháp của khoa học tự nhiên;
từ đó mà có thể đo lường, lượng hóa được các hiện tượng xã hội dưới dạngcác đại lượng, con số, chỉ báo
Bên cạnh những lập luận khoa học mới mẻ nói trên, Comte vẫn chưahoàn toàn thoát khỏi những hạn chế nhất định trong thời đại mình Tuynhiên, với những cống hiến của ông cho một ngành khoa học mới, các nhàkhoa học sau này đã suy tôn Comte như là “ông tổ” đầu tiên của xã hội học
b Xã hội học của Emile Durkheim (1858-1917)
Khác với Comte là người sáng lập ra xã hội học trên cơ sở “tách” trithức xã hội học ra khỏi triết học xã hội, Emile Durkheim cũng là một nhàkhoa học người Pháp đã sáng lập ra xã hội học trên cơ sở “tách” tri thức xãhội học ra khỏi tâm lý học cá nhân
Trang 4Xã hội học của Durkheim là sự tiếp tục một cách tự nhiên, song độclập với xã hội học thực chứng của Comte Trọng tâm trong lý thuyết xã hội
học Durkheim là các sự kiện xã hội (Social facts) và những giải pháp về
trật tự xã hội, cân bằng xã hội.
Ông coi sự đoàn kết, nhất trí và đồng cảm về những giá trị, chuẩnmực văn hóa cũng như việc duy trì sự tồn tại của các thiết chế xã hội, nhữngphong tục tập quán, những khuôn mẫu, quy tắc, tác phong chung của hành
vi là những hiện tượng xã hội mang tính chức năng chúng là cơ sở, nềntảng cho sự phát triển có trật tự và ổn định của mọi xã hội
Điểm đáng chú ý trong xã hội của Durkheim là ở chỗ ông đã quánhấn mạnh đến việc duy trì trật tự và ổn định xã hội đến mức dường như chỉbiết đến sự tiến hóa xã hội Ông đã chủ trương không làm thay đổi hoặc gâyxáo trộn quá mức các thiết chế và trật tự của các bộ phận trong xã hội Vìtheo ông, làm như vậy có thể dẫn đến sự rối loạn chức năng, thương tổn đến
sự phát triển, cân bằng và ổn định của xã hội
c Xã hội học của Herbert Spencer (1820-1903)
Herbert Spencer là nhà triết học người Anh - người đã đưa ra quanniệm tiến hóa luận hay thuyết tiến hóa xã hội - một chi nhánh của xã hộihọc buổi đầu tiên trên cơ sở những gợi ý về mặt phương pháp luận củathuyết tiến hóa Darwin trong sinh học
Cùng với Kidd, H.Morgan, Tylor Spencer đã dùng phép ngoại suytương tự giữa xã hội loài người và cơ thể sinh học mà đưa vào lý thuyết xãhội học những khái niệm như di truyền, biến dị, chọn lọc tự nhiên, thíchnghi, cơ cấu, chức năng, cạnh tranh Ông coi “xã hội như là một cơ thểsống”, “cơ thể siêu hữu cơ” (super - organicbodies) và sự tiến hóa như làkết quả của sự tiến bộ xã hội từ thời đại mông muội đến văn minh thông qua
Trang 5chọn lọc tự nhiên Sử dụng thuật ngữ xã hội học của Comte, song Spencer
đã định nghĩa xã hội học là khoa học về các quy luật và các nguyên lý tổ
chức của xã hội Ông coi nhiệm vụ của xã hội học là phải phát hiện ra các
quy luật, những thuộc tính chung, phổ quát và những mối liên hệ nhân quảgiữa các sự vật, hiện tượng, quá trình của xã hội
Một trong những luận điểm trung tâm trong xã hội học của Spencer là
quan điểm tiến hóa xã hội Ông coi mọi sự phát triển của xã hội loài người
đều phải tuân theo quy luật tiến hóa từ những xã hội nhỏ, đơn giản, chuyên
môn hóa thấp, không ổn định, dễ phân rã đến các xã hội có cơ cấu phức tạp,chuyên môn hóa cao, liên kết ổn định, bền vững
Ông đánh giá cao khía cạnh hiệu quả, tích cực của tự do cạnh tranhtrong xã hội tư bản Điều đáng tiếc là lý thuyết này lúc bấy giờ đã bị người
ta lạm dụng - coi nó là cơ sở lý luận biện hộ cho những cuộc cạnh tranhkhốc liệt trong xã hội tư bản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
d Xã hội học của Karl Marx (1818-1883)
Karl Marx là người sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử - cơ sởphương pháp luận cho mọi khoa học xã hội (trong đó có xã hội học) Ôngđưa ra quyết định luận xã hội - lịch sử, rằng tồn tại xã hội là nhân tố quyếtđịnh ý thức xã hội, phương thức sản xuất là yếu tố quyết định sự vận động
và phát triển của xã hội nói chung Một trong những luận điểm trọng tâmtrong lý thuyết xã hội học của Marx là: cá nhân đóng vai trò vừa là chủ thểcủa xã hội vừa là khách thể (chịu sự chi phối của xã hội) Mặc dù Marxchưa bao giờ tự xem mình là nhà xã hội học, song lý thuyết của ông đã baohàm một cách toàn diện các chiều cạnh của lý thuyết xã hội học cả khíacạnh cấu trúc xã hội và chức năng xã hội, cả khía cạnh hoạt động xã hội vàlịch sử xã hội Lý thuyết xã hội học của Marx không chỉ toàn diện, hệ thống
mà còn biện chứng; nó cho phép khắc phục được khá nhiều những nhược
Trang 6điểm của các nhà xã hội học đương thời; họ chỉ chú ý đến cá nhân mà bỏqua xã hội, chỉ nhấn mạnh đến xã hội mà coi nhẹ hành động cá nhân, hoặccác hạn chế khác như quá nhấn mạnh đến tiến hóa mà xem nhẹ cách mạng,quá coi trọng cân bằng, ổn định mà bỏ qua xung đột, đấu tranh.
Với một lý thuyết bao quát rộng lớn và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến
sự phát triển của nhiều trào lưu xã hội học đương thời như vậy, Marx đãđược hầu hết các nhà nghiên cứu cho rằng: ông và Auguste Comte, EmileDurkheim, Herbert Spencer, Max Weber là những nhà khoa học tiêu biểulớn, đại diện chính cho các trường phái xã hội học thế kỷ XIX và là ngườiđặt nền móng cho sự phát triển của xã hội học hiện đại
Tuy nhiên, lý thuyết của ông cũng đem lại những tranh luận gay gắt,bởi vì nó không chỉ là lý thuyết xã hội học thuần túy mà còn là triết học,kinh tế học, là khoa học về con người và những cương lĩnh chính trị tạo cơ
sở lý luận cho những biến đổi cách mạng trong xã hội
Trong điều kiện hiện nay (như lời di huấn từ trước của ông), lý thuyết
xã hội học nói riêng, toàn bộ lý thuyết khoa học của ông nói chung cầnđược tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầubức xúc của thực tiễn đang đòi hỏi
đ Xã hội học của Max Weber (1864-1920)
Xã hội học của nhà xã hội học người Đức - Max Weber cùng với xãhội học của Comte, Durkheim và Karl Marx đã hợp thành những hệ lý luậngốc, cơ bản cho mọi sự phát triển về sau của xã hội học Bất kỳ một luậngiải lý thuyết xã hội học nào cũng đều trực tiếp, gián tiếp đề cập hoặc liên
hệ, đối chiếu với những hệ lý thuyết này
Trọng tâm lý thuyết xã hội học của Max Weber là phạm trù hànhđộng xã hội với các khái niệm cơ bản khác như đạo đức tin lành, tinh thần
Trang 7chủ nghĩa tư bản, bất bình đẳng xã hội, phân tầng xã hội, tổ chức xã hội, bộmáy nhiệm sở (Bureaucracy), văn hóa, cơ may thị trường
Theo ông đối tượng nghiên cứu đích thực của xã hội học là hànhđộng xã hội, hiểu theo nghĩa là hành vi có ý thức chủ quan của con ngườihướng tới người khác, tính tới người khác
Max Weber đưa ra phạm trù “hiểu” hay “sự hiểu biết diễn giải”(Verstehen) để miêu tả, thông hiểu, phân tích và lý giải động cơ, ý nghĩa củacác hành động xã hội mà các cá nhân, các nhóm xã hội tiến hành
Theo Weber, việc giải thích khoa học bao hàm cả việc sử dụng phạmtrù “hiểu” một cách đúng đắn để thấy rõ động cơ đúng (những mẫu hình củahành động) là đối tượng cơ bản, đích thực của xã hội học
e Sự phát triển của xã hội học từ đầu thế kỷ XX đến nay
Sau Comte và Durkheim, Spencer, Marx, Weber, là sự phát triển nở
rộ của xã hội học châu Âu cùng với những thành tựu liên tiếp đạt đượctrong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, công nghệ Xã hội học đã ngày càngkhẳng định mình như là một khoa học độc lập Trong những năm đầu củathế kỷ XX, xã hội học đã đóng một vai trò đáng kể trong việc điều hòa quan
hệ giữa người và người trong sản xuất, trong việc nghiên cứu dư luận xãhội, tìm ra các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả của các quá trình quản
lý Tất nhiên, trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản, một số học giả tư sản đã
cố gắng sử dụng công cụ xã hội học để dung hòa hoặc cố gắng loại trừ cácmâu thuẫn, xung đột xã hội nhằm phục vụ và bảo vệ lợi ích cho nhà nước tưsản
Vào những năm 20 và 30 của thế kỷ này, việc nghiên cứu ứng dụngngày càng chiếm một vị trí to lớn trong xã hội học
Đến giữa thế kỷ XX, có hai khuynh hướng phát triển của xã hội học:
Trang 8khuynh hướng châu Âu và Mỹ Xã hội học châu Âu phát triển gắn liền vớitriết học xã hội, còn xã hội học Mỹ thì ngay từ đầu hình thành như một khoahọc về hành vi con người Những thành tựu chủ yếu của xã hội học Mỹ làhàng loạt lý luận cấp trung bình, đặc biệt là các lý luận về tổ chức, về cấutrúc xã hội, các nhóm nhỏ, hành vi tập thể, thông tin đại chúng địnhhướng vào việc giải quyết các vấn đề cụ thể Điều đó hoàn toàn phù hợp vớichủ nghĩa thực dụng ở Mỹ Xã hội học Mỹ mở ra những lĩnh vực mới, màtrước đây hoàn toàn chưa được nhắc tới Đến nay, người ta nhận thấy đang
có sự “Mỹ hóa” xã hội học châu Âu
Bên cạnh sự phát triển của các trào lưu xã hội học phương Tây, các disản phong phú trong xã hội học của Karl Marx đã được nghiên cứu, quántriệt và phát triển hơn nữa trong các tác phẩm của V I Lênin, Chủ tịch HồChí Minh, các nhà xã hội học Liên Xô (trước đây) nay là Nga, các nhà xãhội học Đông Âu, Việt Nam Người ta đã nhìn thấy những bước tiến đáng
kể cũng như sự đa dạng, phong phú trong sự phát triển của xã hội học ởnhững nước này Đặc biệt là đã xuất hiện một cách nhìn cởi mở, thôngthoáng trong sự phê phán, đánh giá và kế thừa những hạt nhân hợp lý trong
lý thuyết xã hội học của phương Tây Chính việc xuất hiện những yếu tốmới mẻ này đã cổ vũ và khích lệ sự phát triển hơn nữa trong các nhà xã hộihọc và đáng hứa hẹn những thành tựu đầy hứng khởi ở phía trước
Cho tới nay, số lượng các lý thuyết xã hội học chung cũng như cấp độ
lý luận chuyên biệt và cấp độ trung bình đã tăng lên rất nhiều Có thể chỉ ramột số các lý thuyết sau đây:
- Chủ nghĩa thực chứng (Positivism) mà đại diện là Augusste Comte
- Chủ nghĩa chức năng (Functionalism) - đại diện là Emile Durkheim
- Cấu trúc luận chức năng (Functional Structuralism) - đại diện là
Trang 9- Hành động xã hội (Social actionism) đại diện là Weber.
- Quyết định luận chức năng (Funtional Imperativism) đại diện làParsons, Smelser
- Lý thuyết hệ thống (Theory of System) đại diện là Parsons,Luhmann
- Lý thuyết phân tích lịch sử (Historical Analyse) đại diện là KarlMarx, Auguste Comte, Max Weber
- Sinh thái học người (Human Ecology) đại diện là Ducan, Schnore,Hawley
Cùng với sự phát triển về các cấp độ lý thuyết và sự hoàn thiện vàtăng lên đáng kể về các phương pháp nghiên cứu, điều tra xã hội học
Trước hết là, sự thống nhất ba cấp độ phương pháp nghiên cứu xã hội học: Cấp độ phương pháp luận, cấp độ phương pháp nghiên cứu và cấp
độ kỹ thuật nghiên cứu điều tra
Hai là, sự thống nhất giữa phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng, giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu
ứng dụng, giữa nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm, giữa cấp
độ đại cương và những nghiên cứu chuyên biệt
Trang 10Hiện nay xã hội học đã phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các nước như:
Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Bỉ, Oxtrâylia cũng như một số nước khác như Nga,Bungari, Tiệp Khắc, Ba Lan
Xã hội học bắt đầu được nghiên cứu ở nước ta từ những năm 70 củathế kỷ này, cho đến nay chúng ta đã có ba trung tâm lớn: Viện Xã hội họcthuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam; Viện Xã hội học và Tâm lý lãnhđạo, quản lý thuộc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh;Khoa Xã hội học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và một số
cơ sở nghiên cứu, đào tạo khác
Những trung tâm và các cơ sở nghiên cứu này đang từng bước trưởngthành và bước đầu đã có những đóng góp đáng khích lệ kể cả trên lĩnh vựcđào tạo cũng như các lĩnh vực nghiên cứu xã hội khá phong phú và đa dạngkhác
II ĐỐI TƯỢNG CỦA XÃ HỘI HỌC VÀ VỊ TRÍ CỦA XÃ HỘI HỌC TRONG HỆ THỐNG CÁC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
1 Đối tượng của xã hội học
Trên cơ sở tổng hợp, tuyển lựa kế thừa những kiến thức và nhữngphương cách kiến giải đã được tích lũy, nhiều nhà khoa học hiện nay đã đi
đến nhất trí cho rằng, xã hội học là một bộ môn khoa học nghiên cứu “mặt”
xã hội, khía cạnh xã hội của thực tại xã hội nói chung “Mặt” xã hội hiệndiện ở tất cả các lĩnh vực của thực tại xã hội Nó hiện diện trong các lĩnhvực chính trị, kinh tế pháp luật, giáo dục, gia đình, phụ nữ, thanh niên
“Mặt” xã hội được biểu hiện trên bốn khía cạnh sau:
Thứ nhất, những hình thức và mức độ biểu hiện của các hiện tượng
xã hội, các quá trình xã hội (bao gồm cả các hành vi, hành động, khuôn mẫu, tác phong, các chuẩn mực, giá trị phong tục, tập quán, thiết chế xã
Trang 11hội Có bao nhiêu hình thức biểu hiện của thực tại thì có bấy nhiêu vấn đề
xã hội học hướng vào nghiên cứu Tuy nhiên, điểm khác biệt độc đáo giữa
xã hội học và nhiều bộ môn khoa học xã hội khác còn thể hiện ở chỗ, nókhông chỉ đi vào nhận diện các hình thức biểu hiện của các hiện tượng xãhội, quá trình xã hội mà còn đo lường mức độ của các hiện tượng đó Đúngnhư Tony Bilton đã nhận định rằng, điểm khác biệt quan trọng nhất của xãhội học so với các khoa học xã hội khác không phải chỉ là chỗ nó nghiêncứu cái gì mà còn là nghiên cứu như thế nào, bằng những phương pháp nào
Là một khoa học xã hội non trẻ, xã hội học đã kế thừa được phươngpháp và công cụ nghiên cứu của khoa học tự nhiên, đã cải biến và khéo léo
sử dụng những phương pháp này vào việc tính toán, lượng hóa, đo lườngcác hiện tượng xã hội Cũng nhờ vậy mà những hình thức và mức độ biểuhiện của những hiện tượng xã hội, những quá trình xã hội đã được xã hộihọc chỉ ra một cách độc đáo và có sức thuyết phục cao
Thứ hai, xã hội học nghiên cứu những nguyên nhân, động cơ của những hành động xã hội, những biến đổi xã hội
Trong khi nhận diện hình thức, đo lường mức độ biểu hiện của cáchiện tượng quá trình xã hội, xã hội học còn đi vào nghiên cứu và tìm hiểunhững nguyên nhân, động cơ của những hành động xã hội, những biến đổi
xã hội Nó cắt nghĩa và trả lời các câu hỏi: Vì sao mà một số người nào đólại giàu có, thành đạt còn một số người khác lại rơi vào thất nghiệp, nghèokhổ; Vì sao một số người lại có hành vi tội phạm, số khác lại rơi vào nghiệnhút, mại dâm, cờ bạc, số đề; Vì sao một số người lại dẫn tới hành vi thamnhũng Vì lý do nào mà một số người nào đó lại chuyển đổi sản xuất - kinhdoanh hay có hành vi bạo loạn.v.v
Trong khi trả lời các câu hỏi này, xã hội học cũng luôn cố gắng chỉ ratrật tự tác động của các nhóm nguyên nhân, những động cơ của các hành
Trang 12động xã hội, những biến đổi xã hội; từ đó có thể rút ra những kiến nghị xácđáng về các giải pháp nhằm tác động vào xã hội theo chiều hướng tích cực,hiệu quả.
Thứ ba, chỉ ra đặc trưng xu hướng của những quá trình xã hội, từ đó đưa ra các dự báo xã hội
Xã hội học có ưu thế trong việc nắm bắt thực trạng xã hội Tuy vậy,chúng ta không nên quy xã hội học vào thực tại học Trên cơ sở nhận diệnđúng đắn thực trạng xã hội, xã hội học còn có khả năng vạch ra những đặctrưng, xu hướng, những triển vọng phát triển xa hơn nữa của những sự vật,hiện tượng, quá trình; nó có thể chỉ ra những dự báo xã hội về thất nghiệp,
về sự gia tăng nhân khẩu, sự mở rộng ra hay thu hẹp lại khoảng cách phânhóa giàu nghèo, sự gia tăng của tệ nạn xã hội (tệ nghiện hút, mại dâm, sốđề) hay những biến đổi của các thể chế chính trị nhất định nào đó Nó cũng
có thể đưa ra những dự báo về sự thành đạt hay đổ bể của một số doanhnghiệp Những dự báo này thật có ý nghĩa đối với quá trình quản lý vàkiểm soát xã hội
Thứ tư, chỉ ra những vấn đề mang tính quy luật của thực tại xã hội
và hành vi của quần chúng
Xã hội học không nghiên cứu những quy luật chung nhất của thực tại
xã hội Những quy luật này là đối tượng của triết học xã hội (chủ nghĩa duyvật lịch sử) Xã hội học cũng không nghiên cứu những quy luật đặc thù của
xã hội Những quy luật đặc thù của xã hội là đối tượng của những bộ mônkhoa học cục bộ về xã hội nghiên cứu (quy luật kinh tế do khoa học kinh tếnghiên cứu, quy luật chính trị do chính trị học nghiên cứu, quy luật giáo dục
do giáo dục học nghiên cứu, quy luật tội phạm do tội phạm học nghiêncứu ) Xã hội học chỉ hướng vào nghiên cứu những vấn đề mang tính quyluật thực tại xã hội mà thôi , những vấn đề mang tính quy luật này không
Trang 13nằm “gọn”, hay nằm “trọn vẹn” trong một lĩnh vực nào đó của thực tại, mà
nó nằm ở đường tròn nhờ đồng tâm với đường tròn lớn, nơi có sự giao nhaucủa các lĩnh vực khác nhau của thực tại
Điểm đáng lưu ý là ở chỗ, trong khi hướng vào nghiên cứu “mặt” xãhội, khía cạnh xã hội của thực tại xã hội trên tất cả các cấp độ: cá nhân,nhóm, cộng đồng, tổ chức xã hội , xã hội học luôn chú ý đến phương pháptiếp cận chỉnh thể - hệ thống, xem xét và khảo cứu một cách toàn diện cácnhân tố, các mối quan hệ, những khía cạnh về mặt cấu trúc, thiết chế, hệthống các giá trị, chuẩn mực cũng như xu hướng vận động, biến đổi của cáchành động xã hội và các quá trình xã hội
2 Vị trí của xã hội học trong hệ thống các khoa học xã hội và nhân văn
Xã hội học ngay từ khi ra đời đã là một trung tâm liên ngành khoahọc xã hội và nhân văn Trước hết đó là do đặc điểm đối tượng nghiên cứu.Chủ nghĩa thực chứng bị khuyết điểm lớn là quá chú trọng cấu trúc, chứcnăng khi tiếp cận hệ thống xã hội để rơi vào chủ nghĩa cấu trúc và chủ nghĩachức năng Song cấu trúc (và chức năng) mà nó xem xét là cấu trúc tổng thể(chức năng toàn diện), bao quát toàn bộ hệ thống các quan hệ xã hội (bất kể
đó là kinh tế, chính trị, hay tư tưởng, văn hóa ) Do đó, xã hội học thựcchứng đã phải tiếp cận đa ngành, sau đó là liên ngành khoa học xã hội, nhânvăn để tổng hợp toàn diện cấu trúc (chức năng) xã hội
Trường phái mácxít thì tiếp cận hệ thống xã hội toàn diện hơn, baoquát cả bốn chiều cạnh của hệ thống xã hội: 1) Cấu trúc xã hội; 2) Chứcnăng xã hội; 3) Hoạt động xã hội và 4) Lịch sử xã hội Một cách tiếp cận hệthống toàn diện như thế này không thể thành công nếu không có liên ngànhvới các khoa học xã hội và nhân văn
Trang 14Thực ra, đường phân ranh giữa xã hội học với các khoa học xã hội vànhân văn khác không được phân định hoàn toàn rạch ròi Theo một nghĩanhất định nào đó, có thể coi xã hội học vừa là một bộ phận của hệ thống
khoa học xã hội và nhân văn vừa là một trung tâm - liên ngành của các
khoa học xã hội và nhân văn.
- Xã hội học và triết học xã hội thực chất là một thể thống nhất, đặcbiệt trên bình diện cấu trúc lý thuyết khoa học Nói cách khác, triết học xãhội chính là bộ phận ứng dụng của triết học duy vật biện chứng vào xã hội,
nó chính là bộ phận ứng dụng một khi liên kết với xã hội học, phối hợpcùng với xã hội học cắt nghĩa những vấn đề của thực trạng xã hội và dự báotương lai Còn xã hội học lý thuyết khó thể có được tính thuyết phục nếukhông liên kết với triết học xã hội làm thành một cấu trúc lý thuyết thốngnhất Bởi vì, vấn đề cơ bản của triết học vận dụng vào xã hội là mối quan hệgiữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, đó cũng là vấn đề cơ bản của xã hộihọc
- Xã hội học và sử học chỉ khác nhau tương đối ở chỗ, nếu sử học chútrọng tổng kết lịch sử (cái đã qua) thì xã hội học chú trọng khảo cứu thựctrạng (cái đang diễn ra) Tương lai học thì chú trọng dự báo xu hướng vàxác định mục tiêu Nhưng do bản tính liên tục của thời gian, đặc tính kếthừa của biến đổi và phát triển, và cả quy luật biện chứng phủ định của phủđịnh cho nên xã hội học không chỉ phải dựa vào sử học mà phải là mộtthành phần quan trọng của tương lai học xã hội (dự báo xã hội) Thực tiễncho thấy, trong hiện tại có dấu ấn của lịch sử và có cả mầm mống của tươnglai cho nên xã hội học trên thực tế làm chức năng sử học (hồi cố) và cả chứcnăng tương lai học (dự báo)
Xã hội học đóng vai trò trung tâm liên ngành của các khoa học xã hội
và nhân văn không chỉ do đặc điểm đối tượng mà còn do đặc điểm phương
Trang 15pháp Phương pháp nghiên cứu đặc biệt là phương pháp thu thập, xử lýthông tin của xã hội học được coi như phương pháp của nghiên cứu khoa
học xã hội nói chung Trong Xã hội học đại cương, chẳng hạn như trong
cuốn Sociology của I Robertson, ta thấy có bốn phương pháp chủ của
nghiên cứu xã hội học, đó là: (1) Thí nghiệm, (2) Điều tra chọn mẫu, (3) Điền dã quan sát và (4) Phân tích nguồn tài liệu có sẵn Nếu so sánh với
sách chuyên khảo về phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội nói chung, ta
thấy có sự trùng khớp gần như hoàn toàn Chẳng hạn, cuốn The practice of
social Research của Earl Babbie(1) ta cũng thấy các phương pháp chủ yếucủa nghiên cứu khoa học xã hội nói chung bao gồm: (1) Thí nghiệm, (2)Điều tra chọn mẫu, (3) Điền dã, (4) Phân tích nguồn tài liệu có sẵn, (5)Đánh giá
Với sự phân tích như vậy, xã hội học vừa có sự hiện diện “một phần”của mình trong các khoa học xã hội và nhân văn, vừa đóng vai trò trung tâmliên ngành của các khoa học xã hội và nhân văn
III ĐẶC ĐIỂM CỦA TRI THỨC XÃ HỘI HỌC
1 Tri thức của xã hội học vừa có mặt khái quát, vừa có mặt cụ thể
Trước hết, phải thấy rằng tri thức của xã hội học cũng mang tính kháiquát Trong nghiên cứu những sự vật, hiện tượng, quá trình xã hội, xã hộihọc luôn hướng tới cái chỉnh thể, cái toàn bộ, cái hệ thống, nó nghiên cứumột cách khái quát các đặc trưng xã hội Một trong những nguyên tắc quantrọng của khảo sát, điều tra xã hội học là nghiên cứu chọn mẫu, tức lànghiên cứu những đơn vị xã hội mà những thông tin rút ra từ đó có khảnăng đại diện cho cả một tập hợp xã hội lớn (mà mẫu là một bộ phận ởtrong đó) Song đặc điểm độc đáo của xã hội học còn là ở chỗ, trong khi
Trang 16nghiên cứu, khảo sát, các sự vật hiện tượng xã hội, nó còn sử dụng một cách
có hiệu quả những phương pháp đặc trưng cho mình nhằm thu thập hàngloạt những thông tin, chỉ báo, đại lượng, con số sống động, chẳng hạn khicắt nghĩa về hiện tượng phân hóa, phân tầng xã hội, xã hội học không chỉdừng lại ở chỗ đưa ra những nhận định khái quát mà còn mô tả bằng nhữngđại lượng quan sát những số liệu thống kê, những ý kiến phong phú, cụ thểcủa từng cá nhân trong cộng đồng (thái độ, tình cảm, chính kiến, đánh giá,nguyện vọng, đề xuất, kiến nghị của họ)
2 Tri thức của xã hội học vừa có mặt định tính, vừa có mặt định lượng
Đặc điểm này có liên quan trực tiếp đến đặc điểm thứ nhất Tương tựnhư các khoa học xã hội khác, tri thức của xã hội học cũng có mặt định tính.Tức là nó cũng có một hệ thống các phương pháp tiếp cận nghiên cứu, cácphương pháp và kỹ thuật điều tra xã hội nhằm mang lại những thông tinđịnh tính như đưa ra một khái niệm làm rõ tính chất của một hiện tượngcũng như chỉ ra những nguyên nhân, động cơ, tình cảm, quan điểm, chínhkiến, những diễn biến tâm lý phức tạp, những quá trình chuyển đổi nhậnthức, phương hướng hành động của một cá nhân hay một nhóm xã hội nào
đó Song, bên cạnh cấp độ này, xã hội học còn có một hệ thống các phươngpháp và kỹ thuật nghiên cứu cho phép có thể đi vào đo lường các hiệntượng xã hội, lượng hóa các sự kiện xã hội dưới dạng các đại lượng con số,chỉ báo, tỷ lệ %
3 Tri thức xã hội vừa có cấp độ vĩ mô vừa có cấp độ vi mô
Xã hội học cũng có cấp độ nghiên cứu vĩ mô tức là nó hướng vàonghiên cứu, tìm hiểu những hiện tượng và quá trình xã hội có quy mô lớn.Một giai cấp, một tầng lớp, một đoàn thể, một đảng phái, một cộng đồng xãhội
Trang 17Khi đi vào nghiên cứu những đối tượng vĩ mô, xã hội học hướng vàokhảo cứu những bộ phận cơ bản và những mối quan hệ cơ bản giữa chúng,phân tích xem từng bộ phận cũng như những mối liên hệ đó biến đổi nhưthế nào.
Song hành với cấp độ vĩ mô, xã hội học cũng hướng vào nghiên cứunhững nhân vật xã hội, những nhóm xã hội nhỏ, cấp độ vi mô như một xínghiệp, một lớp học, một đơn vị công tác
Ở cấp độ vi mô, xã hội học đi vào nghiên cứu cấu trúc nhóm, nhữngvấn đề thuộc về vị thế, vai trò của người thủ lĩnh, người đứng đầu nhómcũng như của thành viên, những hành vi và hành động ứng xử cá nhân,những khuôn mẫu tác phong, những động cơ và ý nghĩa của những hànhđộng, sự tương tác qua lại giữa các cá nhân, cơ cấu tổ chức nhóm và sự biếnđổi nhóm
4 Tri thức của xã hội học vừa có cấp độ lý thuyết, vừa có cấp độ thực nghiệm
Xã hội học có một hệ thống lý thuyết khá phong phú và đặc trưng
Đó là một loạt các lý thuyết như thuyết hệ thống, thuyết chức năng, thuyếtlịch sử, thuyết phân tầng, thuyết sai lệch, thuyết đồng cảm, thuyết xungđột
Hệ thống lý thuyết này cung cấp khá đa dạng những giác độ tiếp cậnphân tích cũng như cách thức luận giải về những khía cạnh khác nhau củathực tại xã hội, mang lại những sắc thái độc đáo theo chiều cạnh của xã hộihọc
Bên cạnh cấp độ lý thuyết, xã hội học còn có cấp độ thực nghiệm.Cấp độ xã hội học thực nghiệm là việc nghiên cứu thu thập thông tin quaquan sát và thử nghiệm
Trang 18Thứ nhất, mục đích của xã hội học thực nghiệm nhằm tìm ra nhữngtri thức mới, những vấn đề có tính quy luật của những quá trình xã hội nào
đó Thứ hai, nó dùng để kiểm tra các giả thuyết xây dựng các mô hình xãhội hay các phương pháp nghiên cứu khoa học nhất định Tiêu biểu của cấp
độ này là mô tả các sự kiện thực nghiệm
5 Tri thức của xã hội học vừa có cấp độ đại cương vừa có cấp độ chuyên biệt
Cấp độ xã hội học đại cương là cấp độ cơ bản của hệ thống lý thuyết
xã hội học Đây là hệ thống tri thức chung, trừu tượng nhất của xã hội học,
nó bao gồm một hệ thống các khái niệm phạm trù và các phương phápnghiên cứu đặc trưng riêng cho khoa học xã hội học Nó cũng đồng thời xácđịnh giới hạn, phạm vi đối tượng nghiên cứu cũng như chức năng, nhiệm
vụ, khả năng ứng dụng những tri thức của xã hội học vào các lĩnh vực khácnhau của đời sống xã hội
Bên cạnh cấp độ đại cương, xã hội học còn có cấp độ chuyên biệt.Cấp độ chuyên biệt chính là “khâu” trung gian gắn lý luận xã hội học đạicương với việc nghiên cứu những hiện tượng xã hội cụ thể Nó chỉ giới hạn
sự nghiên cứu ở một lĩnh vực nhất định của thực tại xã hội
Bên cạnh hệ thống khái niệm, lý luận phương pháp chung của phần
xã hội học đại cương, mỗi một chuyên ngành xã hội học chuyên biệt lại cónhững lý luận, khái niệm phương pháp đặc thù riêng của mình
Hiện nay trên thế giới có gần 300 lĩnh vực xã hội học chuyên biệt,những chuyên ngành này đang đi sâu vào từng lĩnh vực của thực tại, gópphần làm phong phú hơn nữa tri thức của xã hội học cũng như những đónggóp có ý nghĩa đối với thực tiễn
6 Tri thức của xã hội học vừa có cấp độ cơ bản vừa có cấp độ
Trang 19ứng dụng
Tuy là một khoa học xã hội non trẻ, xã hội học cũng có cấp độ nghiêncứu cơ bản tức là khuynh hướng đi vào nghiên cứu bản thân nó, nhằm pháttriển và làm phong phú hơn nữa bản thân tri thức của xã hội học cũng nhưhoàn thiện hệ thống phương pháp nghiên cứu của nó
Mặt khác, điểm độc đáo của xã hội học so với nhiều khoa học xã hộikhác là ở chỗ, nó còn có cấp độ ứng dụng - tức là khả năng vận dụng những
lý thuyết, các phương pháp tiếp cận nghiên cứu, các phương pháp và kỹthuật điều tra xã hội học vào việc giải quyết những bài toán xã hội đặt ratrong hiện thực
IV NHỮNG NGUYÊN LÝ XÂY DỰNG TRI THỨC XÃ HỘI HỌC VÀ CHỨC NĂNG CỦA XÃ HỘI HỌC
1 Những nguyên lý xây dựng và phát triển tri thức xã hội học
Nguyên lý phát triển tri thức xã hội học có thể phân chia thành ba cấp
độ tương ứng với ba cấp độ lý luận và ba cấp độ phương pháp nghiên cứu
a Những nguyên lý quan điểm - tiếp cận chung
Nguyên lý duy vật
Là sự giải đáp duy vật mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học (vấn
đề về mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại) Thực chất của nguyên lý này là
sự giải thích mọi vấn đề của đời sống xã hội phải dựa trên cơ sở phát triểncủa phương thức sản xuất, của các điều kiện tồn tại xã hội, của toàn bộnhững quan hệ vật chất Chính những nhân tố vật chất, nhân tố kinh tế lànguyên nhân sâu xa suy cho cùng quyết định sự phát triển của xã hội nóichung của các hình thái chính trị, tư tưởng và tình cảm nói riêng
Nguyên lý về sự phát triển
Trang 20Nguyên lý này đòi hỏi phải xem xét xã hội cũng như các hiện tượng
và quá trình của nó như một cơ thể sống động, luôn vận động và phát triểnkhông ngừng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiệnđến hoàn thiện và nhìn chung là theo khuynh hướng đi lên
Nguyên lý tính hệ thống
Nguyên lý này đòi hỏi phải xem xét xã hội như là một khối thốngnhất, hoàn chỉnh, có cơ cấu và sự đan kết phức tạp bên trong Mỗi hệ thốngvừa là một khối thống nhất hoàn chỉnh, bao hàm ở trong nó những hệ thốngcon, đồng thời nó lại là một bộ phận của một hệ thống khác, có quan hệ qualại với các hệ thống khác và với môi trường xung quanh
Nguyên lý tính phản ánh
Là sự giải đáp một cách duy vật mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triếthọc, có nghĩa là hình thức tồn tại của hiện thực khách quan như thế nào thìcũng được phản ánh trong các hình thức của tư duy như thế ấy Còn cơ cấucủa đối tượng trong hiện thực khách quan như thế nào thì nó cũng đượcphản ánh trong cơ cấu của tri thức như vậy (không thêm, không bớt, không
tô hồng và cũng không bôi đen)
Nguyên lý về sự kết hợp giữa tính đảng, tính cách mạng và tính khoa học
Xã hội học đòi hỏi phải có thái độ khách quan, khoa học trong việcxem xét và lý giải các hiện tượng và các quá trình xã hội, việc vận dụng cáctri thức khoa học cũng như sử dụng các phương pháp và thể thức nghiêncứu khoa học cho phép nắm bắt một cách chính xác, đúng thực trạng xã hội,những vấn đề có tính quy luật của một quá trình xã hội nào đó Từ đó có thểgiúp các nhà quản lý, lãnh đạo đưa ra được những quyết định quản lý xácđáng có hiệu quả cao cho hoạt động quản lý Tuy nhiên, trong khi nhấn
Trang 21mạnh, tính khách quan, khoa học, nhà nghiên cứu cũng phải coi trọng tínhđảng, tính cách mạng Nếu không, sự nghiên cứu có thể sẽ rơi vào chủnghĩa tự nhiên, tùy tiện, chỉ quan tâm thu thập những tin tức rời rạc, vôhình, vô sắc, vô nghĩa, hoặc vội vàng, thiếu thận trọng, thiếu cân nhắc trongviệc công bố hoặc xã hội hóa một số những thông tin nào đó, những thôngtin lẽ ra chỉ nên thông báo ở diện hẹp hoặc chỉ dùng để tham khảo cho cán
bộ lãnh đạo, quản lý Kinh nghiệm thực tế đã mang lại cho các nhà nghiêncứu nhiều bài học sâu sắc về sự kết hợp này
b Những nguyên lý quy tắc - nghiên cứu khoa học
Mỗi trường phái, mỗi lý thuyết, mỗi cách tiếp cận, mỗi tác giả đềuđưa ra những quy tắc mà họ cần vận dụng để giải quyết vấn đề, nhiệm vụnghiên cứu nhất định Có thể nhắc tới một số loại quy tắc như quy tắc của
xã hội học thực chứng, quy tắc phân tích chức năng luận, quy tắc của xã hộihọc lý giải
Tương ứng với sáu lý thuyết xã hội học có sáu nhóm các quy tắcnghiên cứu Đó là nhóm các quy tắc của thuyết hành vi, thuyết hành động,thuyết hệ thống, thuyết lịch sử, thuyết chức năng và thuyết tương tác
Ví dụ: trong cuốn sách “các quy tắc của phương pháp xã hội học” củaEmile Durkheim, ông cho rằng, trong nghiên cứu xã hội học cần phải cónhững nhóm quy tắc sau đây:
(1) Nhóm quy tắc quan sát các sự kiện xã hội bao gồm quy tắc phântích một cách khách quan các sự kiện xã hội, nghiên cứu các hiện tượng xãhội trong bản thân chúng, tách khỏi những tình cảm, ý thức chủ quan,những định kiến có trước về sự vật hiện tượng xã hội
(2) Nhóm quy tắc phân biệt cái bình thường và không bình thườnggồm quy tắc số đông hay quy tắc thống kê trung bình và quy tắc lịch sử cụ
Trang 22thể Nhóm quy tắc này đặc biệt cần thiết trong nghiên cứu những hiện tượngsai lệch xã hội được sử dụng rất hiệu quả trong chuyên ngành xã hội học tộiphạm, xã hội học pháp luật.
(3) Nhóm quy tắc phân loại xã hội bao gồm quy tắc phân loại xã hộidựa vào việc xác định cấu trúc đơn giản hay phức tạp của xã hội, từ đây màhình thành việc phân tích cấu trúc của xã hội
(4) Nhóm quy tắc giải thích các sự kiện xã hội bao gồm: quy tắc nhậnbiết sự kiện xã hội, quy tắc tách nguyên nhân ra khỏi chức năng, quy tắc phimục đích luận, quy tắc tìm nguyên nhân xã hội bên trong các sự kiện xã hội,quy tắc tìm hiểu chức năng xã hội, quy tắc phân biệt quan hệ nhân quả vớiquan hệ thuần túy trình tự trước sau về mặt thời gian
(5) Nhóm quy tắc đưa ra bằng chứng trong nghiên cứu xã hội học baogồm quy tắc phát hiện sự biến đổi kèm theo, quy tắc có thể kiểm chứngđược các giả thuyết khoa học trong nghiên cứu xã hội học
Ngoài ra, là các quy tắc của phương pháp tiếp cận lý thuyết, quy tắccủa phương pháp xác định đối tượng nghiên cứu, quy tắc lựa chọn mẫunghiên cứu, quy tắc thu thập thông tin, quy tắc phân tích, xử lý thông tin và
xã hội hóa kết quả nghiên cứu , mà sau này các nhà xã hội học đã tiếp thu,phát triển và “cô đúc” lại một cách có hệ thống
c Những nguyên lý chuẩn mực nghiên cứu khoa học của xã hội học
Ở cấp độ nguyên lý chuẩn mực có hai khía cạnh: 1) Các nguyên lý chuẩn mực về bản thân tri thức xã hội học và 2) Những nguyên lý - chuẩnmực có tính chất quy phạm về hoạt động nghiên cứu xã hội học
Các nguyên lý chuẩn mực về tri thức xã hội học
Đó là những chuẩn mực đòi hỏi tri thức phải đảm bảo đáp ứng một
Trang 23loạt các tiêu chuẩn và yêu cầu đặc thù của xã hội học như sau:
+ Tri thức xã hội học phải khách quan: Đây là một trong những chuẩn mực được nhắc tới nhiều nhất trong khoa học Thực ra tính khách
quan trong xã hội học nói riêng, trong khoa học xã hội và nhân văn nóichung, phải được hiểu một cách tương đối vì nó còn có cả yếu tố chủ quancủa người nghiên cứu Mặc dầu vậy, tính khách quan cần được hiểu theonghĩa, một là, những tri thức xã hội học không phụ thuộc vào ý muốn chủquan của con người; hai là, tri thức xã hội học được coi là khách quan mộtkhi nó được phát hiện một cách giống nhau bởi các nhà nghiên cứu khácnhau, nhưng thực hiện phương pháp, thủ tục nghiên cứu giống nhau Hoặckhi lặp lại sự nghiên cứu, bằng những phương pháp và thể thức khoa họcđúng đắn, chúng ta sẽ nhận được những kết quả tương tự
+ Tri thức xã hội học phải lôgíc: Chuẩn mực này đòi hỏi tri thức xã hội học phải phù hợp với quy tắc lôgíc Các nhà xã hội học không nhất thiết
phải thuộc lòng các quy tắc lôgíc nhưng họ cần tránh đưa ra những tri thứcmâu thuẫn về mặt lôgíc
Giống như khoa học tự nhiên, xã hội học coi mọi sự vật, hiện tượng
xã hội xảy ra đều có nguyên nhân của chúng và biến đổi theo quy luật Xãhội học không những phát hiện tri thức trả lời câu hỏi cái gì đã xảy ra, đangxảy ra, sẽ xảy ra mà còn chỉ ra được nguyên nhân và các yếu tố thúc đẩyhay kìm hãm sự phát triển của hiện tượng đó
+ Tri thức xã hội học có tính khái quát: Chuẩn mực này đòi hỏi nghiên cứu xã hội học phải đi đến một nhận thức chung, một hiểu biết khái
quát về một nhóm, một tập hợp các sự kiện, hiện tượng tương tự nhau chứkhông phải một sự kiện, một hiện tượng đơn lẻ của hiện thực khách quan.Đây là một chuẩn mực cho thấy sự khác biệt giữa xã hội học và sử học Trithức sử học là tri thức về từng sự kiện cụ thể xảy ra Tri thức xã hội học cho
Trang 24biết một loạt các sự kiện tương tự đã xảy ra và có thể nhất định sẽ xảy ra.
+ Tri thức xã hội học phải cụ thể: Nếu chuẩn mực khái quát giúp ta phát hiện ra các quy luật, tính quy luật và thuộc tính của sự vật, hiện tượng
thì chuẩn mực “cụ thể” đòi hỏi tri thức đó đồng thời phải cụ thể để có thểthao tác hóa và nhận biết nội dung của nó trên thực tế Điều này không có gìmâu thuẫn vì mọi tri thức xã hội học đều phải bắt nguồn từ “trực quan sinhđộng” và phản ánh các đặc điểm, tính chất sinh động của hiện thực xungquanh Chuẩn mực này rất quan trọng vì liên quan tới yếu tố thực nghiệm,
đo lường nội dung của khái niệm nghiên cứu
+ Tri thức xã hội học phải có thể kiểm chứng được: Để tránh giáo điều và chủ quan duy ý chí, tri thức xã hội học phải có tính kiểm chứng tức
là có thể chứng minh đúng, sai, phải, trái thông qua các thông tin có thểquan sát, đo lường, tính toán được
+ Tri thức phải tiết kiệm: Chuẩn mực “tiết kiệm” còn gọi là quy tắc tiết kiệm đòi hỏi nhà xã hội học phải sử dụng ít nhất các yếu tố (còn gọi là
biến giải thích) để chỉ ra được những nguyên nhân của một sự kiện xã hộinhất định Điều này không những yêu cầu phải diễn đạt ngắn gọn, súc tíchtrong việc lý giải sự vật, hiện tượng mà còn đòi hỏi phải xác định chính xácnguyên nhân, hệ quả và các điều kiện ảnh hưởng tới mối quan hệ nhân quả
- Các nguyên lý - chuẩn mực về hoạt động nghiên cứu của xã hội học
Vì cả chủ thể lẫn khách thể của các cuộc nghiên cứu xã hội học đều
là những con người cụ thể với tất cả các đặc điểm tâm lý xã hội của mỗi cánhân, do vậy, cần phải có những nguyên lý - chuẩn mực về hoạt độngnghiên cứu khoa học quy định hành vi, ứng xử để đảm bảo không làm nguyhại tới các bên (các cá nhân, các nhóm và xã hội nói chung) trong nghiêncứu khoa học
Trang 25Những chuẩn mực này được thể chế hóa thành luật (ví dụ các điềukhoản của Luật Khoa học và Công nghệ)(1) và trở thành đạo đức nghềnghiệp vừa bảo đảm quyền lợi, nghĩa vụ vừa định hướng, điều chỉnh hành
vi, hoạt động nghiên cứu khoa học Dưới đây là một số nguyên lý - chuẩnmực cơ bản
+ Tinh thần tự nguyện tham gia của cá nhân - khách thể nghiên cứu:
là chuẩn mực đạo đức cơ bản nhất, quan trọng nhất của nhà nghiên cứu xã
hội học Tuân thủ nguyên lý - chuẩn mực này, nhà xã hội học phải đảm bảorằng, mọi cá nhân - khách thể hoàn toàn tự nguyện tham gia vào nghiêncứu Các cá nhân, nhóm, tổ chức hoàn toàn có quyền đồng ý hay khôngđồng ý tham gia vào bất kỳ khâu nào, giai đoạn nào, thời điểm nào của cuộcnghiên cứu Không thể vì bất kỳ lý do gì, nhân danh bất kỳ điều gì mà bắtbuộc, cưỡng chế cá nhân - khách thể phải trả lời câu hỏi hay cung cấp thôngtin hoặc làm điều này điều kia trong quá trình nghiên cứu
Thực hiện nguyên lý - chuẩn mực này không những đảm bảo quyềnlợi của cá nhân - khách thể nghiên cứu mà còn bảo vệ quyền lợi của chínhbản thân nhà xã hội học
+ Tính vô hại đối với cá nhân - khách thể nghiên cứu: là chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cơ bản của nghiên cứu xã hội học Mọi hành vi, hoạt
động và quá trình nghiên cứu phải bảo đảm không gây nguy hiểm đối với cánhân - khách thể nghiên cứu về các khía cạnh như thể lực, sức khỏe, tinhthần của họ Mặc dù trên thực tế các nhà xã hội học không dùng tới bất kỳhóa chất hay công cụ gì có thể gây nguy hại tới cá nhân nhưng vẫn cần lưu
ý tới những câu hỏi được coi là tế nhị hoặc có “vấn đề nhạy cảm”
+ Tính “khuyết danh” và bảo mật: để đảm bảo vô hại đối với cá
(1) Tương Lai, Xã hội học và những vấn đề của sự biến đổi xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997,
Trang 26nhân - khách thể nghiên cứu cần phải tuân thủ chuẩn mực đạo đức chuyên
môn là tính “khuyết danh” và tính bảo mật Thực ra, nhà xã hội học khôngcần đến thông tin về tên, địa chỉ của cá nhân - khách thể Cụ thể ai trả lời, aitham gia nghiên cứu không hề có ý nghĩa và giá trị khoa học nào bởi các kếtquả xử lý thống kê đối với thông tin thu được chỉ là những số trung bìnhcộng, tỷ lệ phần trăm, hệ số tương quan
Ngoài những nguyên lý mang tính chuẩn mực nêu trên còn có một sốnguyên lý - chuẩn mực khác được các nhà khoa học chia sẻ và đánh giá caonhư tính trung thực, tính công khai và dân chủ trong nghiên cứu xã hội học.Giống như mọi chuẩn mực khác trong xã hội, chuẩn mực nghiên cứu xã hộihọc có chức năng đánh giá, điều chỉnh và kiểm soát hoạt động khoa học.Hiểu biết và tuân thủ các chuẩn mực nghiên cứu xã hội học là hết sức cầnthiết để đảm bảo phát triển được tri thức khoa học xã hội và về sự nảy sinh,vận động và phát triển mối quan hệ giữa con người và xã hội
2 Chức năng của xã hội học
a Chức năng nhận thức
Xã hội học cung cấp một hệ thống các tri thức bao gồm hệ thống cáckhái niệm lý thuyết, các phương pháp tiếp cận nghiên cứu cũng như cácphương pháp và kỹ thuật điều tra xã hội học góp phần nghiên cứu, nắm bắtđược sâu sắc hơn, đúng đắn hơn thực trạng xã hội
Lý luận và kết quả của những công trình nghiên cứu thực nghiệm vàứng dụng của xã hội học đã góp phần bổ sung và hoàn thiện thế giới quancho các nhà nghiên cứu và các nhà lãnh đạo quản lý; nó cắt nghĩa một cáchđộc đáo những nguyên nhân, động cơ của những hành động xã hội cũngnhư các biến đổi xã hội Hàng loạt vấn đề trước đây chưa được đề cập tớihoặc bị né tránh thì nay đã được xã hội học luận giải, phân tích một cách có
Trang 27sức thuyết phục.
Khi đi vào nghiên cứu những quá trình xã hội, xã hội học luôn có xuhướng vạch ra những vấn đề mang tính quy luật của thực tại xã hội, luậngiải và làm sáng tỏ trạng thái và xu hướng, biến đổi trong tâm lý của quầnchúng, từ đó làm cơ sở tin cậy cho những quyết định quản lý
b Chức năng thực tiễn
• Chức năng “cầu nối”
Hoạt động nghiên cứu của xã hội học, đặc biệt là những hoạt độngđiều tra khảo sát có ý nghĩa như là “cầu nối” giữa các nhà khoa học, các nhàlãnh đạo quản lý, các nhà sản xuất kinh doanh với thực tiễn, cơ sở với cấpdưới, với cuộc sống với thị trường, với quần chúng nhân dân, chính từ đây
mà tạo ra một quy trình khép kín và hoàn chỉnh về sự vận hành xã hội Nócung cấp thường xuyên những thông tin ngược (feed back) từ cơ sở, từ thựctiễn lên các nhà lãnh đạo quản lý làm cho các nhà lãnh đạo, quản lý cậpnhật được thường xuyên những thông tin cần thiết, kịp thời phát hiện đượcnhững mâu thuẫn, xung đột hay những sai lệch xã hội từ đó mà tiến hànhnhững điều chỉnh cần thiết cho hoạt động quản lý
• Chức năng dự báo khoa học
Trên cơ sở của những kết quả nghiên cứu điều tra thực nghiệm, phântích lôgíc khách quan của các sự kiện, xã hội học có thể đưa ra các dự báokhoa học, làm sáng rõ triển vọng phát triển xa hơn nữa của các quá trình xãhội Xã hội học không chỉ nhận thức thực tại xã hội, không thể quy xã hộihọc về thực tại học, mặc dù xã hội học có ưu thế về mặt này; từ trong bảnchất của nó xã hội học cần thiết và có khả năng dự báo những xu hướngtrong tương lai
• Chức năng đưa ra những kiến nghị, đề xuất
Trang 28Bên cạnh và đồng thời với chức năng dự báo, xã hội học còn có thể
và cần thiết phải đưa ra những kiến nghị, đề xuất lên các cấp lãnh đạo quản
lý xã hội, góp phần vào việc nâng cao tính khoa học và tính hiện thực, khảthi của các chính sách, kế hoạch, chủ trương, biện pháp nhằm nâng cao hiệuquả của các quá trình quản lý
• Chức năng đánh giá
Xã hội học còn có thể được coi như là “công cụ” để đánh giá hiệuquả của công tác quản lý Với ý nghĩa này, xã hội học nói chung, đặc biệt làcác phương pháp và kỹ thuật điều tra xã hội học đã thực sự góp phần vàoviệc hoàn thiện công nghệ quản lý cho các nhà lãnh đạo và quản lý xã hội
c Chức năng giáo dục
• Thông qua những kết quả điều tra và thực nghiệm xã hội học, đặcbiệt là những kết quả đã được công bố trên báo chí, sách chuyên khảo haycác nguồn thông tin đại chúng khác, xã hội học đã góp phần tác động hếtsức có hiệu quả đến tư tưởng của quần chúng, cũng như có ý nghĩa giáo dụckhông nhỏ đối với quần chúng, cảnh báo cho quần chúng những điều nênlàm hay không nên làm; nó cũng giúp cho con người ý thức được một cáchđầy đủ hơn cả vai trò, vị trí cũng như sức mạnh sáng tạo, từ đó có nhữnghành vi thái độ và sự tự điều chỉnh những hoạt động của mình sao cho phùhợp với những quy phạm chuẩn mực và các hệ giá trị của xã hội, phát huyđược tính tích cực xã hội, khắc phục được các hành vi lệch lạc, đi chệchkhỏi quỹ đạo của sự phát triển
• Xã hội học cũng góp phần vào việc phát triển tư duy khoa học chocác nhà lãnh đạo quản lý, nâng tư duy ở trình độ thói quen, thông thường,kinh nghiệm lên trình độ tư duy lý luận, tư duy khoa học
• Xã hội học cũng đồng thời góp phần bồi bổ, rèn luyện kỹ năng quản
Trang 29lý lãnh đạo cho các nhà lãnh đạo, quản lý, tạo ra cho họ có một tác phong
cụ thể, sâu sát với cuộc sống, luôn bám sát và kịp thời theo dõi những trạngthái và xu hướng biến đổi trong tư tưởng và hành vi của quần chúng, và chỉ
ra những quyết định quản lý khi đã nắm bắt được đầy đủ những luận chứngkhoa học về nó
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Trình bày khái quát vài nét về sự phát triển lịch sử của xã hội học?
2 Xã hội học nghiên cứu cái gì? Phân biệt giữa đối tượng của xã hộihọc với đối tượng của triết học và một số bộ môn khoa học xã hội khác?
3 Trình bày các đặc điểm của tri thức xã hội học?
4 Trình bày các nguyên lý tiếp cận chung của xã hội học? Phân tích
7 Xã hội học có những chức năng gì? Phân tích ý nghĩa của nó?
DANH MỤC TÀI LIỆU HỌC TẬP
TÀI LIỆU BẮT BUỘC
1 Nguyễn Đình Tấn, Xã hội học, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội,
2005, chương 3 (tr 71 - 109)
2 Chung Á, Nguyễn Đình Tấn (chủ biên), Nghiên cứu xã hội học,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, chương 1 (tr 5 - 17)
Trang 30TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Đình Tấn (chủ biên), Xã hội học trong quản lý, Nxb Lý
luận chính trị, Hà Nội, 2004
2 Bùi Quang Dũng, Nhập môn lịch sử xã hội học, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, 2004
3 Lê Ngọc Hùng, Lịch sử & Lý thuyết xã hội học, Nxb Đại học Quốc
gia Hà Nội, Hà Nội, 2002
4 Tương Lai, Xã hội học và những vấn đề của sự biến đổi xã hội,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997
5 Hà Ngân Dung (chủ biên), Các nhà xã hội học thế kỷ XX, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001
6 Emile Durkheim, Các quy tắc của phương pháp xã hội học, Người
dịch: Nguyễn Gia Lộc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993
7 Rodney Stark: Xã hội học đại cương, Nxb Đại học Tổng hợp
Wahington, xuất bản lần thứ 7 (Trung tâm Xã hội học biên dịch năm 2001)
8 Rruce J Cohen, Terri L Orbuch, Xã hội học nhập môn, người dịch
Nguyễn Minh Hòa, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995
9 Tony Bilton, Kenvin Bonmett, Philip Jones, Michelle Stanworth,
Ken Sheard và Andrew Webster, Nhập môn xã hội học, người dịch: Phạm
Thủy Ba, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993
10 Hermann Korte, Nhập môn lịch sử xã hội học, người dịch:
Nguyễn Liên Hương, Nxb Thế giới, Hà Nội, 1997
11 G Endruweit và G Trommsdorff, Từ điển Xã hội học, Nxb Thế
giới, Hà Nội, 2002
12 Giddiens Anthony (1997) , Sociology, Polity Press, London
Trang 3113 Giddiens Anthony, Mitchell Duneier, Introduction to Sociology,3rd ed, New York, Lon don, 2000.
14 Ian Robertson (1987), Sociology, Third Edition, WorthPublishers, Inc, New York
15 N J Smelser (1988), Sociology, Third Edition, New JerseyPrentice Hall
16 Fifth Editon, Wasdswort Publihing, Belmont, California ADivision of Wadworth, Inc, 1989
Trang 32- Giúp người học nắm bắt được cách thức tổ chức một cuộc điều tra
xã hội học, xây dựng khung lý thuyết, giả thuyết nghiên cứu, bộ công cụnghiên cứu, lựa chọn và phối hợp các phương pháp trong mỗi cuộc điều tra
xã hội học cụ thể, cách thức chọn mẫu, phương pháp và kỹ thuật thu thập,phân tích, xử lý thông tin, kỹ năng viết báo cáo tổng hợp kết quả nghiêncứu
2 YÊU CẦU
- Người học nắm vững được lý luận chung về các phương pháp, sựthống nhất 3 cấp độ của các phương pháp và kỹ thuật điều tra xã hội họcđặc biệt là sự thống nhất giữa các phương pháp nghiên cứu định tính và cácphương pháp nghiên cứu định lượng cũng như một số các phương pháp và
kỹ thuật điều tra xã hội học cụ thể Từ đó có thể vận dụng một cách linhhoạt, sáng tạo vào việc nghiên cứu, khảo sát các vấn đề xã hội phục vụ hoạtđộng của ngành
- Người học nắm bắt được những kỹ năng và các thao tác cơ bản để
có thể độc lập thiết kế hoặc phối hợp với các cơ quan chức năng, tổ chứcnghiên cứu điều tra xã hội học, thu thập, phân tích, xử lý thông tin phục vụcông tác của ngành
Trang 333 NỘI DUNG (gồm 2 phần)
I PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA XÃ HỘI HỌC
1 Phương pháp nói chung
Theo nghĩa chung nhất, phương pháp là cách thức đạt được mục tiêu,
là hoạt động được sắp xếp theo một trật tự nhất định Cũng có thể hiểu,phương pháp là cách thức tiếp cận đối tượng nghiên cứu một cách có tổchức và có hệ thống
Theo định nghĩa triết học, phương pháp là phương tiện để nhận thức,
là cách thức tái hiện lại đối tượng nghiên cứu trong tư duy Trong quá trìnhphát triển của nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người đã hình thànhnên một số những phương pháp và những quy tắc chung của tư duy khoahọc như: quy nạp và diễn dịch; phân tích và tổng hợp; so sánh; thựcnghiệm; phân tích hệ thống - cấu trúc; phương pháp lịch sử lôgíc; phươngpháp đi từ trừu tượng đến cụ thể; mô hình hóa
Cơ sở của phương pháp là các quy luật khách quan của thực tại, bởivậy phương pháp gắn bó chặt chẽ với lý luận Hegel coi phương pháp là sựtóm tắt của nội dung, là sự vận động của nội dung Trên thực tế, tùy theomức độ khái quát và phạm vi ứng dụng của từng loại phương pháp màngười ta có thể phân loại thành các loại phương pháp khác nhau:
- Phương pháp chung nhất: là phương pháp của triết học duy vật biện chứng - đó là phương pháp mà mức độ khái quát và phạm vi ứng dụng
của nó rộng nhất, rộng vô hạn Nó khái quát cả tự nhiên, xã hội và tư duy,đồng thời những nguyên tắc phương pháp luận của nó cũng được ứng dụngcho mọi khoa học và các lĩnh vực của mọi hoạt động thực tiễn của conngười Cơ sở của các phương pháp này là các quy luật chung nhất của thựctại
Trang 34- Phương pháp chung: như phương pháp toán, phương pháp thống kê…, những phương pháp này tuy chỉ là phương pháp của những ngành
khoa học riêng biệt song phạm vi ứng dụng của nó lại khá rộng, nó có thểđược áp dụng sang cả một số ngành khoa học khác
- Phương pháp cụ thể: như phương pháp giải phẫu so sánh (trong giải phẫu học), phương pháp quang phổ (trong vật lý học), phương pháp
xây dựng mô hình giáo dục (trong giáo dục học)
Những phương pháp này được khái quát và ứng dụng chỉ trong mộtphạm vi hẹp của một ngành khoa học nhất định Tuy nhiên, trong sự pháttriển như vũ bão của khoa học, đặc biệt quá trình phân ngành, liên ngành vàhợp ngành của các khoa học trong một vài thập kỷ gần đây đã nảy sinhnhiều phương pháp mới cũng như việc sử dụng một cách rộng rãi cácphương pháp khoa học trong các ngành khoa học khác nhau Do đó, đườngphân ranh về mặt phương pháp giữa các khoa học cụ thể chỉ là tương đối
2 Phương pháp xã hội học
a Phương pháp xã hội học là sự thống nhất ba cấp độ
Phương pháp xã hội học là một tổng thể phức hợp các phương pháptiếp cận, các nguyên tắc tổ chức hành động, những thủ pháp thể thức thuthập xử lý, phân tích thông tin, dữ liệu về hiện thực xã hội
Phương pháp xã hội học không tách rời mà trái lại luôn gắn bó mậtthiết hữu cơ với lý luận xã hội học, đặc biệt rõ nét ở cấp độ phương phápluận
Tương tự với các cấp độ, lý luận xã hội học bao gồm các lý luậnchung, lý thuyết chuyên ngành, lý thuyết cụ thể (các lý thuyết nghiên cứuthực nghiệm) Phương pháp xã hội học là một thể thống nhất của ba cấp độ:1) Cấp độ phương pháp luận (được rút ra từ các lý luận chung); 2) Cấp độ
Trang 35phương pháp nghiên cứu điều tra tức là những phương pháp dùng để khảosát, thu thập xử lý, phân tích thông tin; 3) Cấp độ kỹ thuật nghiên cứunhững thể thức, kỹ năng, thao tác cụ thể trong các giai đoạn các khâu củacuộc điều tra nghiên cứu.
Do đứng ở vị trí trung tâm liên ngành các khoa học xã hội và nhânvăn và có chung một khách thể nghiên cứu là một thực tại xã hội nói chung,các phương pháp của xã hội học cũng được sử dụng một cách khá rộng rãitrong các khoa học xã hội chuyên ngành khác
Phương pháp luận xã hội học
Theo Từ điển xã hội học phương Tây hiện đại, phương pháp luận xãhội học là học thuyết về phương pháp nhận thức xã hội, là hệ thống cácnguyên tắc của triết học xã hội và lịch sử triết học nhằm giải thích conđường và luận giải cho những phương pháp để xây dựng, làm tăng trưởngtri thức xã hội học và sự vận dụng xã hội học vào việc khảo cứu xã hội
Phương pháp luận xã hội học theo nghĩa hẹp có thể được hiểu như là
lý luận về phương pháp dùng để tiếp cận nghiên cứu đối tượng, nó là sựtóm tắt, sự khái quát, sự tinh gọn những lý thuyết xã hội học khác nhaudùng làm cơ sở, làm “công cụ” chỉ dẫn mọi hoạt động nghiên cứu xã hộitheo nguyên tắc “lý luận xã hội học nào”, “phương pháp luận xã hội họcấy” Theo một nghĩa nào đó có thể hiểu phương pháp luận xã hội học làphương pháp tiếp cận nghiên cứu xã hội học
Mỗi loại phương pháp luận xã hội học đều được trực tiếp rút ra từmột lý thuyết xã hội học nhất định và có quan hệ gắn bó mật thiết hữu cơvới lý thuyết xã hội học đó Ví dụ, từ lý thuyết hệ thống mà chúng ta cóphương pháp tiếp cận hệ thống, từ lý thuyết chức năng mà chúng ta cóphương pháp tiếp cận chức năng, từ lý luận lịch sử cấu trúc mà chúng ta có
Trang 36phương pháp tiếp cận lịch sử cấu trúc
Phương pháp nghiên cứu điều tra xã hội học
Phương pháp nghiên cứu điều tra xã hội học là phương pháp nhằmthu thập, xử lý phân tích thông tin xã hội về đối tượng bao gồm các phươngpháp: phân tích tài liệu, phát vấn, phương pháp metric xã hội, phương phápthực nghiệm, phương pháp nghiên cứu trường hợp, phương pháp quan sát Tuy nhiên, cũng có thể sắp xếp các phương pháp trên vào hai nhóm: cácphương pháp nghiên cứu định tính và các phương pháp nghiên cứu địnhlượng
Cấp độ kỹ thuật nghiên cứu
Theo nghĩa chung nhất, kỹ thuật nghiên cứu là sự thực hiện phươngpháp ở mức độ của những thao tác đơn giản nhất song lại được hoàn thiện ởmức cao nhất
Kỹ thuật bao gồm toàn bộ và trình tự các thủ pháp, kỹ năng, thao tácthu thập và phân tích thông tin liên quan đến đối tượng nghiên cứu Tươngứng với ba khâu cơ bản trong nghiên cứu xã hội học là ba nhóm kỹ thuậtsau:
- Các kỹ thuật nằm trong khâu chuẩn bị bao gồm việc phân tích tàiliệu, luận chứng đề tài, xây dựng khung lý thuyết thao tác hóa các kháiniệm, lựa chọn các chỉ báo, các biến số nghiên cứu, thiết kế bảng hỏi, khảosát thử, xây dựng kế hoạch, phân bố thời gian và chiến lược tiếp cận đốitượng nghiên cứu
- Các kỹ thuật thu thập thông tin bao gồm kỹ thuật tiếp cận đối tượng,
kỹ thuật phỏng vấn ghi chép, quan sát, điều khiển cuộc thảo luận, kỹ thuật
sử dụng các phương tiện, máy móc, như máy ghi âm, máy ảnh, máy quayphim, điện thoại
Trang 37- Kỹ thuật xử lý và phân tích thông tin bao gồm thống kê, mô tả, giảithích, trình bày bảng biểu mô hình, lược đồ, biểu đồ, kỹ thuật lập trình toánhọc, sử dụng toán thống kê, máy vi tính và các máy móc kỹ thuật khác nhưmáy quét màu, máy Overhead, Projecter
b Mối quan hệ giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng trong phương pháp xã hội học
Nghiên cứu định tính và định lượng trong phương pháp xã hội học cóquan hệ biện chứng với nhau và là đặc trưng độc đáo tạo nên ưu thế nổi bậtcủa khoa học xã hội học trong hệ thống khoa học xã hội và nhân văn
Phương pháp nghiên cứu định tính là một phương pháp nghiên cứu
được tạo thành từ các phương pháp kỹ thuật chuyên môn dùng để tìm hiểusâu về phản ứng từ trong suy nghĩ, tình cảm, những thông tin về động cơ,niềm tin, quan điểm chính kiến, những diễn biến phức tạp trong nội tâm củacon người cũng như phát hiện ra những dự định, xu hướng ẩn nấp ở phíasau của các thái độ và hành vi ứng xử của những cá nhân hay nhóm xã hội
Về mặt lịch sử, phương pháp nghiên cứu định tính được hình thành từcác phương pháp nhân loại học, phê bình văn học, phân tích tâm lý Cáckhái niệm cơ bản được sử dụng trong nghiên cứu định tính là chủ đề, tìnhhuống, động cơ, mô típ, kiểu loại Dữ liệu thu được lưu lại dưới dạng ngônngữ, hình ảnh, âm thanh, các tài liệu ghi chép, sao chụp, quan sát được.Nghiên cứu định tính trả lời các câu hỏi tại sao? Tính chất thế nào? Cácphương pháp nghiên cứu định tính bao gồm: nghiên cứu thực địa, quan sáttham dự, phỏng vấn sâu, phân tích tài liệu, nghiên cứu trường hợp, nghiêncứu lịch sử so sánh
Phương pháp nghiên cứu định lượng được xây dựng và phát triển
trên cơ sở các tiền đề thực chứng luận trong khoa học Các yếu tố, các khái
Trang 38niệm cơ bản của nghiên cứu định lượng là biến, giả thuyết, đơn vị phân tích,đơn vị đo lường, dữ liệu bằng số, xử lý toán học đối với dữ liệu thu được vàgiải thích nhân - quả Nghiên cứu định lượng thường khảo sát những vấn đềthuộc về quy mô, kích thước, đại lượng, con số, tỷ lệ % Các phương phápnghiên cứu định lượng thường sử dụng là điều tra chọn mẫu, thống kê, quansát, phỏng vấn, thực nghiệm Mục đích cơ bản của nghiên cứu định lượng làkiểm tra giả thuyết khoa học Điều này khác với phương pháp nghiên cứuđịnh tính.
Sự thống nhất biện chứng giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng
Phương pháp nghiên cứu xã hội học là sự thống nhất biện chứng củanghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Việc phân biệt khía cạnhđịnh lượng và định tính chỉ mang tính chất tương đối Trên thực tế phươngpháp nghiên cứu nào cũng cần tìm hiểu những khía cạnh định lượng và địnhtính của các sự vật, hiện tượng Các thuộc tính, đặc điểm và tính chất của sựkiện xã hội có thể biểu đạt thông qua các chỉ số, các chỉ báo đo lường đượcbằng các con số Ngược lại, các đại lượng đo lường bao giờ cũng mangnhững ý nghĩa nhất định nào đó, nói lên một số đặc điểm, tính chất nhấtđịnh của sự vật hiện tượng ở hai phương pháp này, mỗi phương pháp đều
có những ưu điểm và những nhược điểm riêng Tuy nhiên, chúng có quan
hệ biện chứng với nhau có thể bổ sung những ưu điểm và khắc phục nhữngnhược điểm của nhau, làm phong phú cho nhau; từ đó giúp chúng ta thunhận và phân tích một cách chính xác, đầy đủ về hiện thực xã hội
Nghiên cứu xã hội học thực nghiệm thể hiện đặc biệt rõ nguyên tắc
về sự thống nhất biện chứng giữa nghiên cứu định tính và định lượng Đểchứng minh, kiểm tra những giả thuyết khoa học nào đó, nhà nghiên cứucần thu thập thông tin định lượng như: đo lường, tính toán, thu thập các đại
Trang 39lượng con số; mặt khác, tiến hành giải nghĩa, bình luận về các con số, sựkiện thu nhận được Do đó, trong quá trình nghiên cứu, điều tra xã hội họccần vận dụng và phối hợp một cách khéo léo, linh hoạt hai phương phápnày để đạt được hiệu quả cao nhất.
Trang 40Bảng 1. Phân biệt nghiên cứu định tính và nghiên cứuđịnh lượng
Nghiên cứu định tính Nghiên cứu định lượng
1 Cung cấp hiểu biết sâu 1 Đo mức độ phản ứng xảy ra
2 Trả lời các câu hỏi tại sao? 2 Trả lời câu hỏi: có bao nhiêu?
nhiều ít thế nào?
3 Nghiên cứu động cơ tư
tưởng
3 Nghiên cứu hành động sựviệc
4 Mang tính chủ quan 4 Mang tính “khách quan”
8 Quá trình diễn giải (làm rõ ý
nghĩa của thông tin định lượng)
8 Quá trình miêu tả
3 Một số phương pháp điều tra xã hội học
Có rất nhiều các phương pháp điều tra xã hội học đã được hình thành
và sử dụng một cách rộng rãi ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới.Đương nhiên, tỷ trọng của việc sử dụng các phương pháp hay sự nhấn mạnhnhiều hơn đến một phương pháp nào đó so với phương pháp khác lại tùythuộc vào truyền thống hoặc những nhu cầu cụ thể của từng quốc gia, khuvực khác nhau
a Phương pháp phân tích tài liệu
Là phương pháp sử dụng các kỹ thuật chuyên môn nhằm thu thập hoặc rút ra từ những nguồn tài liệu các thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu